KẾ HOẠCH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN 6 “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH ĐẦU CẤP YÊU THÍCH HỌC PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH KHỐI 6 TRƯỜNG THCS THẠNH LỢI” - Pdf 35

Phòng GD – ĐT Tháp Mười

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trường THCS Thạnh Lợi

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐỔI MỚI
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP GIÚP HỌC SINH ĐẦU CẤP YÊU THÍCH HỌC PHÂN
MÔN TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH KHỐI 6 TRƯỜNG THCS THẠNH LỢI”
I. Lý do chọn đề tài
Thực trạng hiện nay học sinh ngày một trở nên xa lạ, thờ ơ với môn Ngữ văn đã trở nên
đáng báo động. Số lượng học sinh không đem tập sách, không thuộc bài, không chuẩn bị bài
hay là trốn tiết,…ngày càng nhiều. Không những vậy mà ngay cả tiếng mẹ đẻ mà học sinh
càng ngày càng xuống trầm trọng. Tiếng Việt vừa là phân môn của Ngữ Văn vừa lại là công
cụ hỗ trợ cho khả năng diễn đạt và tư duy của tất cả các môn học khác. Tuy nhiên, trong
những năm qua trong quá trình giảng dạy thì phát hiện ra số lượng học sinh gặp khó khăn
trong việc viết cũng như sử dụng từ ngữ trong khi nói ngày càng về sau lại càng tăng lên
nhất là các em học sinh lớp 6 mới lên. Nếu học sinh đọc chưa thông, viết chưa thạo, chưa
biết đặt câu đúng …thì làm sao có thể tiếp thu, cảm thụ cái hay, cái đẹp của các môn khoa
học khác. Xuất phát từ thực tiễn trên với trách nhiệm là giáo viên giảng dạy bộ môn này, để
góp phần vào công tác giảng dạy tốt hơn nhằm cải thiện phần nào tình trạng trên, giúp các
em đặc biệt là học sinh thêm yêu và tự hào về tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi xin chia sẻ một số
kinh nghiệm về công tác “Đổi mới phương pháp lên lớp giúp học sinh đầu cấp thích học
phân môn Tiếng Việt của học sinh khối 6 Trường THCS Thạnh Lợi” là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng của người giáo viên Ngữ văn.
II. Đặc điểm tình hình của trường.
1.Thuận lợi:
- Đa số các em học sinh khối 6 mới lên còn e dè dễ bảo. Phần nhiều phụ huynh còn
quan tâm.

viên văn chúng tôi.
III. Mục tiêu, nhiệm vụ:
Thực tế trong những năm gần đây, học sinh học yếu môn Văn khá nhiều. Đặc biệt là
các em học sinh đầu cấp khối 6 còn nhiều xa lạ đối với cách học và giảng dạy của cấp 2. Các
em chưa có hứng thú, say mê học phân môn Tiếng Việt, chưa xác định được động cơ học tập
đúng đắn, một số em yếu thì yếu đều các môn dẫn đễn chán học, ngại học môn Văn.
2


Theo tôi môn Ngữ văn là môn văn hóa nhưng nó lại là một trong những môn hình thành
nhân cách của học sinh và phải tác động ngay từ đầu cấp để phần nào các em sẽ có cái nhìn
đúng đắn hơn. Vả lại trong mấy năm gần đây tình hình các em không thích học Ngữ văn và
đạo đức của học sinh bị xuống cấp trầm trọng đi ngược lại phương châm “Tiên học lễ, hâu
học văn” ngày càng gia tăng.
Chính những lí do quan trọng trên và hơn nữa, để tiếp tục thực hiện chủ trương giúp đỡ
học sinh yếu học tốt bộ môn đồng thời cũng tránh được hiện tượng tiêu cực trong giáo dục.
Trên cơ sở tìm tòi nghiên cứu tài liệu và thực tiễn dạy ở trường học, tôi xin đưa ra một số
giải pháp nhằm giúp các em học yếu phân môn Tiếng Việt có thể vươn lên và đạt yêu cầu cơ
bản của bộ môn Ngữ Văn trong chương trình phổ thông và phần nào giảm tỉ lệ học sinh yếu
của trường.
IV. Cách thực hiện:
1. Cơ sở đề xuất các giải pháp:
Không ai trong chúng ta không thừa nhận rằng: hiện nay chất lượng dạy – học môn
Văn trong nhà trường còn hạn chế. Môn Văn không được các em yêu mến đặc biệt là môn
Tiếng Việt vì các em cho rằng Tiếng Việt rất khô khan. Đặc biệt các em khối 6 mới lên lại
càng khó khăn hơn. Trước yêu cầu dạy và học bộ môn theo hướng đổi mới, một số học sinh
gặp khó khăn, kiểm tra thường xuyên bị điểm kém, đó là những học sinh yếu bộ môn…Sự
yếu kém đó tập trung vào các phương diện sau:
- Mất căn bản.
- Nhiều lỗ hổng kiến thức và kĩ năng.

