Vận dụng tư tưởng dân chủ của hồ chí minh vào nâng cao chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân tỉnh ninh bình hiện nay - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------***------------

NGUYỄN THU HIỀN
\

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀO NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội – 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------***------------

NGUYỄN THU HIỀN

VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀO NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60.31.02.04

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Thị Minh Oanh




DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TAND

Tòa án nhân dân

CNH,HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBHC

Ủy ban hành chính

UBND


1.2.1. Quy định cơ bản về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh dƣới ánh sáng tƣ tƣởng dân chủ của Hồ Chí Minh...................................... 21
1.2.2. Khái niệm và các tiêu chí đánh giá chất lƣợng hoạt động của HĐND cấp
tỉnh. ............................................................................................................................... 31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ............................................................................................. 35
Chƣơng 2...................................................................................................................... 36
HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH .............. 36
HIỆN NAY– THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ......................................... 36
2.1. Thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình từ 2004 đến
7/2013. ........................................................................................................................... 37
2.1.1. Tổ chức của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình hiện nay ......................... 37


2.1.2. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình.
........................................................................................................................................ 54
2.2. Nguyên nhân của thực trạng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh
Bình từ 2004 đến 7/2013. ........................................................................................... 63
2.2.1. Ƣu điểm và những nguyên nhân .................................................................... 63
2.2.2. Hạn chế và những nguyên nhân..................................................................... 66
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ........................................................................................... 71
Chƣơng 3...................................................................................................................... 72
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY..................... 72
DƢỚI ÁNH SÁNG TƢ TƢỞNG DÂN CHỦ CỦA HỒ CHÍ MINH ............... 72
3.1. Quan điểm nâng cao chất lƣợng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh
Ninh Bình hiện nay..................................................................................................... 72
3.1.1. Nâng cao chất lƣợng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình
phải bám sát yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN trong giai đoạn
hiện nay. ....................................................................................................................... 72
3.1.2. Nâng cao chất lƣợng hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình

chủ vĩ đại của thế kỷ XX. Người không chỉ đề xuất các quan điểm về dân chủ
mà Người còn khai sinh, xây dựng nền dân chủ mới ở nước ta và là tấm
gương mẫu mực về thực hiện dân chủ. Người khẳng định: dân chủ là bản chất
của nước ta, dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ, dân chủ là quyền lực
thuộc về nhân dân. Người yêu cầu các cơ quan nhà nước phải lấy dân làm
gốc, nhân dân làm chủ Nhà nước và nhân dân thực hiện quyền lực của mình
thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND). Người nhấn mạnh:
“Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương” [36, tr.591].
Sự ra đời của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói
chung và HĐND nói riêng gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta
đã quan tâm xây dựng, củng cố và phát triển HĐND. Sắc lệnh tổ chức và hoạt
động của HĐND và Ủy ban Hành chính (UBHC) (Số 63/SL ngày 22-111945) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký là văn bản pháp luật đầu tiên đặt nền
móng cho việc tổ chức, hoạt động của HĐND các cấp. Trải qua các giai đoạn
lịch sử, thiết chế HĐND đã không ngừng được hoàn thiện, đóng một vai trò
quan trọng trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong bộ máy nhà nước, HĐND vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở
địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của nhân dân với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất ở cơ sở. Tuy nhiên
trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của HĐND hiện nay do nhiều nguyên
nhân vẫn còn những hạn chế nhất định, thực chất chưa tương xứng với vị trí,
vai trò của HĐND trong hệ thống quyền lực nhà nước cũng như với nhiệm vụ
mà nhân dân giao phó. Nhiều nơi hoạt động của HĐND chỉ mang tính hình
1


thức, thậm chí vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, cản trở quá trình dân
chủ hoá đời sống xã hội. HĐND tỉnh Ninh Bình cùng với Đảng bộ và chính
quyền tỉnh trong những năm vừa qua đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành

dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Có thể nêu ra một số công trình tiêu
biểu nhƣ:
- Nguyễn Đình Lộc: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do
dân, vì dân, Nxb. Chính trị Quốc gia, 1997.
- Phạm Ngọc Anh, Ngô Vương Anh, Nguyễn Khánh Bật...; Phạm Văn Bính
(chủ biên): Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, NXb. Chính trị Quốc gia, 2007.
- Phạm Thành, Nguyễn Khắc Mai: Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh, Nxb. Sự thật, 1991.
- Phạm Văn Bính: Vận dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ
Chí Minh trong quá trình thực hiện dân chủ XHCN ở Việt Nam: Luận văn tiến
sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2003.
- Đặng Thị Nhiệt Thư : Tìm hiểu quan điểm của Hồ Chí Minh về dân
chủ Tạp chí Lịch sử Đảng , số 3/2005 - tr.40-43.
- Lê Xuân Đình: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề thực hiện
dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, số 20/2004 – tr.34-38.
- Đoàn Thị Minh Oanh: Kiểm soát quyền lực Nhà nước đảm bảo dân
chủ ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 12/2013.
Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích rõ các nội dung cơ
bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ như quan niệm Hồ Chí Minh về
dân chủ, các quan điểm của Người về dân chủ trong các lĩnh vực: chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội; phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, đánh giá được
giá trị thực tiễn và lý luận của nó. Từ đó đề xuất các giải pháp vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới, phát huy dân chủ trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Song vận dụng tư tưởng dân chủ của Hồ Chí
Minh vào hoạt động của HĐND thì chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu.
Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu về hoạt động của
Hội đồng nhân dân và hệ thống các cơ quan quyền lực Nhà nƣớc bao gồm
một số công trình nhƣ sau:
3


4


Nhìn chung, các công trình trên đã phản ánh được nhiều khía cạnh của
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và về tổ chức và hoạt động cũng như vị trí
và vai trò của HĐND trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Các công trình góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận của Hồ Chí
Minh về dân chủ, đề xuất hướng vận dụng tư tưởng trên vào việc xây dựng và
phát huy dân chủ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Song, chưa có công trình
chuyên khảo nào nghiên cứu tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh vào việc nâng cao
hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những
thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả luận văn cố gắng đi sâu
nghiên cứu vận dụng tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh vào một địa phương cụ
thể đó là nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND tỉnh Ninh Bình hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, việc thực
hiện dân chủ trong hoạt động của HĐND tỉnh Ninh Bình thời gian vừa qua để
đề ra những giải pháp đảm bảo phát huy dân chủ cao độ trong hoạt động của
Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Khái quát hóa, phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ,
thực hành dân chủ của Nhà nước thể hiện trong hoạt động của Hội đồng nhân dân.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện dân chủ trong hoạt động của
Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động
của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình hiện nay trên cơ sở vận dụng một cách
triệt để, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu

HĐND tỉnh Ninh Bình - đại diện cho tiếng nói, ý chí của nhân dân và từ phía
6


nhân dân đối với cơ quan đại diện cho họ, phân tích đánh giá thực trạng thực
hiện dân chủ trong hoạt động của HĐND tỉnh Ninh Bình, luận văn xác định hệ
thống giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND tỉnh Ninh Bình để
đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương hiện nay dưới ánh sáng tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
về Tư tưởng Hồ Chí Minh, về quyền lực nhà nước và các cơ quan quyền lực nhà
nước, về hệ thống chính trị cơ sở... ở các trường cao đẳng, đại học và các trường
đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn: Phần mở đầu; nội dung; kết luận; danh mục tài
liệu tham khảo. Phần nội dung của luận văn gồm ba chương, sáu tiết.

7


Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ QUY ĐỊNH CƠ BẢN VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về dân chủ
1.1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Hồ Chí Minh không có tác phẩm chuyên khảo bàn sâu về dân chủ.
Song theo thống kê trong Hồ Chí Minh toàn tập (12 tập) thuật ngữ “dân chủ”
được Người dùng trên 1600 lần1 với những ý nghĩa sâu xa khác nhau, tùy theo
hướng tiếp cận và sự phát triển tư duy về dân chủ của Người. Vậy quan niệm
của Hồ Chí Minh về dân chủ như thế nào?

người, người dân và xem xét nó trong những bình diện, những chiều khác nhau
của mối quan hệ xã hội. Song, bao giờ Người cũng tâm niệm “Nhân nghĩa là
nhân dân. Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân” [35, tr.276]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân sâu sắc như vậy, nên mọi suy nghĩ,
hành động của Người đều hướng về dân, đều nhằm đem lại lợi ích cho nhân
dân lao động. Người thường xuyên thực hiện và yêu cầu cán bộ, đảng viên
cũng luôn thực hiện “việc gì có lợi cho dân, thì làm cho kỳ được. Việc gì hại
cho dân cần hết sức tránh”, “phải đặt lợi ích dân chúng lên trên hết, trước
hết”, “phải gần dân, hiểu dân, học dân, thương yêu, kính trọng dân”, phải tin
ở dân, tin ở sức mạnh của dân là vô địch. Đó là những điều căn bản nhất trong
quan niệm về dân – chủ thể của dân chủ - theo Hồ Chí Minh.
Cái đặc sắc, cái đã đưa tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh vượt lên trên
tư tưởng dân chủ của các nhà Nho duy tân cùng thời, mang tầm thời đại chính
là ở quan điểm dân vừa là chủ, dân vừa làm chủ.
Với Hồ Chí Minh dân không chỉ là gốc mà Đảng và Nhà nước phải
“lấy dân làm gốc”. Bởi vì, dân là gốc của nước đó là quy luật mang tính
khách quan dù người dân có cầm quyền hay không. Do vậy, Hồ Chí Minh cho
rằng: “gốc có vững, cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Phải
chăm sóc cho cái gốc ấy bền vững. Để gốc dân vững Người yêu cầu phải
chăm lo, ưu tiên cho các tầng lớp nhân dân lao động. Họ là số đông lực lượng,
có khả năng và giữ vị trí chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
9


