Bộ môn: Ngân hàng thương mại
Chuyên đề thảo luận
Tác động của Khủng hoảng tài chính đến
Khả năng sinh lợi của các ngân hàng ở Việt Nam
The impact of the financial crisis on
the Vietnam Banks’ Profitability
Giảng viên hướng dẫn:
PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM.
Nhóm nghiên cứu
Nguyễn Xuân Hiền, Trần Hoa Nhã Trúc, Trần Thị Kim Cúc, Trần Thị Kim Xuyến, Định Thị Hồng
Thanh, Nguyễn Phạm Anh Thi - Cao học Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM.
I.-
Khái quát (Abstract).
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ (2007-2009) được xem là cuộc khủng hoảng có tác động quy mô
toàn cầu như cuộc đại khủng hoảng (1929-1933). Tuy nhiên, dưới tác động của cuộc khủng hoảng
này, thì con đường dẫn đến sự khủng hoảng và hệ quả của nó ở mỗi quốc gia sẽ không giống nhau
bởi tính đặc thù của nền kinh tế.
Các nhà kinh tế học đã phân chia các nền kinh tế chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng này theo
hai nhóm, đó là: Các nền kinh tế phát triển (Advanced Economies) và các nền kinh tế mới nổi
(Emerging Market Economies).
Bài nghiên cứu này chỉ đề cập đến tác động của cuộc khủng hoảng này tại Việt Nam, một quốc gia
thuộc các nền kinh tế mới nổi. Và đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tác động này chính là
hệ thống ngân hàng thương mại.
II.-
Khung lý thuyết (Theorical Framework).
1.- Khái quát về khủng hoảng tài chính ở các nền kinh tế thị trường mới nổi.
Nguyên nhân thứ nhất: Nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính ở các quốc gia mới nổi
thường xuất phát từ chính sách tự do hoá hệ thống tài chính trong nước bằng cách xoá bỏ các quy
định hạn chế đối với các tổ chức và thị trường tài chính (được hiểu là tự do hoá tài chính) và việc
mở cửa đón nhận các dòng vốn và các tổ chức tài chính từ các quốc gia khác (được hiểu là toàn cầu
hoá tài chính).
Hệ thống tài chính của các quốc gia mới nổi có một “văn hoá tín dụng” yếu (weak “credit culture”)
do việc kiểm tra và giám sát người đi vay không hiệu quả và cơ chế giám sát ngân hàng của chính
phủ lại rất lỏng lẻo. Chính sách tự do hoá tài chính đã góp phần tạo nên các khoản cho vay rủi ro có
nguy cơ gây tổn thất cho hệ thống ngân hàng. Chính sách toàn cầu hoá tài chính lại càng làm tăng
thêm rủi ro khi nó cho phép các ngân hàng nội địa vay ở các tổ chức nước ngoài.
Nguyên nhân thứ hai: Mất cân đối ngân sách trầm trọng (trường hợp điển hình tại Arhentina 20012002, Nga 1998, Ecuador 1999 và Thổ Nhĩ Kỳ 2001).
Việc mất cân đối ngân sách trầm trọng đã dẫn đến việc chính phủ không thể tiếp tục sử dụng nguồn
tài trợ từ các khoản vay nước ngoài, mà thay vào đó là buộc các ngân hàng phải mua (absorbing)
các khoản vay chính phủ. Khi các nhà đầu tư mất niềm tin vào khả năng thanh toán của chính phủ
đối với các khoản nợ thì giá của các khoản nợ cũng sụt giảm. Các Ngân hàng nắm giữ các khoản nợ
này và sau đó phải đối diện với một lỗ hổng lớn trong bảng cân đối do sự sụt giảm của tài sản ròng.
