BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU
VÀ CÁC TRIỆU CHỨNG
TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
Họ tên: Ngô Phương Chung
Mã học viên: 1211006
Lớp: Cao học 17
Hà Nội – 2013
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh
ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế
kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Ung thư là mối lo của nhân loại trong thế kỷ XXI. Đây là căn bệnh gây tử vong
đứng thứ hàng thứ hai cho con người sau bệnh lý tim mạch. Đời sống kinh tế xã hội
càng tăng, tuổi thọ ngày càng cao, công nghiệp ngày càng phát triển đồng nghĩa với tỉ
lệ mắc ung thư ngày càng gia tăng. Tại Việt Nam, theo ước tính mỗi năm có khoảng
150.000 người mới mắc ung thư nhưng con số tử vong lên tới 60%. Lý do là hầu hết
các bệnh nhân phát hiện ung thư đều ở giai đoạn muộn (giai đoạn III hoặc IV), vì vậy
nhu cầu về điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng trong ung thư là rất lớn. Điều trị đau
và giảm nhẹ triệu chứng là một trong bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung
thư của Tổ chức Y tế Thế giới, cùng với các ưu tiên khác như: dự phòng ung thư, sàng
lọc và phát hiện sớm bệnh ung thư, nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị ung thư.
Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người bệnh
ung thư ở các nước đang phát triển và kể cả ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ.
Với mục tiêu tất cả bệnh nhân phải được điều trị khi có xuất hiện đau để làm
giảm sự đau đớn và cải thiện chất lượng cuộc sống tất cả các giai đoạn trong quá trình
bệnh tật của họ, chuyên đề “Điều trị giảm đau và các triệu chứng trong điều trị ung
thư” này sẽ cung cấp cho các cán bộ y tế, gia đình người bệnh và cộng đồng thêm các
+ Vị trí, tính chất, cường độ đau, thời gian khởi đau…
+ Chú ý triệu chứng thần kinh: tê rần, rát bỏng, co giật, hay yếu liệt
+ Triệu chứng đi kèm: sốt, ớn lạnh, khó thở, nôn ói, nhức đầu…
+ Ảnh hưởng đến: giấc ngủ, ăn uống, sinh hoạt thường ngày…
3
+ Bệnh ung thư và quá trình điều trị.
Lưu ý khi đánh giá mức độ đau:
- Dùng một loại thang điểm đau cho các lần đánh giá trên cùng một bệnh nhân
- Kết quả đánh giá:
+ Đau nhẹ: từ 1 đến 3 điểm.
+ Đau vừa: từ 4 đến 6 điểm.
+ Đau nặng: từ 7 đến 10 điểm.
- Theo kết quả của nhiều nghiên cứu, đau ở bệnh nhân ung thư không được
đánh giá đúng mức bởi nhiều lý do:
+ Thầy thuốc không đánh giá đúng mức độ đau của bệnh nhân.
+ Thầy thuốc nghi ngờ về cảm giác đau của bệnh nhân.
+ Bệnh nhân không báo sự đau đớn của họ vì sợ làm phiền thầy thuốc hay nếu
có báo thì không được xử trí gì hoặc đôi khi sợ sử dụng thuốc giảm đau.
3. Nguyên tắc điều trị đau
- Có 7 nguyên tắc xử trí đau:
1/ Mọi bệnh nhân đau đều cần được điều trị và hỗ trơ giảm đau.
2/ Giảm đau ở mức tốt nhất, tác dụng phụ ở mức ít nhất.
4
Không Lo lắng Khó chịu Vừa phải Kinh khủng Khủng kiếp nhất
3/ Tiến hành tại mọi cơ sở y tế, nhà, cộng đồng.
4/ Hãy tin vào những mô tả của bệnh nhân về đau của họ.
5/ Áp dụng các biện pháp không thuốc, chú ý vấn đề tâm lý.
6/ Theo 3 bậc thang của WHO.
7/ Xử trí tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân.
- Thuốc điều trị đau gồm:
+ Điều trị cơn đau nhẹ (bậc I theo bậc thang của WHO):
Dùng các thuốc giảm đau không có opioid, có thể kết hợp các thuốc giảm đau
khác nếu nguyên nhân gây đau do thần kinh.