Do vậy, “mọi lợi ích là vì dân”, “giải quyết vấn đề kinh tế và tài chính thế nào
cho hợp lý, cho lợi dân” [33, tr.175], để thu phục, tập hợp, đoàn kết dân. Bởi
vì “trong thế giới – theo Hồ Chí Minh – không có gì mạnh bằng lực lượng
đoàn kết của nhân dân” [35, tr.276]. Có thể nói, quan điểm lấy dân làm gốc
của Hồ Chí Minh từ ý thức đạo đức đã phát triển thành ý thức chính trị, thành
nguyên tắc pháp trị. Đã là nguyên tắc pháp trị thì mọi thành viên xã hội, từ

lượng là của dân, mọi công việc là do dân và do đó thành quả của nền dân
chủ với địa vị cao nhất là nhân dân thì mọi lợi ích của dân chứ không phải
một thiểu số nào. Vị thế chính trị của nhân dân – là chủ và với hành động của
người làm chủ - không phải chỉ nêu trên những khẩu hiệu mà đã được Hồ Chí
Minh thực hiện đầy đủ trong thực tiễn.
Ngay từ năm 1941, khi xây dựng Chương trình của Mặt trận Việt Minh,
Hồ Chí Minh đã thiết kế chế độ dân chủ cộng hòa tương lai cho nước ta sau
khi cuộc cách mạng do nhân dân thực hiện thắng lợi. Chương trình cách mạng
nhằm thực hiện những mục tiêu dân chủ đã thức tỉnh vai trò làm chủ đất nước
của mỗi người dân, làm nên thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945.
Đồng thời, quyền lực của nhân dân trong quan điểm của Hồ Chí Minh
về dân chủ trong lĩnh vực chính trị cũng đã được khẳng định bằng Hiến pháp
và pháp luật, nó mang tính pháp lý cao chứ không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu.
Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện
quyền lực của nhân dân trong điều kiện hết sức khó khăn lúc đó. Ngay ở
chương I, Điều 1 của Hiến pháp 1946, đã khẳng định một cách rõ ràng quyền
lực của nhân dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân
Việt Nam, không biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Hiến pháp năm 1946 tuyên bố: “Nghị viện nhân dân là cơ quan có
quyền cao nhất nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa” (Điều 22), “giải quyết mọi
11


vấn đề chung cho toàn quốc” (Điều 23). Tuyên bố đó đã thể hiện rõ rệt vai trò
chủ thể của nhân dân đối với chế độ.
Đến Hiến pháp 1959, là người đứng đầu ban soạn thảo, Hồ Chí Minh
một lần nữa khẳng định quan điểm quyền lực thuộc về nhân dân một cách cụ
thể với những chế định đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân trong thực
tiễn. Điều 4 Hiến pháp 1959 ghi rõ:
Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về

nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân
không cần đến nữa” [33, tr.365]. Thậm chí: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì
dân có quyền đuổi Chính phủ” [32, tr.60]. Vì “nhân dân có quyền bãi miễn
đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân” [36, tr.59]. Làm như thế là để
xác định “địa vị cao nhất là dân”, “tất cả quyền lực đều là của nhân dân”,
đồng thời để đảm bảo sự trong sạch cho những đại biểu của dân trong các cơ
quan nhà nước.
Trong chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ là làm đầy tớ để
gánh vác việc chung cho dân. “Cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền không phải
làm qua cách mạng ăn trên ngồi trốc. Cán bộ Đảng cũng như cán bộ chính
quyền ngay cả Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết
lòng hết sức phục vụ nhân dân” [35, tr.513], “lo trước thiên hạ” và “vui sau
thiên hạ”. Làm đầy tớ của dân phải biết chăm lo cho dân, chăm lo cho chiến
sĩ, cho bộ đội. Bộ đội chưa có ăn cán bộ không được kêu đói, bộ đội chưa
được nghỉ cán bộ không được kêu mệt vv… làm đầy tớ phải “khổ cán, hạnh
cán, thực cán” [31, tr.153] tức là làm việc hết sức mình, làm việc có chất
lượng, làm việc có hiệu quả, có năng suất. Hồ Chí Minh coi việc từ Chủ tịch
nước đến giao thông viên đều ăn lương của dân, dân đóng thuế để trả lương
cho cán bộ là một biểu hiện cụ thể của dân là chủ, cán bộ là công bộc của dân.
Để địa vị làm chủ của nhân dân được thực hiện và xây dựng được nhà
nước của dân, do dân, vì dân, thực thi quyền lực nhân dân, phục vụ lợi ích của
13


