ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THẾ HOÀN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TỈNH HÀ TĨNH
THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THẾ HOÀN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TỈNH HÀ TĨNH
THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
thị trƣờng.......................................................................................................... 10
1.1.3. Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nƣớc về hội nhập
kinh tế quốc tế .................................................................................................. 13
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI
ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ............................... 20
1.2.1. Tác động tới các quá trình phát triển xã hội ...................................... 20
1.2.2. Tác động tới các tổ chức chính trị xã hội. ......................................... 22
1.3. ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TÊ ........................................................................................................ 24
1.3.1. Sự phản ứng và thích ứng đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay ......................................... 24
1.3.2. Sự phản ứng và thích ứng đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Đoàn thanh niên ........................................................................................ 28
1.3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến nâng cao chất lƣợng hoạt động của Đoàn
thanh niên trong điều kiện hội nhập ................................................................ 31
Chương 2. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TỈNH HÀ TĨNH VÀ
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ............................................................... 33
2.1. TÌNH HÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TỈNH HÀ TĨNH .. 33
2.1.1. Bối cảnh tình hình kinh tế xã hội Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay ..... 33
2.1.2. Các chủ trƣơng, chính sách của tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế. ................................................................................................. 37
2.1.3. Các nội dung hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Hà Tĩnh
trong giai đoạn hiện nay và kết quả đạt đƣợc. ................................................. 39
2.2. ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TỈNH HÀ TĨNH TRONG QUÁ TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ................................................................... 47
2.2.1. Những tác động của hội nhập kinh tế quốc tê đến việc tập hợp
thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh. ................................ 47
3.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ Đoàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới .................................................................................................... 82
3.2.5. Tiếp tục mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên ................... 83
3.2.6. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn ................. 84
3.2.7. Tiếp tục đổi mới công tác tham mƣu, phối hợp, chỉ đạo của Đoàn .... 84
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, CHÍNH SÁCH ................................................... 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất
nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong
những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên
được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và
nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là
động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước. Được
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn
luyện, hơn 80 năm qua, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã không
ngừng phát triển, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng. Đoàn thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh và các thế hệ thanh niên Việt Nam đã vượt qua mọi
khó khăn thử thách, không ngại hy sinh gian khổ lập nên những chiến công
hiển hách, viết nên những trang sử vàng chói lọi, tô đẹp truyền thống hào
hùng của dân tộc Việt Nam.
Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các tầng lớp thanh niên đang tiếp bước cha
anh, nhận thức đúng tình hình và nhiệm vụ, nêu cao chí tiến thủ, phát huy
phẩm chất tốt đẹp và thế mạnh của tuổi trẻ, xung kích, đảm đương những việc
tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ
quản lý. Để vượt qua được khó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở thanh niên là phải tự
học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh
chính trị, giữ vững lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh với vai trò là chủ
thể tích cực, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH, chủ động hội
2
nhập kinh tế quốc tế. Với xu thế toàn cầu hoá, chúng ta đang chủ động đẩy
mạnh các quá trình mở cửa, hội nhập nhằm tranh thủ thời cơ, ngăn chặn, đẩy
lùi và vượt qua nguy cơ, thách thức do toàn cầu hoá đem lại. Đứng trước
những thời cơ, thách thức rất mới và phức tạp, thế hệ thanh niên của tỉnh phải
không ngừng rèn luyện trình độ và năng lực, tăng cường đổi mới và nâng cao
chất lượng hoạt động để đảm đương sứ mệnh cách mạng mà Đảng và nhân
dân tin tưởng giao phó. Để thực hiện được mục tiêu đặt ra cần đi sâu tiếp tục
nghiên cứu, đề ra những giải pháp phù hợp góp phần đẩy mạnh chất lượng
hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, cũng như chất lượng
nguồn lực cán bộ trẻ của tỉnh nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá trong giai đoạn mới.
Là một cán bộ Đoàn đang công tác tại cơ quan Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đã
trải qua công tác thực tiễn, đặc biệt đã được nghiên cứu học tập tiếp thu
những kiến thức lý luận khóa đào tạo Thạch sỹ của Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn, tác giả chọn đề tài: "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà
Tĩnh thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài
luận văn tốt nghiệp khoá học 2012 - 2014.
2. Tổng quan nghiên cứu đề tài
Đã có một số tác giả nghiên cứu một số đề tài về đổi mới và nâng cao
chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên, như đề tài: “Hội nhập quốc tế
được yêu cầu trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng hội nhập
kinh tế quốc tế của tỉnh Hà Tĩnh nói chung, đặc biệt là thực trạng công tác
Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi của tỉnh Hà Tĩnh trong việc tham gia vào
4
hội nhập kinh tế quốc tế, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà
Tĩnh thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu tầm quan trọng và một số quan điểm, chủ trương của Đảng
và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế.