để các em tìm hiểu và tự bổ sung phần nào các từ ngữ cho bản thân.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên tạo ra các tình huống dùng hành động ngôn ngữ
có bối cảnh giao tiếp thực sự (Ngữ cảnh) nhằm kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng
giao tiếp của học sinh.
- Trong các tiết dạy giáo viên vừa bổ sung ngôn ngữ vừa kết hợp giáo dục đạo đức,
cách cư xử, các kĩ năng sống và tư tưởng Hồ Chí Minh để học sinh có thể thích ứng với cuộc
sống. Đôi lúc kể một vài mẫu truyện vui mang tính giáo dục các em. Cho các em rút ra các
bài học sau khi kể. Hay đôi lúc có những câu khôi hài làm các em hứng thú, ít áp lực hơn khi
học Ngữ văn.
Vd:

- Khi nào Mai trở về Hà Nội?
- Ngày mai.

4


Đoạn đối thoại trên chỉ có thể được hiểu khi đặt vào ngữ cảnh. Nếu không có ngữ cảnh
thì câu trả lời trên bị mắc lỗi thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ.
Thứ tư: Hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của từ:
Thông qua việc dạy nghĩa một từ mà giáo viên truyền đạt luôn những tri thức cần thiết
khác về từ vựng ngữ nghĩa, nhằm tạo cho học sinh không hiểu được và sử dụng đúng cái từ
ấy mà còn làm cho học sinh nắm bắt được những cái tinh tế chứa đựng trong đó, hiểu được
đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc, gây cho học sinh ý thức tôn trọng ngôn ngữ dân tộc thói quen
cân nhắc, lựa chọn khai thác triệt để cái hay cái đẹp trong từ để nâng lên mức cao nhất chất
lượng nội dung, hình thức câu văn nói và viết của học sinh.
Một từ là một hợp thể giữa ngữ nghĩa và thành phần hình thức: hình thức ngữ âm, hình
thức cấu tạo và hình thức ngữ pháp. Trong đó câu nói đến quan hệ giữa các từ tạo nên quan
hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, quan hệ giữa từ địa phương, từ vay mượn với các từ Việt hoặc
Việt hoá, làm cho học sinh nắm bắt được tất cả những thành phần, những quan hệ đó là nội

người giảng là khái quát càng cao càng tốt, lời giảng phải đầy đủ, tránh khuyết điểm chỉ
đúng với bộ phận ý nghĩa, nên chú ý đừng lẫn lộn nghĩa của từ với nghĩa của ngữ.
Giảng nghĩa từ trong ngôn cảnh là cách giảng nghĩa thường gặp trong các giờ giảng
văn, khi ấy chúng ta chỉ cần giảng một nghĩa nào đó cần cho ngôn cảnh đó mà thôi.
Thứ năm: Giúp học sinh hiểu được phân môn Tiếng Việt và Văn:
Trong quá trình giảng dạy Văn chúng ta không thể bỏ qua môn Tiếng Việt. Song không
thể tách rời giữa Văn và Tiếng Việt mà phải xác định cần có Tiếng Việt, Tiếng Việt phục vụ
cho Văn. Bất kì một tiết dạy Tiếng Việt nào, giáo viên cũng cần cung cấp những kiến thức
cơ bản của bài học đó nhưng rõ ràng sẽ hiệu quả hơn nếu giáo viên đem kiến thức đó áp
dụng vào văn, vào thơ để học sinh ứng dụng, thực hành và hiểu giá trị những kiến thức mình
học.
Chẳng hạn: Khi phân tích sự giàu đẹp của Tiếng Việt, để học sinh cảm nhận sâu sắc
hơn về cái đẹp cái hay của Tiếng Việt thì ta phải lấy dẫn chứng từ trong thơ văn để phân
tích:
Ví dụ 1: Bài thơ Chinh phụ ngâm rất hài hòa về nhịp điệu.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Ví dụ 2: Sự hài hòa về mặt ngữ âm
“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi“

6


Ví dụ 3: Cùng chỉ về người Mẹ, Tiếng Việt có nhiều cách gọi khác nhau: Má, U,
Bầm...
Thứ sáu: Động viên khích lệ:
- Đây là biện pháp chủ yếu vì học sinh càng chán học khi được động viên khích lệ thì sẽ

học sinh khối 6 bước đầu có thay đổi, không còn than vãn và nhiều học sinh đã chú lắng
nghe giáo viên giảng dạy, góp phần nào giảm tỉ lệ học sinh học thụ động đáng kể, nhiều em
học yếu không thích học đã có sự tiến bộ rõ rệt và chất lượng bộ môn cũng được cải thiện
phần nào ở lớp được đảm nhận. Nhưng do kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều nên không
tránh khỏi thiếu sót mong quý thầy cô đóng góp để đề tài đổi mới này được hoàn thiện hơn.
VI. Kiến nghị
Để có thể nâng cao chất lượng dạy – học môn Văn đồng thời giảm tải tỉ lệ học sinh yếu
bộ môn, chúng ta cần có sự chung tay phối hợp của các ban nghành, đoàn thể trong nghành
giáo dục:
- Cần bổ sung kịp thời các thiết bị dạy học: tranh, dụng cụ nghe nhìn minh họa cho bài
giảng, tài liệu tham khảo,...
- Ban giám hiệu nên giảm áp lực cho giáo viên khi đứng lớp, nhất là môn Ngữ văn.
- Nên trang bị một phòng máy để thuận tiện cho việc ứng dụng CNTT vào quá trình đổi
mới phương pháp dạy học.
Thạnh Lợi, ngày 09 tháng 09 năm 2015
Duyệt của BGH

Người viết

Hiệu Trưởng

Võ Thị Kim Huệ

8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status