nhân dân, phát triển quyền dân chủ và động viên nhân dân tích cực tham gia
vào các công việc quản lý đất nước, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới tầm quan
trọng của việc xây dựng một nhà nước pháp quyền mà điều trọng yếu là phải
xây dựng Hiến pháp, pháp luật thích hợp với sự phát triển của đất nước và
tăng cường giáo dục việc thực hiện pháp luật trong toàn xã hội.
Trong một nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật luôn đi đôi với

trong vai trò lãnh đạo nền dân chủ, Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc xây
dựng các tổ chức chính trị - xã hội khác nhau của nhân dân và coi đó là những
lực lượng xây dựng và thúc đẩy sự phát triển nền dân chủ.
Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế.
Dân chủ trong lĩnh vực kinh tế theo quan điểm của Hồ Chí Minh có nội
dung rất phong phú. Đó là một hệ thống những luận điểm về quyền dân chủ
trong sở hữu tư liệu sản xuất, về quyền quản lý sản xuất, quản lý vật tư, ngân
hàng, tài chính tín dụng... và về quyền phân phối sản xuất. Trong đó, Người
đặc biệt chú ý đến quyền làm chủ trực tiếp về kinh tế của người lao động.
Chính vì vậy, nghiên cứu tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực
kinh tế là nghiên cứu tư tưởng của Người về quyền làm chủ trực tiếp về kinh
tế của nhân dân đối với quá trình sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm
xã hội mà trước hết là quyền sở hữu, quyền làm chủ của nhân dân đối với tư
liệu sản xuất.
Đối với nước nông nghiệp, hơn 90% là nông dân như Việt Nam, dân
chủ trong lĩnh vực kinh tế, theo Hồ Chí Minh trước hết là dân cày có ruộng.
“Làm cho hàng chục triệu dân cày thanh tư hữu, đều có ruộng, đều có quyền
sở hữu ruộng đất” [34, tr.210]. Thực hiện mục đích người cày có ruộng là nội
dung dân chủ kinh tế quan trọng. Song, Hồ Chí Minh khẳng định “dân cày có
ruộng chỉ là một chính sách dân chủ” [34, tr.210] trong hệ thống các chính
sách dân chủ kinh tế khác. Như sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, việc bảo
15


hộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất của các nhà tư sản. Điều này thể hiện rõ khi
Hồ Chí Minh giải thích về đặc điểm của chế độ dân chủ mới mà nước ta xây dựng:
Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân)
B - Các hợp tác xã ( nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ
nghĩa xã hội)

Rõ ràng, Người có cùng quan điểm với người xưa ở mục đích của công bằng
trong phân phối là để “yên lòng dân”. Song, Hồ Chí Minh quan niệm, phân
phối theo kết quả lao động là công bằng, hợp lý, đó là nguyên tắc phân phối
của chủ nghĩa xã hội. Nếu xã hội chưa phải là cộng sản chủ nghĩa thì phân
phối theo lao động là dân chủ. Cử tri Hà Nội có lần hỏi Hồ Chí Minh (ngày
10 – 5 – 1958): phải chăng trong xã hội xã hội chủ nghĩa ai không lao động
cũng có ăn! Lại có người nói rằng không lao động thì không được ăn! Vậy thì
những người già yếu sẽ thế nào? Hồ Chí Minh trả lời và nói rõ quan điểm của
mình là: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: làm nhiều hưởng nhiều, làm
ít hưởng ít, không làm không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ
được nhà nước giúp đỡ chăm lo” [36, tr.175].
Một quan điểm của Hồ Chí Minh cần quán triệt để thực hiện dân chủ
trong kinh tế là: “Muốn phân phối cho công bằng cán bộ phải chí công vô tư,
thậm chí có khi cán bộ vì lợi ích chung mà phải chịu thiệt một phần nào. Chớ
không nên cái gì tốt thì dành cho mình, xấu để cho người khác” [36, tr.537].
Trong quản lý nền kinh tế Hồ Chí Minh rất chú ý đến việc tham gia ý
kiến của nhân dân, đến việc công khai tài chính thu chi. Người yêu cầu làm kế
hoạch nhà nước theo cách “kế hoạch làm từ trên xuống và làm từ dưới lên”.
Dân được tham gia kiểm tra, kiểm soát. Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn quản
lý tốt hợp tác xã, cán bộ quản trị phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh, làm
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status