Thuốc kháng viêm không chứa steroid (NSAID’S) có nhiều loại, trong chăm
sóc làm dịu thường sử dụng.
* Ibuprofen 400 mg-800 mg, ngày 3 lần, liều tối đa không quá 2400mg/ngày.
* Naproxen 250 mg-500 mg, ngày 2 lần hoặc viên đạn 500 mg hay loại phóng
thích chậm 1000 mg.
* Diclofenac 25 mg-75mg/mg, ngày 2 lần, liều tối đa 200mg/ngày.
* Indomethacin 25 mg-50 mg, ngày 3 lần.
* Acetaminophen (paracetamol) 500-1000mg, ngày 4 lần, tối đa không quá
4000mg/24 giờ.
Đây là các thuốc phụ trợ tốt để giảm đau kèm với giảm viêm, đặc biệt là đau
liên quan đến xương. Các thuốc NSAID’S đều kích thích dạ dày. Do đó nên uống sau
khi ăn và uống kèm các thuốc kháng thụ thể H
2
(thí dụ: ranitidin 150 mg x 2 lần/ngày
hay trước khi ngủ) hoặc sucralfat 1g x 4 lần/ngày có thể bảo vệ niêm mạc dạ dày, thận
trọng đối với những người suy chức năng gan thận, các bệnh lý về hệ tạo máu.
+ Điều trị cơn đau trung bình (Bậc II theo thang điểm của WHO)
Sử dụng các thuốc opioid nhẹ:
* Zandol (phối hợp 30 mg codein + 500 mg paracetamol).
6
* Codein phosphat viên 30 mg là 1 loại thuốc phiện nhẹ, có tác dụng hiệp đồng
giảm đau cùng với aspirin hay paracetamol, dùng 60 mg/4-6 giờ, liều tối đa
360mg/ngày, dễ gây táo bón nên thường xuyên dùng kèm theo thuốc nhuận tràng.
* Dextropropoxyphen thường phối hợp với paracetamol (dextropropoxyphen 30
mg + paracetamol 400 mg) được dùng cho cơn đau vừa phải, có tác dụng giảm đau tốt.
* Tramadol: là loại opiod tổng hợp, có tác dụng giảm đau trung ương, dùng
đường uống có hiệu quả, tramadol mạnh gấp 2 lần codein viên 50 mg, ít gây táo bón.
giờ đầu phải dùng các loại giảm đau khác để khống chế cơn đau.
Chống chỉ định:
* Không nên dùng ở những bệnh nhân suy mòn không có lớp mỡ dưới da.
* Bệnh nhân bị sốt bởi vì sẽ tăng hấp thụ thuốc và gây ra ngộ độc.
* Bệnh nhân ra mồ hôi nhiều vì miếng dán sẽ không dính.
* Bệnh nhân nghèo không có đủ tiền để mua, nên dùng morphin rẽ hơn.
Một số tác dụng phụ hay gặp như với Morphin:
+ Điều trị cắt cơn đau:
Bệnh ung thư thường tiến triển theo thời gian làm cho ngưỡng đau ngày càng
tăng lên, liều điều trị không còn tác dụng giảm đau, do đó để cắt cơn đau phải tăng liều
thuốc giảm đau. Liều tăng thêm thường khoảng 10% liều điều trị.
+ Điều trị đau do thần kinh:
* Amitriptilin : Bắt đầu với liều 10-25mg, một lần trong ngày vào buổi tối. Liều
tối đa 200mg/ngày. Quá liều đe dọa ngộ độc tim mạch.
* Gabapentin: Bắt đầu với liều 300mg vào buổi tối, tăng liều dần sau 3 ngày với
300mg x 2 lần trong ngày, và 3 ngày kế tiếp với 300mg x 3 lần trong ngày. Liều tối đa
không vượt quá 3600mg/ngày.
+ Các thuốc giảm đau khác:
Dùng steroid: Corticosteroid có tác dụng làm giảm tạm thời các phản ứng
quanh khối u, giảm sưng và co kéo, do đó làm giảm đè ép các mô mềm quanh khối u.