Khi vốn ít đi, các ngân hàng buộc phải cắt giảm hoạt động cho vay. Tình trạng này có thể trở nên
xấu đi nếu việc cắt giảm này dẫn đến sự hoang mang trong hệ thống ngân hàng, dẫn đến hàng loạt
các ngân hàng khác rơi vào tình trạng tương tự. Hậu quả của việc mất cân đối ngân sách là có thể
làm hệ thống ngân hàng của một quốc gia trở nên yếu đi.
Những nguyên nhân khác:
Lãi suất tăng do chịu tác động của nước ngoài cũng là một trong các nguyên nhân gây khủng hoảng
tài chính. Chẳng hạn như việc thắt chặt chính sách tiền tệ của Mỹ, khi lãi suất tăng, các doanh
nghiệp rủi ro cao hầu hết đều phải trả lãi suất cao cho các khoản vay, dẫn dến vấn đề lựa chọn đối
nghịch trở nên trầm trọng hơn. Bên cạnh đó, lãi suất cao làm giảm dòng tiền của doanh nghiệp,
buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm thêm nguồn vốn từ các thị trường vốn bên ngoài. Nguyên
nhân khác có thể là do thị trường tài sản của các quốc gia mới nổi không có quy mô như các nước
phát triển, thị trường tài sản giữ vai trò hời hợt trong khủng hoảng tài chính. Giá tài sản giảm trên
thị trường chứng khoán làm giảm tài sản ròng của doanh nghiệp và gia tăng vấn đề lựa chọn đối
nghịch. Ít tài sản thế chấp làm phát sinh, gia tăng các vấn đề lựa chọn đối nghịch vì trước tình trạng
ngân sách chính phủ thâm hụt vượt quá kiểm soát, nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ nghi ngờ về
quốc gia đó sẽ không có khả năng thanh toán các khoản nợ của chính phủ và sẽ ồ ạt rút tiền ra khỏi
quốc gia đó, đồng thời bán tháo đồng nội tệ.
Giai đoạn 3 - Khủng hoảng tài chính.
Trái ngược với các quốc gia phát triển với các khoản nợ được định danh bằng đồng nội tệ thì ở các
quốc gia thị trường mới nổi, các hợp đồng nợ hầu hết được định danh bằng đồng ngoại tệ (thường là
đồng đô la Mỹ). Việc giảm giá trị đồng nội tệ một cách bất ngờ ở các quốc gia thị trường mới nổi
làm gia tăng gánh nặng nợ và làm giảm giá trị tài sản ròng của các doanh nghiệp nội địa. Việc giảm
giá trị tài sản ròng sau đó gia tăng vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Sau đó là tình trạng
sụt giảm đầu tư và sụt giảm các hoạt động của nền kinh tế.
Sự mất giá của đồng nội tệ có thể dẫn đến tình trạng lạm phát tăng cao hơn. Không như các quốc
gia phát triển, ngân hàng trung ương ở các quốc gia thị trường mới nổi dường như độ tín nhiệm
trong việc kiểm soát lạm phát là không tốt. Do đó, một sự sụt giảm nghiêm trọng trong giá trị đồng
nội tệ theo sau bởi cuộc khủng hoảng tiền tệ tạo áp lực tăng giá hàng nhập khẩu. Sự gia tăng nhanh
trong cả tỷ lệ lạm phát thực tế và tỷ lệ lạm phát kỳ vọng sẽ dẫn đến sự gia tăng trong lãi suất. Kết
quả là các doanh nghiệp phải gia tăng chi phí thanh toán lãi và nợ vay, dẫn đến sự sụt giảm trong
dòng tiền của doanh nghiệp phát sinh vấn đề bất cân xứng thông tin do các doanh nghiệp phụ thuộc
hơn vào các nguồn vốn bên ngoài để tài trợ cho các khoản đầu tư. Các nghiên cứu về bất cân xứng
thông tin chỉ ra rằng việc gia tăng trong các vấn đề về lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức dẫn đến
sự sụt giảm trong đầu tư và các hoạt động của nền kinh tế.
