Tiêu Luận Điều Trị Nội tiết trong ung thư - Pdf 35

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

TIỂU LUẬN HÓA TRỊ LIỆU

CHỦ ĐỀ: PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP CÁC
PHƯƠNG PHÁP KHÁC:ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT
Nhóm thực hiện

Chengsavang Siatoutho MHV: 1411101
Hà Huy Bách
MHV: 1511002
Trần Quốc Thịnh
MHV: 1511051

Lớp Cao học 20

1


Hà Nội – 2016

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
NỘI DUNG..........................................................................................................3
I. TỔNG QUAN
1.

Ung thư và nguyên nhân gây bệnh ung thư

2.

4.

Các ung thư khác15


KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

3


ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, với khoảng 14
triệu ca được phát hiện và 8.2 triệu ca tử vong liên quan đến bệnh ung thư vào
năm 2012. Dự báo sẽ có khoảng 100 triệu người tử vong trong 10 năm tới.
Riêng tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có khoảng 150.000 ca mắc mới, trong
đó có 75.000 người tử vong, con số này có xu hướng tăng trong những năm tiếp
theo.
Trong các loại ung thư thì ung thư liên quan đến rối loạn hormon như ung
thư buồng trứng, tử cung, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến chiếm một tỷ lệ khá
lớn. Ung thư tuyến tiền liệt chiếm 10% ung thư ở nam giới, ung thư vú chiếm
15% và ung thư cổ tử cung chiếm 6% ung thư ở nữ giới. Trên lâm sàng, các khối
u liên quan đến nội tiết thường khiến nồng độ hormon trong máu tăng cao. Tình
trạng bệnh lý này thường được xử lý bằng cách phẫu thuật loại bỏ khối u, hoặc
điều trị làm giảm nồng độ hormon trong cơ thể bằng thuốc.Phương pháp điều trị
bằng hoc-môn có nhiều điểm ưu việt như: đơn giản, dễ thực hiện, giá thành
không cao, tác dụng phụ ít. Bởi vậy hiện nay đã có từ 1/7- 1/6 số trường hợp ung
thư có thể điều trị bằng hoc-môn. Với mong muốn làm rõ hơn các liệu pháp,
phác đồ, thuốc điều trị nội tiết tố; chúng tôi tiến hành tiểu luận “Phương pháp
kết hợp các phương pháp khác : điều trị nội tiết tố trong một số loại ung thư”.

nhiều tiến bộ đã được tạo ra trong điều trị ung thư, nhưng việc loại bỏ các
khối u ác tính qua phẫu thuật vẫn là liệu pháp cứu chữa chủ yếu đối với đa
phần các khối u đặc.
• Xạ trị
Xạ trị có thể tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách dùng cách chất phóng xạ
giết các tế bào đó và làm tổn thương các mạch máu tới nuôi chúng. Xạ trị
cũng có mặt hạn chế như không dùng được xạ trị khi ung thư đã lan ra toàn
thân. Một số ung thư chống chỉ định của xạ trị như ung thư dạ dày, đại tràng
5


hoặc tụy ....Biến chứng của xạ trị nhiều khi khá trầm trọng ảnh hưởng lâu dài
đến sức khỏe người bệnh, gây tổn thương các mô lành, làm cho mô bị chai
cứng, gây biến chứng tại các tạng rỗng (ruột, thực quản) bị teo hẹp làm khó
nuốt khó đi tiêu, gây chảy máu tại các chỗ lở loét, xạ trị còn có thể gây ung
thư khác cho người bệnh mà sau đó thường được cho là di căn. Nếu xạ trị
liên tục kéo dài có thể làm cho sức khỏe kiệt quệ, mất sức đề kháng, dễ mắc
các bệnh nhiễm trùng, nếu không có hạn chế và bồi dưỡng thích đáng bệnh
nhân có thể chết trước khi chết vì khối ung thư.
• Hóa trị liệu
Hóa trị liên quan tới việc sử dụng các thuốc chống ung thư và giống như xạ
trị sẽ hủy diệt các tế bào ung thư bằng cách làm tổn hại DNA của
chúng.Bệnh nhân tiếp nhận hóa trị qua đường uống hoặc truyền qua tĩnh
mạch.Tùy loại, vị trí và giai đoạn của bệnh ung thư, bệnh nhân có thể phải
điều trị hàng tuần hay cả tháng. Hóa trị là một điều trị toàn thân tác động tới
toàn bộ các tế bào đang phát triển nhanh. Điều này bao gồm các tế bào của
khối u và các tế bào bình thường như các tế bào ở nang tóc và đường tiêu
hóa. Điều này gây ra các tác dụng phụ, như rụng tóc và tiêu chảy
• Sinh trị liệu
Là biện pháp kích thích khả năng đề kháng tự nhiên của con người chống

