ảnh hưởng cuả việc xây dựng quy hoạch nông thôn mới đến đời sống nhân dân xã quỳnh minh huyện quỳnh phụ tỉnh thái bình - Pdf 35



Danh mục các từ viết tắt
UBND

Ủy ban nhân dân

SU

Phong trào làng mới

HTX

Hợp tác xã

NTM

Nông thôn mới

EU

Liên minh châu Âu

THCS

Trung học cơ sở

HĐND

Hội đồng nhân dân


Học tập cộng đồng


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của các quốc
gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi
mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt
được thành tựu khá toàn diện và to lớn song tình trạng quy hoạch nông thôn ở Việt
Nam hiện nay còn chồng chéo manh mún, không đồng bộ. Đời sống của người dân
chưa thực sự được đảm bảo, với mong muốn được nâng cao chất lượng cuộc sống
của bản thân và gia đình, nhiều người đã từ bỏ quê hương lên thành phố gây dựng cơ
nghiệp. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng gia tăng
nhanh chóng dân thành thị. (Theo số liệu thống kê năm 2009) dân số thành thị tăng
với tốc độ trung bình là 3,4% mỗi năm trong khi tốc độ này ở khu vực nông thôn chỉ
là 0,4% mỗi năm. Tình trạng này kéo theo nhiều vấn đề xã hội nảy sinh: mất trật tự
anh ninh xã hội, ô nhiễm môi trường, gia tăng tệ nạn xã hội, tắc đường... Chính vì
vậy việc làm cho nông thôn một bộ mặt mới để tạo điều kiện cho người dân có thể
ổn định phát triển kinh tế là việc vô cùng cấp thiết và quan trọng.
Từ đó, Đảng - Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và triển khai mô hình dự án nông
thôn mới, ban hành nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Quyết định số 800/QĐ-TTg
ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới. Dự án xây dựng nông thôn mới với mục đích thúc đẩy nền
kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của những con người thuần
nông, hướng những vùng nông thôn Việt Nam phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ
tầng, kinh tế, xã hội hiện đại. Để từ đó môi trường sinh thái được bảo vệ, nâng tầm
tri thức của người dân, hệ thống an ninh tốt, quản lý dân chủ và chất lượng hệ thống
chính trị được nâng cao, hơn hết chúng ta vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc.

2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Khái quát chủ chương, chính sách xây dựng nông thôn mới
- Nghiên cứu tìm hiểu về quy hoạch nông mới
- Hiệu quả của việc xây dựng nông thôn mới
- Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới
2


- Đề xuất giải pháp khắc phục những khó khăn trong quá trình xây dựng nông thôn
mới tại xã Quỳnh Minh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
2.2. Yêu cầu
- Tìm hiểu thực trạng nông thôn mới hiện nay
- Đánh giá thực trạng của quy hoạch nông thôn mới thông qua 19 chỉ tiêu trên địa
bàn xã Quỳnh Minh
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của việc xây dựng nông thôn mới ở xã Quỳnh Minh
tới mọi mặt của xã hội như: Việc làm, mức thu nhập của người dân...
- Đề xuất giải pháp để phát huy hiệu quả, khắc phục khó khă của quá trình xây dựng
nông thôn mới.

3


CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản về nông thôn và nông thôn mới
Khái niệm, đặc trưng cơ bản về nông thôn
Khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.

thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta
xây dựng nông thôn mới ở cấp xã. Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây
với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung của
cả nước được định trước.
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí
điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm.
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai
làm hộ, người nông dân tự xây dựng.
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc
gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn.
1.1.2. Tình hình phát triển nông thôn của các nước trên thế giới
Trong mỗi một quốc gia đều có sự phát triển chênh lệch giữa hai khu vực: Khu
vực nông thôn là nơi sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề truyền thống liên quan
đến nông nghiệp; khu vực thành thị là nơi sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch
vụ. Kéo theo sự phát triển công nghiệp là hàng loạt các vấn đề về môi trường nảy
sinh đòi hỏi phải có những giải pháp sửa chữa của sự phát triển tự do, ồ ạt trong
thành thị. Do đó, quy hoạch nông thôn rất ít được chú ý từ việc xây dựng lí thuyết
đến việc triển khai áp dụng cho thực tiễn. Vì vậy, đây là một vấn đề mới. Mỗi nước
tùy điều kiện về tự nhiên - kinh tế, xu hướng chính trị mà có mô hình phát triển nông
thôn riêng, nhưng đều có chung mục tiêu là phát triển sản xuất và nâng cao đời sống
để hạn chế sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị. Sau đây là một số nước điển
hình về xây dựng nông thôn tại các châu lục trên thế giới:
Sơ lược tình hình phát triển nông thôn ở các nước Tây Âu
Các nước Tây Âu đều có đặc điểm là nền công nghiệp rất phát triển trong đó nền
nông nghiệp được cơ giới hóa năng suất lao động trong nông nghiệp vì thế mà được
nâng cao. Cuộc sống ở nông thôn nhiều khi lại là ao ước của người dân thành thị.
5