Sự sụp đổ trong các hoạt động của nền kinh tế và sự sụt giảm của dòng tiền, sụt giảm trong bảng
cân đối của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có nghĩa là có khả năng mất khả năng thanh toán các
khoản nợ đến hạn, và hậu quả là gây ra các tổn thất nghiêm trọng cho các ngân hàng. Việc gia tăng
lãi suất cũng đồng thời có tác động tiêu cực lên lợi nhuận và bảng cân đối của ngân hàng. Cùng với
tình trạng không chắc chắn của các ngân hàng cũng gia tăng do giá trị các nghĩa vụ nợ định danh
bằng đồng ngoại tệ gia tăng. Do đó, bảng cân đối của ngân hàng bị siết lại từ nhiều phía: giá trị của
tài sản sụt giảm trong khi giá trị các khoản nợ gia tăng.
Hệ thống ngân hàng đối diện với tình trạng khủng hoảng ngân hàng trong trường hợp các ngân hàng
cùng bị sụp đổ. Khủng hoảng ngân hàng và các yếu tố cấu thành thị trường nợ giải thích tình trạng
xấu hơn của vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, đồng thời cho thấy hậu quả của cuộc
Giai đoạn III: Khủng hoảng tài chính toàn diện.
Hoạt động kinh tế suy giảm
Sự suy giảm đột ngột ở các mức giá
Lựa chọn bất lợi và Khủng hoảng đạo
đức xấu đi và Các hợp đồng cho vay
Hoạt động kinh tế suy giảm
2.- Lý thuyết về Lạm phát:
2.1.- Nền tảng cơ bản: Sai lệch lãi suất thực sẽ làm dịch chuyển dòng vốn quốc tế.
2.2.- Các giả định:
- Thị trường hàng hóa và thị trường tài chính đều cạnh tranh hoàn hảo.
- Tất cả các quốc gia đều tiêu dùng cùng một rổ hàng hóa.
- Rủi ro của các chứng khoán trong nước và nước ngoài là như nhau.
- Lưu chuyển vốn quốc tế là hoàn hảo.
Phương trình Fisher:
i = r + πe
Ký hiệu:
r: lãi suất thực; i: lãi suất danh nghĩa. πe: lạm phát kỳ vọng.
Trang 4/11
Bộ môn: Ngân hàng thương mại
2.3.- Ý nghĩa:
- Trong điều kiện thị trường hiệu quả, đồng tiền của quốc gia có lãi suất danh nghĩa cao hơn (thấp
hơn) sẽ phải giảm giá (lên giá) bằng đúng chênh lệch lãi suất danh nghĩa giữa hai đồng tiền nhằm
duy trì trạng thái cân bằng của lãi suất thực.
- Dòng vốn sẽ dịch chuyển khi có sự chênh lệch lãi suất thực giữa hai đồng tiền.
3.1.- Quốc gia áp dụng cơ chế tỷ giá cố định: ngân hàng trung ương phải đảm bảo cho cán cân
thanh toán quốc tế cân bằng bằng cách mua hoặc bán dự trữ ngoại hối.
- Nếu cán cân thanh toán thặng dư (ngoại tệ) thì để cân bằng ngân hàng trung ương sẽ can thiệp trên
thị trường ngoại hối bằng cách bán đồng nội tệ để mua nguồn ngoại tệ thặng dư.
- Ngược lại, nếu cán cân thanh toán thâm hụt (ngoại tệ) thì để cân bằng ngân hàng trung ương sẽ
can thiệp bằng cách dùng nguồn dự trữ ngoại hối để bù đắp. Điều này, sẽ tạo nên sự mất cân đối về
nguồn cung ngoại hối trong nước. Đồng thời; ngân hàng trung ương luôn phải nắm giữ một lượng
dự trữ ngoại hối cần thiết để có thể sẵn sàng can thiệp kịp thời vào thị trường.