Hiện nay, khoa học đã nhận thấy các tế bào lành và các tế bào ung thư loại
nhạy cảm với hormon đều có các thụ thể (receptor) làm trung gian cho các tác
dụng của hormon.
Phương pháp điều trị bằng hormon có nhiều điểm ưu việt như: đơn giản,
dễ thực hiện, giá thành không cao, tác dụng phụ ít. Hiện có từ 1/7- 1/6 số trường
hợp ung thư có thể điều trị bằng hormon. Với những tiến bộ của khoa học về
sinh học phân tử, cơ chế tác động của hormon lên các khối u ngày càng sáng tỏ
và việc điều trị một số ung thư bằng hormon sẽ có hiệu quả hơn.
Nguyên lý điều trị nội tiết trong ung thư: Điều trị nội tiết trong ung thư
được xem như một phương pháp kìm tế bào. Cơ chế được giải thích đầy đủ.
Nhìn chung điều trị nội tiết được thực hiện theo nguyên lý sau: Loại bỏ hoặc
ngăn chặn sự tiết các hormon từ các tuyến nội tiết có tác dụng trực tiếp kích
thích khối u phát triển.
3.Phân loại Hormon trị liệu
3.1.Theo cơ chế tác dụng của thuốc
3.1.1. Các chất đối kháng hormon steroid

Trong điều trị ung thư bằng liệu pháp hormon, các chất đối kháng với estrogen,
progestin và androgen đã được nghiên cứu và phát triển
3.1.1.1. Các chất tác động chọn lọc trên receptor estrogen
Các thuốc thuộc nhóm này bao gồm: tamoxifene, raloxifene, toremifene, và
fulvestrant.

7


Tamoxifene
- Cơ chế tác dụng: Tamoxifene là chất đối kháng estrogen không hoàn toàn
[7]. Nhờ có cấu trúc tương tự estrogen, tamoxifene khi vào cơ thể sẽ cạnh tranh
vị trí liên kết trên receptor của estrogen[9]. Do đó, tamoxifene có tác dụng ức

với receptor. Sử dụng flutamide đơn độc sẽ làm tăng sản xuất LH và FSH, dẫn
đến làm tăng đồng thời nồng độ testosterone và E2 trong máu[2].
- Chỉ định: Flutamide được chỉ định là phác đồ đầu tiên trong điều trị ung
thư tiền liệt tuyến di căn, phối hợp cùng các dẫn xuất của GnRH. Flutamide
cũng được sử dụng trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến di căn đã cắt tinh hoàn
nhưng không đáp ứng. Liều khuyến cáo là 250 mg/3 lần/ngày, dùng đường
uống[2].
- Tác dụng phụ: Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất đối với flutamide là
tiêu chảy. Ngoài ra, chứng vú to có thể gặp ở những bệnh nhân nam không cắt
tinh hoàn, tuy nhiên chỉ ở mức độ nhẹ. Flutamide hiếm khi gây độc tính trên
gan. Độc tính trên gan của flutamide có thể gây tử vong, tuy nhiên nếu được
phát hiện sớm có thể hồi phục được[2].
9