6


đồng và khu vực tiêu thụ chế biến. Đây là một công việc khó khăn và tốn kém vì
phải xây dựng mới hoàn toàn cả một hệ thống đường.
Sơ lược tình hình phát triển nông thôn ở Châu Mỹ mà điển hình là nước Mỹ.
Tại Mỹ: Phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp” bằng cách: Tăng cường sử
dụng lao động có trình độ cao và sử dụng những khoản đầu tư lớn; tạo điều kiện
thuận lợi cho người nông dân làm việc trên cánh đồng bằng các trang thiết bị hiện
đại; sử dụng công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh
và chịu hạn; sử dụng phổ biến phân hóa học và thuốc trừ sâu; công nghệ vũ trụ được
sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa
màng; định kì, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và
những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo
các hồ nhân tạo để nuôi cá.
Sơ lược tình hình phát triển nông thôn tại Liên Bang Xô Viết (cũ) và các nước
Đông Âu.
Với mục tiêu phát triển của đất nước là sự công bằng xã hội và ấm no hạnh phúc
cho toàn dân các nước Tây Âu, Liên Xô và các nước Đông Âu đã xây dựng nông
thôn theo mô hình phát triển nông thôn xã hội chủ nghĩa.
Tại Liên Xô(cũ): Xây dựng nông thôn với mục tiêu sản xuất nông nghiệp theo
quy mô lớn, hiện đại; xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn. Tổ chức từng
bước hợp nhất các nông trang tập thể thành một đơn vị sản xuất lớn, các điểm dân cư
rải rác cũng được tập trung lại tạo điều kiện cho việc xây dựng các nông trang tập
thể. Quy hoạch khu ở theo dạng bàn cờ được triển khai, bên cạnh đó chất lượng công
trình phải được đảm bảo, giải phóng mặt bằng tự do để bảo vệ địa hình và phong
cảnh. Tầng cao phổ biến từ 3 - 4 tầng, ít nhà một hộ riêng biệt. Các khu vực nông
thôn truyền thống được giữ lại và nâng cấp dần theo sự phát triển sản xuất của mỗi
khu vực.

nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên
một cách khoa học và hợp lý. Từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài
nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái;
giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải
sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng,
Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi
lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất
canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác
trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng
các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước… Về lĩnh vực
công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung
sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời
cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm
9


năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng
trong nước và nhập khẩu. Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như
sản xuất hàng nông nghiệp, thủy hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công
nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước
công nghiệp phát triển. Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển
rất mạnh nhờ một số chính sách sau: Chính sách phát triển nông nghiệp; chính sách
bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; mở cửa thị trường khi thích hợp...
Nhận xét:
Qua nghiên cứu một số lý luận và thực tiễn phát triển nông thôn ở một số nước,
với sự hiểu biết về chính sách xây dựng nông thôn mới. Chúng ta có thể thấy: quy
hoạch khu dân cư một cách hợp lý là điều tất yếu để phát triển nông thôn hiện đại.
Trong đó xây dựng mạng lưới giao thông cần được đặt lên hàng đầu, kèm theo là
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân dựa vào đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất, hạ tầng kĩ thuật phù hợp với từng địa phương là vô cùng quan trọng đồng

thông qua phương án quy hoạch tổng thể trung tâm xã lần 1 và quy hoạch phát triển
mạng lưới điểm dân cư nông thôn lần 2. Dự kiến đến hết ngày 30/9/2011, tất cả các
xã sẽ phê duyệt xong quy hoạch xây dựng NTM và quy hoạch trung tâm xã.
Như vậy có thể khẳng định với sự quyết tâm cao, sự vào cuộc của cả hệ thống
chính trị, sự đồng thuận trong nhân dân đã huy động được sức mạnh tổng hợp trong
toàn dân tham gia thực hiện Chương trình xây dựng NTM. Do đó, chương trình xây
dựng NTM trên địa bàn toàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo động
lực để tỉnh Quảng Ninh về đích sớm so với cả nước.
Xây dựng nông thôn mới tại Yên Bái
Năm 2011 là năm đầu tiên Yên Bái triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về
xây dựng nông thôn mới. Tỉnh đã lựa chọn 11 mô hình điểm về xây dựng nông thôn
mới, trong đó UBND tỉnh chỉ đạo xây dựng 2 mô hình điểm tại xã Đại Phác, huyện
Văn Yên và xã Tân Đồng, huyện Trấn Yên.
Tại hội nghị đánh giá tình hình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới. Mới đây, ban chỉ đạo xác định toàn tỉnh chưa có xã nào đạt đủ
19 tiêu chí; có 50% số xã đáp ứng được tiêu chí về hệ thống điện; 90% số xã đáp ứng
đáp ứng được tiêu chí an ninh trật tự xã hội; 40% số xã đạt các tiêu chí về hệ thống
chính trị, y tế, giáo dục. Hội nghị cũng đề ra mục tiêu hoàn thành việc quy hoạch xây
dựng nông thôn trên phạm vi cấp xã; hoàn thành đề án xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới tại Tuyên Quang

11


Theo đánh giá của Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang, trong
129 xã thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, có 4
xã đạt từ 8 - 9 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, 37 xã đạt từ 5 - 7 tiêu chí, 88 xã còn
lại đạt dưới 5 tiêu chí. 19 tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới là những tiêu chí
toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Để đạt được những tiêu chí về xây
dựng nông thôn mới, vấn đề quy hoạch tổng thể là rất cần thiết, bên cạnh đó chính

nông thôn mới. Còn lại 6 tiêu chí chưa đạt bao gồm tiêu chí về thu nhập bình quân
đầu người, tiêu chí về tỷ lệ hộ nghèo và tiêu chí về cơ cấu lao động.
Và thực tế cho thấy Quỳnh Minh cũng đang lúng túng trước những khó khăn như:
thiếu kinh phí thực hiện, đất nông nghiệp manh mún, hệ thống hạ tầng thiếu đồng bộ,
xuống cấp... khó tháo gỡ. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới việc quy hoạch sử dụng
đất của xã. Đây cũng là thách thức lớn cho Đảng bộ, chính quyền nhân dân xã Quỳnh
Minh. Nếu không có bước đi đúng đắn, hướng điều chỉnh quy hoạch phù hợp thì ảnh
hưởng của nó tới người dân là không nhỏ, dẫn đến sự trì trệ trong viêc phát triển nền
kinh tế khu vực, cũng như sự phát triển của quốc gia. Cần xem xét lại kế hoạch xây
dựng, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội, để đưa ra những giải pháp thiết thực, xây
dựng có hiệu quả mô hình nông thôn mới. Nhằm đưa đất nước phát triển theo hướng
mà Đảng và nhà nước đã đề ra.
1.2. Cơ sở pháp lý
1.2.1. Các văn bản pháp lý
Thể hiện qua các văn kiện:
- Nghị quyết 26/BCHTW về nông thôn, nông nghiệp, nông dân.
- Nghị quyết 26-NQ/TW đề ra, Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Quyết định 800/QĐ-TTg
ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình “Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới 2010-2020”.
- Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003
- Căn cứ vào Đề án xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới ngày 14/12/2008
của Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Căn cứ vào Thông báo số 462-TB/TU ngày 23/02/2009 của Thường trực tỉnh ủy
Thái Bình xây dựng điểm mô hình nông thôn mới
- Căn cứ Kế hoạch số 65- KH-BCĐ ngày 26/03/2009 của Ban chỉ đạo xây dựng mô
hình nông thôn mới tỉnh Thái Bình
- Căn cứ Thông tư số 07/2008/TT-BXD ngày 07/4/2008 của Bộ xây dựng hướng
dẫn lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng
13

- Các văn bản QPPL khác.
1.2.2. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

14


Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được
quy định tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng
đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các
tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn
- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc
gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở
nông thôn; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần
kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư.
- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội đảm
bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh), có quy hoạch và cơ
chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ
thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).
- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền
đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực
hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ
quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị – xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát
huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới.
1.2.3. Nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới.
Có 5 nguồn chính:
- Nguồn đóng góp của cộng đồng, bao gồm:
+ Công sức, tiền của đầu tư cải tạo nhà ở, xây mới và nâng cấp các công trình vệ
sinh phù hợp với chuẩn mới; Cải tạo ao, vườn để có cảnh quan đẹp và có thu nhập;
Cải tạo cổng ngõ, tường rào phong quang, đẹp đẽ…

đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y
tế xã; xây dựng nhà văn hoá xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng
NTM cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã
Hỗ trợ một phần từ ngân sách trung ương cho xây dựng công trình cấp nước sinh
hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và
kênh mương nội đồng; phát triển sản xuất và dịch vụ; nhà văn hoá thôn, bản; công trình
thể thao thôn, bản; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản;
Vốn hỗ trợ một phần cho các công trình khác (tùy theo từng vùng kinh tế - văn hóa)
Vốn lồng ghép từ các chương trình MTQG khác: Chương trình giảm nghèo, Chương
trình dân số kế hoạch hóa gia đình… và các chương trình có mục tiêu khác (Chương
trình 135, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình hỗ trợ khám bệnh cho
trẻ em dưới 6 tuổi…
Vốn trái phiếu Chính phủ (nếu có)
1.2.4.2. Chính sách hỗ trợ tín dụng.
a. Đối tượng được hưởng bao gồm:
Hộ gia đình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn; cá nhân; chủ trang trại; hợp
tác xã, tổ hợp tác (nhóm đồng sở thích) trên địa bàn nông thôn; các tổ chức, cá nhân
cung ứng các dịch vụ phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu
sản phẩm nông – lâm – diêm - thủy sản; các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ, chế biến
sản phẩm nông nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm phi nông nghiệp trên địa bàn nông
thôn.
b. Các lĩnh vực được ưu tiên vay vốn:
Vay cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, diêm, thủy sản; vay phát
triển ngành nghề tại nông thôn; vay đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn; vay để kinh
doanh sản phẩm và dịch vụ phục vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông – lâm –
diêm - thủy sản trên địa bàn nông thôn; vay để sản xuất công nghiệp, thương mại, cung
ứng dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn; vay tiêu dùng nhằm nâng cao chất
17



- Đối tượng nghiên cứu: Về quy hoạch nông thôn mới, ảnh hưởng của nông thôn
mới đến các hộ gia đình.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Quỳnh Minh–
Quỳnh Phụ - Thái Bình
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Quỳnh Minh
- Thực trạng nông thôn mới
- Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý của quy hoạch nông thôn mới
- Điều tra, thu thập, tổng hợp số liệu để đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch nông
thôn mới trên địa bàn xã Quỳnh Minh – Quỳnh Phụ - Thái Bình
- Ảnh hưởng đời sống của nhân dân trong quy hoạch nông thôn mới
- Giải pháp đến đời sống nhân dân trong xã
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Các phương pháp tổng hợp thống kê
2.3.1.1. Phân tổ thống kê
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành
phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính
chất khác nhau. Phân tổ là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê.
Tổ 1: Điều tra thôn Địa Linh, Đông Trụ
Tổ 2: Điều tra thôn Giáo Thiện, Thượng Xá, An Ký
2.3.1.2. Bảng thống kê
Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các số liệu thống kê một cách có hệ thống,
lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của các hiện tượng
nghiên cứu.
2.3.1.3. Đồ thị thống kê
Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả có tính
chất quy ước các số liệu thống kê. Đồ thị thống kê được sử dụng trong báo cáo này
19



3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1. Vị trí
Xã Quỳnh Minh là một xã nằm ở phía Đông Bắc của huyện Quỳnh Phụ, cách thị
trấn Quỳnh Côi khoảng 4 km, cách thành phố Thái Bình 30km. Với vị trí địa lý:
- Phía Bắc giáp xã Quỳnh Thọ
- Phía Nam giáp xã Quỳnh Hội
- Phía Đông giáp xã An Thái, An Ấp
- Phía Tây giáp xã Quỳnh Hồng
3.1.1.2. Địa hình
Nằm trong vùng Đông bắc bộ nên địa hình nhìn chung tương đối bằng phẳng, dốc
từ bắc xuống đông nam, từ khu dân cư ra sông, độ cao so với mặt nước biển khoảng
từ 0,75 - 1,65m.
Trên địa bàn xã có trục đường Vân - Minh - Thọ ( ĐH 75), Hải - Minh - Thái
(ĐH 76), Thọ - Minh ( ĐH 75B) chạy qua giúp lưu thông thuận tiện cho việc phát
triển KT - XH với trong và ngoài huyện, có sông Diêm, sông Sành và sông Minh
Hồng chảy qua, là nguồn nước tưới tiêu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
3.1.1.3.Khí hậu, thời tiết
Xã Quỳnh Minh nằm trong hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình, là khu vực nhỏ
thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ nên khí tượng thủy văn đều mang những nét chung của nơi
đây.
a.Khí tượng
- Tổng lượng mưa trung bình ở Thái Bình lớn hơn các tỉnh khác ở Đồng Bằng Bắc
Bộ
- Gió: Có hai mùa gió chính trong năm:
+ Gió Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10, gió thổi từ ngoài biển vào mang theo
nhiều hơi nước gây ra mưa rào.

21


Báo động 3

1

Cống Đại Nẫm

+ 2,59

+ 3,33

+ 4,03

3.1.1.4.Mối liên hệ vùng
Quỳnh Minh nằm ở vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, nằm cách thị trấn
Quỳnh Côi 4km, đồng thời xã có 3 tuyến đường huyện lộ: Từ Cầu Sành đi Quỳnh
Thọ; tuyến đường từ Ngã Tư Tiên Bá đến ngã ba An Ký Trung; tuyến đường từ cầu
Me đi Quỳnh Hải. Xã Quỳnh Minh nằm trong định hướng không gian phát triển kinh
tế - xã hội của huyện Quỳnh Phụ.
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status