Bằng cách giảm phản ứng viêm của khối u, giảm sản xuất cytokin và prostaglandin,
các chất này kích thích các mút tận cùng dây thần kinh cảm giác gây đau. Vì vậy,
steroid có giá trị đối với bất kỳ khối u nào.
* Dexamethason 4-16 mg/ngày uống 1 lần.
* Prednisolon 25-100 mg/ngày nên dùng vào buổi sáng.
Dexamethason có tác dụng kháng viêm mạnh hơn so với prednisolon, nó ít giữ
muối và tác dụng kéo dài hơn.
8
* Anticholinergic (dùng trong co thắt cơ trơn ống tiêu hóa): scopolamin
butylbromid 10-20mg/6-8 giờ.
9
Lidocain dùng để phong bế tại chỗ
* Corticosteroid:
Prednison: 30 – 60 mg/uống/ngày
Dexamethason: 8 – 16 mg/uống/ngày
Cải thiện: giảm đau, ăn ngon, dễ chịu hơn, bớt mệt mỏi…
3.2. Điều trị đau bằng các phương pháp khác
Mặc dù điều trị bằng thuốc là nòng cốt trong việc kiểm soát đau do ung thư,
nhưng các biện pháp khác cũng được cân nhắc cho một vài loại ung thư. Đó là:
- Xạ trị chống đau: đây là một trong những biện pháp chống đau có hiệu quả với
ung thư, đặc biệt những ung thư khu trú tại chỗ. Xạ trị vừa có tác dụng giảm đau tại
khối u, vừa có tác dụng chống chèn ép, chống bít tắc (ung thư tại xương, di căn
xương…). Xạ trị chống đau bao gồm xạ trị ngoài, xạ trị trong hoặc xạ trị toàn thân.
- Hóa chất chống đau: có tác dụng khống chế các triệu chứng đau, có hiệu quả phá
hủy các tế bào ung thư giảm bớt chèn ép, ví dụ 5FU, cyclophossphamid dạng uống…
- Thuốc tái tạo xương: sử dụng với trường hợp ung thư di căn vào xương, có
phá hủy xương, ví dụ thuốc Aredia.
- Phẫu thuật triệu chứng: với trường hợp ung thư gây biến chứng mà không còn
khả năng điều trị triệt để, lúc này phẫu thuật là hiệu quả và nhanh chóng nhất, ví dụ
mở thông đại tràng trong ung thư đại tràng bị tắc ruột…
- Ngoài ra còn dùng các biện pháp: Xung điện ngoài da (Transcutaneous
electric nerve stimulation) TENS; Phong bế thần kinh, hạch giao cảm, trung khu thần
kinh; Gây tê ngoài màng cứng; Tâm lý liệu pháp, thôi miên, Châm cứu …
II. ĐIỀU TRỊ CÁC TRIỆU CHỨNG TRONG UNG THƯ
Chăm sóc bệnh nhân ung thư, đặc biệt là ở giai đoạn cuối dành cho người bệnh
trước khi từ trần khoảng 3 tháng, khi mà bệnh tiến triển có tiên lượng xấu, mà sự điều
trị tích cực không mang lại hiệu quả gì. Trong giai đoạn này bệnh nhân bắt đầu xuất
hiện một số triệu chứng do di căn của ung thư làm cho bệnh nhân đau đớn khó chịu.
Mục đích của điều trị là làm giảm bớt các triệu chứng, đem lại sự thoải mái, dễ
chịu cho người bệnh.
Cisaprid (prepulsid) 5-10 mg x 3 lần/ngày.
Táo bón và tạo thành
cục phân
Thuốc nhuận trường - nhiều loại.
Tắc ruột Nếu tắc ruột thấp, ăn chế độ ít chất xơ tốt và tiêu hóa được.
Nếu tắc ruột hơi cao, nhịn ăn, ngậm đá nhỏ và uống
Haloperidol 1,5-5 mg hay hyoscin butylbromid 20mg x 3
lần/ngày.