Nếu một quốc gia sử dụng chế độ tỷ giá cố định có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế lớn và dự
trữ ngoại hối yếu sẽ rất dễ bị các nhà đầu cơ tiền tệ tấn công và rơi vào khủng hoảng tiền tệ (giai
đoạn 2).
3.2.- Quốc gia sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn: ngân hàng trung ương không phải
neo giữ tỷ giá của đồng nội tệ. Tài khoản vãng lai và tài khoản tài chính không cân bằng sẽ tự động
điều chỉnh lên tỷ giá hối đoái theo hướng làm cho cán cân thanh toán quốc tế trở lại bằng 0.
3.3.- Quốc gia sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý: can thiệp của ngân hàng trung
ương thường dựa trên các yếu tố thị trường như lãi suất lên thị trường ngoại hối. Khi có sự thay đổi
lãi suất của đồng nội tệ sẽ làm thay đổi khoản mục (CI – CO), đặc biệt là đối với dòng vốn đầu tư
gián tiếp ngắn hạn.
(4)
Theo Giáo trình “Tài chính Quốc Tế” (2012).
Trang 5/11
Bộ môn: Ngân hàng thương mại
III.- Các nghiên cứu thực nghiệm (Empirical Framework).
1.- Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các nhân tố nội tại (Internal Factors)
và khả năng sinh lợi (Profitability) của các Ngân hàng.
Bourke (1989) đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 90 ngân hàng ở 12
các nhân tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến khu vực ngân hàng Azerbaijan. Họ kết luận rằng
lạm phát và GDP có mối quan hệ ngược chiều với hiệu suất của các ngân hàng.
Atif, Shafique, và Razi (2012) sử dụng mô hình nghiên cứu gồm 05 biến, bao gồm: lạm phát, GDP,
chỉ số sản xuất công nghiệp, tỉ lệ thất nghiệp và lãi suất. Kết quả, chỉ có lãi suất là có tác động đáng
kể và lạm phát không ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận của ngân hàng.
Muhammad et al. (2013) nghiên cứu 03 nhân tố bên ngoài tác động đến tỷ suất lợi nhuận (GDP, lạm
phát và chỉ số sản xuất công nghiệp) của các ngân hàng tại Pakistan. Kết quả, tỷ suất lợi nhuận có
mối quan hệ ngược chiều với tỉ lệ lạm phát.
Trang 6/11
Bộ môn: Ngân hàng thương mại
Acaravci và Calim (2013) cho rằng tỷ giá hối đoái biến động sẽ đe dọa đến thu nhập và vốn của các
ngân hàng. Kết quả của mô hình cho biết, tỷ giá có tác động mạnh và tích cực đối với tỷ suất lợi
nhuận của các ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Ling và Alex (2014) đã thực hiện nghiên cứu về sự gia tăng của đồng nội tệ sẽ làm tăng cường lợi
nhuận (khả năng lợi nhuận) của các ngân hàng hoạt động trong nước. Vi dụ, nếu USD tăng giá, tỷ
suất lợi nhuận của các Ngân hàng hoạt động tại Mỹ sẽ gia tăng và ngược lại --> Tích cực.
Eze, Simpson, Osuagwu (2014) cho rằng, tỷ giá hối đoái không có tác động mạnh đến tỷ suất lợi
nhuận của các ngân hàng.
3.- Các nghiên cứu thực nghiệm hỗn hợp các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến
khả năng sinh lợi của Ngân hàng.