3.1.1.3. Các chất đối kháng androgen mới khác
- Abiraterone acetat: Đây là dẫn chất 3 - pyridin steroid pregnenolone, ở
dạng tiền thuốc acetat. Abiraterone ức chế chọn lọc, không đảo ngược CYP 17 enzym đóng vai trò quan trọng trong tổng hợp androgen và estrogen. Hiện nay,
abiterone đang được nghiên cứu trong điều trị tái phát ung thư tiền liệt tuyến đã
cắt tinh hoàn. Tác dụng phụ chủ yếu của thuốc là các triệu chứng do dư thừa
mineralocorticoid, bao gồm hạ kali huyết, tăng huyết áp, phù[2].
- MDV3100: Đây là chất mới thuộc nhóm diarylthiohydatoin. Cơ chế tác
dụng của nó là ức chế trục testosterone - receptor androgen[2].
3.1.2. Các chất ức chế enzym sản xuất hormon steroid
Các thuốc thuộc nhóm này chủ yếu là các chất ức chế aromatase. Enzym
aromatase có tác dụng chuyển androgen thành estrogen, và đây là bước cuối
cùng của chu trình tổng hợp trên. Ức chế enzym aromatase là phương pháp đặc
hiệu nhất để ngăn chặn quá trình sản xuất estrogen. Do quá trình sinh tổng hợp
estrogen có thể xảy ra ở các mô không thuộc tuyến nội tiết như mô mỡ, hay các
khối u ác tính (chủ yếu trên phụ nữ sau mãn kinh), các chất ức chế aromatase có



Cơ chế tác dụng của các chất ức chế aromatase không steroid cũng là gắn
cạnh tranh với các chất nền nội sinh vào vị trí tác dụng của enzym (gắn với
nguyên tử Sắt heme), tuy nhiên liên kết này có thể đảo ngược được. Do đó, hoạt
tính của enzym aromastse có thể được hồi phục nếu không còn các chất ức chế
typ II[2].
Các chất ức chế aromatase typ II thế hệ đầu như aminoglutethimide có
hoạt lực không mạnh, và cũng không đặc hiệu. Nó ức chế thêm cả những
hormon chuyển hóa steroid khác. Các chất ức chế typ II thế hệ sau thuộc nhóm
triazole (gồm anastrazole, letrozole) có hoạt lực mạnh gấp 200 lần so với
aminoglutethimide, đồng thời tác dụng ức chế rất chọn lọc con đường sinh tổng
hợp estrogen do có ái lực mạnh với enzym aromatase cytochrom P450. Các
thuốc thế hệ sau có thể làm giảm nồng độ estrogen trong máu ở phụ nữ sau mãn
kinh xuống dưới ngưỡng phát hiện được mà không ảnh hưởng đến các hormon
steroid khác[10] .
Cả letrozole và anastrazole đều đã được nghiên cứu đầy đủ trong điều trị
ung thư di căn cũng như làm liệu pháp hormon bổ sung. Cả hai thuốc đều cho
hiệu quả điều trị tốt hơn cũng như kéo dài thời gian sống với khối u không tiến
triển so với tamoxifene trong ung thư di căn. Trong liệu pháp hormon bổ sung,
cả letrozole và anastrazole đều kéo dài thời gian sống không tái phát của bệnh
nhân[2]. Liều điều trị đối với letrozole là uống 2.5 mg/ngày[5], còn đối với
anastrazole là uống 1mg/ngày[1]. Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất của
letrozole và anastrazole là gây đau cơ, khớp, lên tới 50% bệnh nhân điều trị. Mặt
12


khác, hai thuốc này đều làm gia tăng nguy cơ gãy xương so với tamoxifene. Do
đó, khuyến cáo khi điều trị anastrazole kéo dài trên bệnh nhân ung thư vú giai
đoạn sớm, bệnh nhân cần chú ý đến tình trạng xương, cũng như được theo dõi