Dexamethazon 8 mg truyền tĩnh mạch.
Mở dạ dày qua da bằng nội soi.
Rối loạn tiền đình Prochlorperazin 5-25 mg x 3 lần/ngày.
Hyoscin 1,5 mg trong 3 ngày liên tiếp.
Lo lắng Động viên, thư giãn.
Diazepam 5-10 mg x 2 lần/ngày.
Truyền dịch midazolam 5-50 mg/24 giờ.
Haloperidol 1,5-5 mg x 3 lần/ngày.
Tăng Ca
+
máu Truyền nước.
Truyền dung dịch muối.
11
Biphosphonat.
Tăng Urê máu Chlorpromazin 25-50 mg x 3 lần/ngày.
2. Táo bón
Táo bón thường gặp trong giai đoạn cuối của bệnh ung thư do ít hoạt động,
uống ít nước và ngay cả môi trường chung quanh không quen thuộc. Suy yếu các cơ
bụng và sàn chậu làm giảm khả năng bài tiết qua trực tràng. Hơn nữa, hầu hết các
thuốc giảm đau mạnh, thuốc phiện, thuốc chống trầm cảm, thuốc kháng cholin gây liệt
nhẹ đám rối thần kinh của ruột và gây táo bón, nên cho thuốc nhuận tràng (nếu cần).
- Thuốc làm tăng khối lượng phân: Các loại thuốc này làm tăng sự kích thích
3.2. Khó thở
Khó thở thường chiếm 70% các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối.
Các nguyên nhân thường gặp là các bệnh ác tính ở phổi có thể gây: chèn ép đường hô
hấp, xẹp thùy phổi hay nhiễm trùng, tắc nghẽn phế quản. Các nguyên nhân phụ khác
như: tràn dịch màng phổi, xơ phổi, di căn phổi rộng, cổ chướng, viêm phổi do xạ trị,
nghẽn mạch phổi, chèn ép màng ngoài tim cấp.
Cần xác định nguyên nhân để điều trị cho phù hợp, thí dụ: suy tâm thất trái cho
lợi tiểu, viêm phổi cho kháng sinh, co thắt phế quản cho Salbutamol hay thuốc kháng
viêm dạng khí dung
3.3. Các triệu chứng ăn kém, khô miệng
Ngoài những triệu chứng thường gặp ở giai đoạn cuối, những biểu hiện khác như
suy nhược, khô miệng và ăn kém là 3 triệu chứng dễ đưa đến suy sụp cho bệnh nhân.
- Ăn kém: Phần lớn bệnh nhân ung thư ít nhiều ăn uống kém, đưa đến suy
nhược. Cần loại trừ các nguyên nhân có thể chữa trị như tưa miệng gây đau miệng,
tăng Ca+ máu, táo bón, nôn do thuốc.
+ Ban đầu cho thuốc chống nôn như metochlopramid 10 mg x 3 lần/ngày.
+ Hay dexamethason 2-4 mg/ngày sẽ giúp nhiều bệnh nhân ăn ngon và cải thiện
sức khỏe trong một thời gian.
+ Megastrol acetat (400 mg-800 mg/ngày) cũng giúp tăng sự thèm ăn.
- Khô miệng: Là triệu chứng thường gặp làm bệnh nhân khó chịu, gây ra bởi
các yếu tố liên quan đến suy nhược: mất nước, thở bằng miệng, tưa miệng; các yếu tố
liên quan đến điều trị: xạ trị vùng mặt, thuốc an thần, thuốc chống trầm cảm,
phenothiazin, thuốc chống co thắt. Nhằm giảm nhanh các triệu chứng này, cho súc
13
miệng thường xuyên 2 giờ/lần với dung dịch súc miệng nước Soda hay Bicarbonat,
điều trị nấm Candida bằng cách chà lưỡi nhẹ nhàng với một bàn chải mềm và oxy già
hòa loãng. Cho kem vaselin hay dầu thực vật thoa môi thường xuyên.
C. KẾT LUẬN
- Đau là một triệu chứng muộn, thường gặp ở người bệnh ung thư giai đoạn
trễ/cuối.