- Làm rõ thực trạng và chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh trong hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn
hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị chính sách cơ bản nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh tỉnh Hà Tĩnh.
- Luận văn đặt trọng tâm ở thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thời kỳ hội nhập kinh
tế quốc tế của tỉnh.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình hiện nay và các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của
Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Hà Tĩnh trong thời kỳ hội nhập
kinh tế quốc tế.
thập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo...
* Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo
trong tạp chí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học...
* Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi
cục thống kê, Tổng cục thống kê…
* Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách… thu
thập từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
6
* Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí… mang tính đại
chúng cũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng
minh cho vấn đề khoa học.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích nghiên cứu tài liệu là tìm hiểu lịch sử nghiên cứu. Nội dung
phân tích bao gồm: phân tích nguồn, phân tích tác giả, phân tích nội dung và
tổng hợp tài liệu.
5.2.3. Phương pháp phi thực nghiệm
Là phương pháp thu thập thông tin dựa trên sự quan sát, quan trắc
những sự kiện đã hoặc đang tồn tại, trên cơ sở đó phát hiện quy luật của sự
vật hoặc hiện tượng. Trong phương pháp phi thực nghiệm, người nghiên cứu
chỉ quan sát những gì đã và đang tồn tại, không có bất cứ sự can thiệp nào gây
biến đổi trạng thái của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp phi thực nghiệm bao gồm: Quan sát khách quan, phương
pháp tổng hợp, điều tra tình hình đoàn viên, thanh niên tại địa phương.
6. Tính mới và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1. Tính mới của Đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu việc nâng cao chất lượng hoạt động đoàn
thanh niên trên một địa bàn cụ thể với những đặc điểm, tình hình riêng. Các
1.1. HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì
* Khái niệm:
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày
nay. Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không tham gia vào
quá trình này. Đối với các nước đang và kém phát triển (trong đó có Việt
Nam) thì hội nhập kinh tế quốc tế là con đường ngắn nhất để thu hẹp sự tụt
hậu so với các nước khác và có điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so
sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.
* Bản chất của Hội nhập kinh tế quốc tế:
Hội nhập là kết quả chính trị có chủ đích rõ ràng nhằm hình thành một
tập hợp khu vực để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường cho sản phẩm dịch
vụ nước mình. Do đó Hội nhập là hoạt động chủ quan của con người, nhằm
lợi dụng sức mạnh của thời đại để tăng cường sức mạnh dân tộc mình. Vì vậy
khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có những bước đi cụ thể được
tính toán cẩn thận, phải xây dựng lộ trình hội nhập phù hợp với khả năng và
lợi ích của dân tộc. Hội nhập giúp chúng ta tìm được chỗ thích hợp nhất trong
con tàu toàn cầu hóa, nhưng mặt khác toàn cầu hóa lại là con tàu chỉ chạy một
chiều và không neo đậu lại ở một bến nào cả, nên muốn không bị nhỡ hoặc bị
văng ra khỏi con tàu này, tức là tụt hậu thì quá trình hội nhập nói chung và
hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cần phải khẩn trương và có những quyết
định mạnh dạn.
9
1.1.2. Tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế khi phát triển nền kinh
tế thị trường
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm bùng nổ những thành
tựu trong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng
mới, công nghệ sinh học, tự động hoá..., thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế
lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng. Toàn cầu hoá nổi lên như một xu hướng
chủ đạo chi phối đời sống thế giới và hệ thống quan hệ quốc tế hiện đại.
Trước những biến đổi to lớn trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hoá, tất cả các nước trên thế giới đều tiến hành điều
chỉnh cơ cấu kinh tế, đổi mới chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới
dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thế quan, tạo thông thoáng cho việc trao đổi
hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động và kỹ thuật trên phạm vi toàn cầu, mở
đường cho kinh tế phát triển. Mỗi nước cũng tích cực tham gia các cơ cấu tổ
chức kinh tế - thương mại và tài chính - tiền tệ toàn cầu, thích ứng với “luật
chơi chung” của thế giới. Trong đó, việc tham gia hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại (GATT) trước đây và Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) hiện nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. WTO đảm nhận chức năng
điều tiết không chỉ thương mại hàng hoá mà còn mở rộng sang cả thương mại
dịch vụ, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ. Đến nay, WTO đã có 154 quốc gia thành
viên. Hiện kim ngạch thương mại của các nước thành viên WTO chiếm trên
90% tổng kim ngạch thương mại thế giới. WTO trở thành một tổ chức có quy
mô toàn cầu và là nền tảng pháp lý cho quan hệ kinh tế quốc tế, là diễn đàn
thường trực đàm phán thương mại, là thể chế giải quyết các tranh chấp thương
mại quốc tế mà buộc các quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải
tham gia một cách ngày càng đầy đủ.