Bashir, A (2000) đã phân tích đặc tính của ngân hàng và môi trường tài chính tổng thể ảnh hưởng
như thế nào đến hiệu suất của các ngân hàng Hồi giáo. Bằng cách sử dụng dữ liệu cấp độ ngân
hàng, nghiên cứu xem xét các chỉ số hoạt động của các ngân hàng Hồi giáo qua 8 nước Trung Đông
trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1998. Một loạt các ngân hàng trong và ngoài nước đã được sử
dụng để dự đoán lợi nhuận và hiệu quả. Mô hình nghiên cứu có dạng:
Iijt = α0 + αi*Bit + β*Xjt+ γt*Mjt + δj*Cj + εijt
Trong đó:
Bộ môn: Ngân hàng thương mại
A.Dietrich và G.Wanzenried (2011) đã phân tích lợi nhuận của 453 ngân hàng thương mại tại Thụy
Sỹ từ 1999-2008. Bổ sung xem xét các giai đoạn trước khủng hoảng và riêng những năm khủng
hoảng 2007-2008: Yếu tố quyết định lợi nhuận bao gồm các đặc tính cụ thể của ngân hàng cũng
như ngành công nghiệp cụ thể và yếu tố kinh tế vĩ mô, một số trong đó đã không được xem xét
trong các nghiên cứu trước đó. Cụ thể là:
PERFi,t = γ*Xi,t + εi,t
PERFi,t: thước đo lợi nhuận ngân hàng cho ngân hàng i tại thời điểm t.
Xi,t: một ma trận của các ngân hàng cụ thể như cũng như đặc điểm kinh tế vĩ mô và ngành công
nghiệp cụ thể.
Kết quả nghiên cứu:
Nếu lượng cho vay của ngân hàng phát triển nhanh hơn so với thị trường thì chỉ tác động tích cực
đến lợi nhuận của ngân hàng trước khi khủng hoảng xảy ra.
Muhammad Bilal, Asif Saeed, Ammar Ali Gull và Toquer Akram (2013) cho rằng Quy mô của
ngân hàng, tỷ lệ lãi cận biên (NIM) và tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp có quan hệ cùng
chiều và tác động đáng kể đến chỉ số ROA và ROE. Nợ xấu và lạm phát lại có tác động ngược
chiều với lợi nhuận trên tài sản. Tổng sản phẩm quốc nội có tác động cùng chiều với ROA.
Mohammad, Morshedur và Rahman (2015) đã thực hiện một nghiên cứu tổng quát ở Bangladesh
gồm nhiều nhân tố như:
PROFITit = α + β1*CAPit + β2*RISKit + β3*SIZEit + β4*OWNDit + β5*NIITAit + β6*COSTINCit +
β7*OFBSTAit + β8*LIQUIDITYit + β9*GGDPit + β10*INFLit + εi
Trong đó:
CAP: vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản;
OWND: Biến giả quyền sở hữu: bằng 1 nếu ngân hàng thuộc sở hữu tư nhân và bằng 0 cho các
trường hợp khác;
NIITA: Thu nhập ngoài lãi trên tổng tài sản;
COSTINC: Tỷ lệ chi phí/thu nhập;
GGDP: Tăng trưởng trong tổng sản phẩm quốc nội hàng năm;
INFL: tỷ lệ lạm phát hàng năm.
INF
ER
Diễn giải
Profitability: Khả năng sinh lời của ngân hàng (i) tại năm (t).
Return on Assets: Tỷ suất sinh lợi của Tổng tài sản.
Net Interest Margin: Thu nhập từ lãi biên.
Return on Equity: Tỷ suất sinh lợi của Vốn chủ sở hữu.
Financial Crisis Existence (Dummy): Sự tồn tại khủng hoảng.
Internal Factors: Các yếu tố nội tại của ngân hàng (i) tại năm (t).
Liquid Assets: Tài sản thanh khoản tốt trên tổng tài sản.
Lendings to Assets: Tổng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản.
Scale of Assets: Quy mô tổng tài sản.
External Factors: Các yếu tố bên ngoài (kinh tế vĩ mô) tại năm (t).
Inflation: Lạm phát.
Exchange Rate: Tỷ giá hối đoái USD/VND.
Nhóm nghiên cứu sử dụng chỉ số Tỷ lệ lãi cận biên (NIM) làm thước đo khả năng sinh lợi vì hệ
thống Ngân hàng thương mại Việt Nam nguồn thu nhập chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng. Đồng
thời, biến LOR được dùng để giải thích cho khả năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng.
Bên cạnh đó, để đo lường khả năng thích ứng với khủng hoảng tài chính, nhóm nghiên cứu đã sử
dụng biến LA và SoA.
Đối với các tác bên ngoài (từ khủng hoảng), nhóm nghiên cứu sử dụng biến lạm phát thay cho lãi
suất dựa theo phương trình của Fisher, bởi rất khó xác định được lãi suất danh nghĩa ở Việt Nam.
Và biến tỷ giá được dùng để phản ánh tác động của khủng hoảng thông qua đường dẫn “thâm hụt
tài khoá”. Bởi vì, việc thực thi chính sách tài khoá của Chính phủ được tài trợ chủ yếu từ hệ thống
ngân hàng thương mại.
2.- Dữ liệu nghiên cứu.
Dữ liệu được dùng trong mô hình bao gồm dữ liệu của 40 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong
giai đoạn từ năm 2006 đến 2011. Nguồn dữ liệu được trích từ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán.
1.- Frederic S. Mishkin, 2011, “The Economics of Money, Banking, and Financial Markets” (Tái
bản lần 8).
2.- Frederic S. Mishkin, 2013, “The Economics of Money, Banking, and Financial Markets” (Tái
bản lần 10).
3.- Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định, 2011, “Tài chính Quốc Tế”.
4.- Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Định, 2012, “Tài chính Quốc Tế”.
5.- Bourke, P., 1989, "Concentration and other Determinants of Bank Profitability in Europe",
Journal of Banking and Finance 13.
6.- Molyneux, P., Thornton, J, 1992, “Determinants of European Bank Profi tability: A Note”,
Journal of Banking and Finance, 16(6).
7.- Levine, Boyd, Smith, 2000, “The Impact of Inflation on Financial Sector Performance”.
8.- Abreu, Mendes, 2001, “Determinants of Bank Profitability in Ukraine”.
9.- Ali, Zakaria, Husni, 2011, “Determinants of Islamic Bank Profitability: Evidence from Jordan”.
10.- Gul, Irshad và Zaman, 2011, “Factors Affecting Bank Profitability in Pakistan”.
11.- Alper và Anbar, 2011, “Bank Specific and Macroeconomic Determinants of Commercial
Bank Profitability: Empirical Evidence from Turkey”.
12.- Ayadi và Boujelbene, 2012, “The Determinants of the Profitability of the Tunisian Deposit
Banks”.
13.- Safarli và Gumush, 2012, “The effect of macroeconomic factors on the performance of
Azerbaijan banking system”.
14.- Atif, Shafique và Razi, 2012, “Determinants of profitability of Islamic banks, A case study of
Pakistan”.
15.- Muhammad et al, 2013, “Influence of Bank Specific and Macroeconomic Factors on
Profitability of Commercial Banks: A Case Study of Pakistan”.
16.- Acaravci và Calim, 2013, “Turkish Banking Sector’s Profitability Factors”.
17.- Ling và Alex, 2014, “Bank Profitability: The Impact of Foreign Currency Fluctuations”.
18.- Eze, Simpson, Osuagwu, 2014, “Assessing the Impact of Exchange Rate Risk on Banks
Performance in Nigeria”.
19.- Bashir A, 2000, “Yếu tố quyết định lợi nhuận của các ngân hàng Islamic: Một số bằng chứng
từ Trung Đông”.
Phần III.3:
Phần IV:
Nguyễn Xuân Hiền
Đinh Thị Hồng Thanh
Nguyễn Phạm Anh Thi
Trần Thị Kim Cúc
Trần Hoa Nhã Trúc
Trần Thị Kim Xuyến
Nguyễn Xuân Hiền
Trang 11/11