- Ung thư tử cung
-Ung thư buồng trứng
-Ung thư tuyến tiền liệt
- Ung thư thận

III. Một số bệnh ung thư được điều trị bằng nội tiết
1. Ung thư vú
– Phương pháp cổ điển: Cắt bỏ buồng trứng ở bệnh nhân chưa mãn kinh
và dùng một dạng estrogen liều thấp ở bệnh nhân đã mãn kinh
– Điều trị nội tiết được chỉ định cho các trường hợp có xét nghiệm dương
tính với thụ thể estrogen hoặc thụ thể progesteron. Điều trị nội tiết không chỉ
định cho bệnh nhân di căn não, phổi đa ổ hoặc di căn đến các cơ quan có tính
14


chất sống còn của bệnh nhân do thời gian đáp ứng của liệu pháp này quá lâu so
với thời gian sống còn của người bệnh.
Có ba phác đồ điều trị ung thư vú bằng hormon:
• Liệu pháp phối hợp trong giai đoạn sớm của ung thư vú: Các nghiên cứu cho
thấy sử dụng hormon phối hợp mang lại lợi ích kéo dài ít nhất 5 năm tuổi thọ.
Liệu pháp kết hợp sử dụng sau các liệu pháp chính như sau phẫu thuật. Có thể
kết hợp với xạ trị hoặc hóa trị hoặc điều trị bằngtế bào đích.
Tamoxifen được chỉ định cho điều trị ở phụ nữ trước và sau mãn kinhvà ở
nam giới. Anastrozole and letrozole được chỉ định cho bệnh nhân saumãn kinh.
Các thuốc ức chế aromatase như exemestane được chỉ định ở phụ nữsau
mãn kinh đã sử dụng tamoxifen trước đó.
Cho đến gần đây, đa số các phụ nữ đã giảm được sự tái phát ung thư
vúkhu dùng tamoxifen hàng ngày trong 5 năm. Tuy nhiên với sự ra đời của
cácthuốc hormon mới được so sánh với tamoxifen thì việc sử dụng hormon
trịliệu càng trở nên phổ biến.

* Letrozole (Femara) 2,5mg/ngày uống hàng ngày
* Megestrol acetat 80- 120mg/ngày uống hàng ngày
* Exemestane (Aromasin) 25mg/ngày, uống hàng ngày
2. Ung thư tuyến tiền liệt
Điều trị hormon trong ung thư tuyến tiền liệt có tỷ lệ đáp ứng chung là
75% và thời gian sồng trung bình là 18 tháng. Tiêu chuẩn đánh giá chung dựa
vào kích thước khối u hoặc hàm lượng PSA. Khó đánh giá được tác nhân nội tiết
nào là ưu thế, do vậy trên lâm sàng nên dựa vào thể trạng chung và điều kiện của
từng bệnh nhân.
* Cắt tinh hoàn
* Các estrogen: Diethylstibestrol 1mg/ngày
* Các dẫn chất của LHRH:
– Leuprolide acetate (Luphere depot) 3,75mg/1lần/tháng, tiêm dưới da
– Goserelin acetate (Zoladex) 3,6mg/lần/tháng, tiêm dưới da bụng
* Các thuốc kháng androgen tổng hợp
– Bicalutamide (Casodex) 50mg/viên/ngày, uống hàng ngày
– Flutamide (Fugerel) 100mg/viên x 3 viên/ngày, uống hàng ngày
3. Ung thư hệ tạo máu
Người ta đã phát hiện ra các thụ thể của corticosteroid ở trong các tế bào
dòng lympho, chính vì vậy corticoid trở thành một trong các thuốc trong phác đồ
hoá trị một số bệnh lý ung thư dòng tế bào lympho.
4. Các ung thư khác
16


- Ung thư nội mạc tử cung: Dùng các progesteron tổng hợp như
medroxyprogesteron và megestral acetate
- Ung thư vú nam: Dùng tamoxifen hoặc cắt bỏ tinh hoàn kết hợp
Diethylstibestrol 1mg/ngày


Early

Breast

Cancer

Trialists’

Collaborative

Group

(EBCTCG).Relevance of breast cancer hormone receptors and other factors to
the

efficacy

of

adjuvant

tamoxifen:

patient-level

meta-analysis

of

randomisedtrials. Lancet 2011; 378(9793)771–784. [PubMed Abstract]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status