Cùng với sự lan toả mạnh mẽ của toàn cầu hoá, quá trình hợp tác liên
kết khu vực cũng tiếp tục phát triển rất sôi động tại khắp các châu lục. Quá
trình này đã đưa đến sự xuất hiện của hàng loạt tổ chức hợp tác quốc tế về
11
kinh tế, thương mại. Trong số đó, đáng chú ý nhất là tiến trình nhất thể hoá
châu Âu với sự ra đời của Liên minh châu Âu (EU) với 27 nước thành viên;
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bao gồm 10 nước khu vực;
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) với sự tham gia
toàn cầu hoá. Vấn đề đặt ra với mỗi nước là không chỉ là nhận thức được tầm
quan trọng, mà điều quan trọng hơn là xây dựng được chiến lược, đưa ra được
những giải pháp thích hợp phù hợp với trình độ và nhu cầu phát triển của đất
nước mình.
Là một nước đang phát triển lựa chọn định hướng đi lên Chủ nghĩa xã
hội, Việt Nam ngày càng nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn cả thời cơ lẫn thách
thức đối với vận mệnh dân tộc trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại và toàn cầu hoá. Để có thể tận dụng được
thời cơ, vượt qua những thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển trên con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN), nước ta nhất thiết phải có cách thức hội nhập hiệu quả với khu vực
và quốc tế, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi
nước ta đã là thành viên của WTO, với tinh thần ngày càng chủ động đã và
đang tạo điều kiện thuận lợi để nước ta không chỉ thu hút nguồn vốn đầu tư,
kỹ thuật - công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến... từ bên ngoài mà
còn phát huy được lợ thế so sánh trong quan hệ hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh
vực. Tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
là đòi hỏi cấp thiết mang tính tất yếu đối với nước ta vì mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
1.1.3. Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh
tế quốc tế
Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc mở rộng
quan hệ đối ngoại nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước hoà vào trong
13
những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình. Cũng chính vì
vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân
hệ thống xã hội chủ nghĩa” [8].
Với tư cách là một thành viên của cộng đồng các nước XHCN, Việt
Nam đã tích cực phát triển quan hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của
các nước XHCN trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế. Sự phát triển
quan hệ hợp tác kinh tế với các nước XHCN mặc dù còn mang nặng tính bao
cấp nhưng góp phần rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng kinh tế, xã hội
và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, Việt Nam cũng từng bước cải thiện quan hệ hợp
tác kinh tế với nhiều nước tư bản chủ nghĩa dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng
có lợi. Quan hệ kinh tế của Việt Nam còn được thúc đẩy trong các cơ cấu hợp
tác đa phương giữa các nước đang phát triển như Phong trào không liên kết...
Tuy nhiên, quá trình hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ chiến
tranh lạnh do chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây, đặc biệt là nhân tố
hệ tư tưởng, nên còn những hạn chế nhất định, chưa đạt tới hiệu quả như
mong muốn.
Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải đưa nền
kinh tế nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng và phá thế bao vây
cấm vận kinh tế của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ, đường lối mở rộng
quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng được
bổ sung, hoàn thiện, đồng thời được thực hiện tích cực hơn.
Đại hội VI của Đảng ta (1986) với tầm vóc lịch sử lớn lao đã khởi
xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đồng thời mở ra bước ngoặt trong tư duy
và thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Xác định
phương hướng và nội dung của quan hệ kinh tế đối ngoại trong thời kỳ mới,
Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời
đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ
yếu là với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã
15
18
Đại hội IX đã bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối hội nhập kinh
tế quốc tế khi xác định: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo
tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm
độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh
quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường" [12]. Nhằm cụ
thể hóa đường lối "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", Bộ Chính trị đã ra Nghị
quyết 07- NQ/TW (27/11/2001) về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó làm rõ
hơn mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung và nhiệm vụ cụ thể của hội nhập
kinh tế quốc tế.
Về mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết 07 của Bộ chính
trị vạch rõ: "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường,
tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội năm 2001- 2010 và
kế hoạch 5 năm 2001-2005" [6].
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách
đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa rạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các
lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, tham gia tích vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [13].
Như vậy, Đảng ta đã có sự đổi mới về nhận thức trên vấn đề địch - ta,
đối tượng - đối tác theo tinh thần “Thêm bạn, bớt thù”. Đó là sự khẳng định
đường lối đối ngoại đúng đắn được đề ra trong văn kiện của các đại hội trước,
đồng thời là sự phát triển trong điều kiện mới, chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế là một nội dung cốt lõi trong đường lối hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà