Mục lục
Mở đầu………………………………….…………………………………………4
1.Lý do chọn đề tài………………………………………………………..………4
2.Mục đích, ý nghĩa của đề tài…………………………………………..………...5
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………………………….6
4.Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….…………..7
5.Bố cục luận văn………………………………………………………………….8
6.Đóng góp của luận văn…………………………………………….……………8
Chương 1: Tài nguyên văn hoá của tỉnh Nghệ An………………….……………11
1.1. Khái quát về tỉnh Nghệ An…………………………………………………..11
1.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của Nghệ An……………………………..11
1.1.2.Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên………………………………………18
1.1.3. Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội………………………………………….23
1.2. Tài nguyên văn hoá vật thể…………………………………………………...28
1.2.1.Các di tích lịch sử văn hoá và cách mạng tiêu biểu…………………………28
1.2.2. Các công trình kiến trúc, mĩ thuật tiêu biểu………………………………..33
1.2.3. Các danh lam thắng cảnh tiêu biểu…………………………………………36
1.3. Tài nguyên văn hoá phi vật thể……………………………………………….38
1.3.1. Phong tục tập quán tiêu biểu………………………………………………..38
1.3.2. Lễ hội tiêu biểu…………………………………………………………….41
1.3.3. Các tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu………………………………………….44
1.3.4. Các làng nghề truyền thống………………………………………………...46
1.3.5. Ẩm thực truyền thống tiêu biểu…………………………………………….49
1.3.6. Nghệ thuật diễn xướng tiêu biểu…………………………………………...53
1.4. Tiểu kết........................................................................................................55
1
Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên văn hoá phục vụ phát
triển du lịch của Nghệ An……………………………………………………….58
của Nghệ An…………………………………………………………………….116
3.2.4. Giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa của Nghệ An ……...…………..117
3.2.5. Giải pháp về Marketing trong du lịch văn hoá của Nghệ An..…..………120
3.2.6. Giải pháp về bảo tồn các tài nguyên văn hóa trong du lịch Nghệ An……122
3.2.7. Giải pháp về an toàn du lịch trong du lịch văn hoá Nghệ An..…………..124
3.3. Tiểu kết………………………………………………...……………………126
Kết luận………………………………………..…………………………………129
Tài liệu tham khảo…………………………….…………………………………131
Phụ lục………..…………………………………..……………………………...135
Danh mục các chữ viết tắt:
TP: Thành phố
Nxb: Nhà xuất bản
Dvdl: dịch vụ du lịch
CSLT: Cơ sở lưu trú
TMHH: Thương mại hàng hóa
Dl: du lịch
VND: Việt Nam đồng
USD: đô la
UBDS&KHGD: Ủy ban dân số & khoa học gia đình
GS.TS: Giáo sư tiến sỹ
PGS.TS: Phó giáo sư tiến sỹ
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Nghệ An là vùng đất địa linh nhân kiệt, có bề dày lịch sử truyền
thống và có nguồn tài nguyên tự nhiên cũng như tài nguyên nhân văn
ẩm thực, lễ hội… chưa được phổ biến rộng rãi phục vụ cho nhu cầu du
lịch. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu khó hấp dẫn được du khách, trong
khai thác kinh doanh chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho toàn ngành
du lịch của tỉnh. Bên cạnh sự phát triển của nền kinh tế và biến đổi trong
đời sống con người, xã hội ảnh hưởng tới các yếu tố văn hoá bản địa
ngày càng mai một, nguồn tài nguyên nhân văn bị khai thác một cách
không bền vững cho những mục đích khác nhau, thậm chí phát triển một
cách sai lệch đi ngược với thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng các giá trị
văn hóa truyền thống. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu việc khai
thác tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An để phục vụ cho phát triển
du lịch ” qua khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện
khai thác nguồn tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh Nghệ An để có thể
tìm ra những nguyên nhân tồn tại, những hạn chế khó khăn trong việc
khai thác các loại tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An phục vụ cho phát
5
triển du lịch từ đó đưa ra chiến lược khai thác hiệu quả và sản phẩm du
lịch phù hợp để nâng cao chất lượng đáp ứng mọi nhu cầu của khách du
lịch, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và hướng tới thị
trường nước ngoài nhằm tăng hiệu quả kinh tế, giao lưu văn hóa và phát
triển du lịch cũng như bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn và các yếu tố
văn hoá bản địa.
2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện của
nguồn tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An trong việc phục vụ phát
triển du lịch, luận văn hướng tới những mục đích và ý nghĩa sau:
Xác định được vai trò nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cũng như
yếu tố văn hoá trong phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế của
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các loại tài nguyên du lịch
văn hoá của tỉnh Nghệ An, di sản văn hoá của Nghệ An. Các tổ chức, cơ
quan quản lý về du lịch văn hoá. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du
lịch văn hoá, các sản phẩm du lịch văn hoá. Trong đó có các tài liệu, các
vấn đề thực tế các hoạt động du lịch văn hoá ở Nghệ An, những tồn tại ở
các công ty du lịch, cơ quan quản lý du lịch.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn
7
Phạm vi thời gian: hoạt động du lịch văn hoá ở Nghệ An trong khoảng
thời gian hiện tại từ năm 2000 đến 2010
Phạm vi không gian: các hoạt động du lịch văn hoá trên địa bàn tỉnh
Nghệ An
Phạm vi vấn đề: Nghiên cứu tài nguyên du lịch văn hoá của Nghệ an,
thực trạng khai thác tài nguyên văn hoá trong du lịch ở Nghệ An. Một số
đề xuất và kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại để phát triển du lịch
văn hoá tại tỉnh Nghệ An.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu và xử lý thông tin. Là
phương pháp nhằm tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan như thu thập các
tài liệu về văn hóa, tài liệu về tài nguyên văn hóa, các tài liệu liên quan
đến tổ chức, hoạt động kinh doanh, xúc tiến quảng bá du lịch…Và
những tài liệu, thông tin về ngành du lịch của tỉnh Nghệ An, về tài
nguyên du lịch Nghệ An, các tài liệu, sách báo, bài viết về Nghệ An từ
đó có cái nhìn tổng quan và cụ thể các vấn đề liên quan giúp cho tác giả
khai thác thông tin, xử lý thông tin cung cấp cho luận văn.
Phương pháp quan sát sự vật hiện tượng. Là phương pháp điều tra,
thác nguồn tài nguyên du lịch phục vụ cho phát triển du lịch. Tài nguyên
9
du lịch văn hóa của Nghệ An khá phong phú và đa dạng ở nhiều loại
hình văn hóa như văn hóa vật thể và phi vật thể trải khắp các huyện thị
trong toàn tỉnh. Văn hóa vật thể như các di tích lịch sử văn hóa, các công
trình kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như khu du lịch
Kim Liên với các cụm di tích gắn quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, khu
du lịch thành phố Vinh hội tụ các di tích lịch sử có công trình kiến trúc
nghệ thuật và những danh lam thắng cảnh hấp dẫn. Ngoài ra có những
điểm du lịch nổi tiếng có giá trị văn hóa ở các huyện thị như đền Cờn ở
Quỳnh Lưu, đền Quả ở Đô Lương… rất linh thiêng và cảnh đẹp, thành
Lục Niên núi Thiên Nhẫn và cụm di tích ở các huyện miền núi nơi phát
hiện ra di tích khảo cổ của người xưa gắn liền với văn hóa Đông Sơn…
Hay các tài nguyên văn hóa phi vật thể đặc sắc như các lễ hội truyền
thống tưởng nhớ công ơn của các vị anh hùng gắn liền với các di tích, lễ
hội làng Sen, lễ hội sông nước, lễ hội của đồng bào dân tộc ít người, các
làn điệu dân ca mê đắm lòng người, các làng nghề thủ công truyền thống
các phong tục tập quán của dân cư địa phương, của dân tộc anh em… rất
đặc trưng. Những năm gần đây kinh tế của tỉnh có nhiều tiến triển vượt
bậc, đời sống người dân nâng cao, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật được
xây dựng nhiều, đặc biệt là những nơi công cộng phục vụ cho nhu cầu
tinh thần của người dân, các công trình giao thông được mở rộng phục
vụ nhu cầu đi lại…Mặc dù có khá nhiều những điều kiện thuận lợi tuy
nhiên tỉnh cũng gặp phải những hạn chế khó khăn như kinh tế nhiều
huyện thị đặc biệt vùng miền núi xa hẻo lánh kinh tế nghèo nàn lạc hậu,
10
văn hóa trong kinh doanh du lịch, giải pháp về an toàn trong du lịch.
12
CHƯƠNG 1: TÀI NGUYÊN VĂN HOÁ CỦA TỈNH NGHỆ AN
1.1. Khái quát về tỉnh Nghệ An
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Nghệ An
Lịch sử Nghệ An nằm trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các thế hệ
cha ông nơi đây đã góp phần cùng nhân dân cả nước dựng nên nền văn
minh sông Hồng, văn minh Đại Việt, chinh phục cải tạo tự nhiên, xây
dựng xóm làng, chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc. Từ
thời tiền sử, các di tích khảo cổ cho thấy dấu tích của người vượn cổ
phát hiện ở hang Thẩm Ồm, Thẳm Bua, Đồng Bua huyện Quỳ Châu có
niên đại cách đây hai mươi vạn năm. Một số dấu tích người tối cổ ở đồi
Dùng, đồi Rạng thuộc nền văn hóa Sơn Vi, cho đến văn hóa Hòa Bình,
miền ven biển thuộc văn hóa Quỳnh Văn…Họ sống bầy đàn, hái lượm,
săn bắt bằng công cụ thô sơ, cư trú vùng núi phía Tây và trung du. Nền
nông nghiệp nương rẫy, lúa nước dần hình thành. Đến thời Văn Lang Âu Lạc cùng với các tộc người khác ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng
bằng Bắc Bộ, các tộc người cổ cùng xây dựng đất nước Văn Lang – Âu
13
Lạc, họ lao động và đạt nhiều thành quả nhất định như trình độ tinh xảo
trong kỹ thuật chế tác đá và khai thác, luyện đồng tạo nên công cụ lao
động, vũ khí, nhạc cụ…Sự phát triển của nghề luyện kim thúc đẩy sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến chuyển biến sâu xa trong
đời sống xã hội. Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, hái
lượm săn bắn, đánh cá, chăn nuôi, làm gốm, dệt vải. Đặc biệt là chế tác
Nam giáp với Chăm Pa. Thời Lý Thái Tông năm (1030) lấy tên Nghệ
An thay cho tên Hoan Châu. Thời Trần, Nghệ An đổi thành trấn Lâm An
và Diễn Châu đổi thành trấn Vọng Giang. Trong thời kỳ độc lập này,
trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của Nghệ An thấp hơn so với
vùng đồng bằng sông Hồng. Việc di dân, khai thác đất đai, cư dân đông
đúc, nhiều làng mạc ra đời, phát triển nông nghiệp lúa nước và xây dựng
các công trình thủy lợi, kênh mương nối liền sông. Thời Trần nơi đây có
học trò ưu tú tham gia thi Hội, thi Đình đỗ trạng nguyên và nhiều nhà
văn hóa nổi tiếng. Năm 1279, xây dựng đền Cờn ở Quỳnh Lưu là kiến
trúc tín ngưỡng dân gian đầu tiên của Nghệ An. Nghệ An là hậu phương
quan trọng đóng góp nhiều nhân tài, quân binh, lương thảo trong kháng
chiến chống Tống và quân Nguyên Mông, phía Nam thì chống xâm
phạm của quân Chăm Pa ở giữa thế kỷ XIV.
15
Thế kỷ XV, Nghệ An là căn cứ chủ yếu hai cuộc khởi nghĩa Trần
Ngỗi, Trần Quý Khoáng, Nguyễn Vĩnh Lộc. Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ
khởi nghĩa Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến
vào đóng quân ở Nghệ An, nhờ sức người quân Lam Sơn tiêu diệt toàn
bộ quân địch và xây thành Lục Niên ở núi Thiên Nhẫn làm căn cứ và
thừa thắng tấn công ra Bắc giành được thắng lợi, cuối năm 1427, Vương
Thông rút quân về nước, quân Lam Sơn toàn thắng. Năm 1969, Lê
Thánh Tông hợp Nghệ An và Diễn Châu thành thừa tuyên Nghệ An gồm
9 phủ, 25 huyện, 2 châu, ở thời này tình hình tương đối ổn định. Về kinh
tế, chính sách khuyến nông, chiêu dân lập ấp, khai hoang, cày cấy. Thủ
công nghiệp phát triển như nghề gạch ngói, dệt, ở Quỳnh Đôi, rèn sắt
Nho Lâm, Diễn Châu, gốm Chợ Bộng, Yên Thành, mộc ở Nam Đàn…
Chợ hình thành giao thương tấp nập. Về giáo dục văn hóa, vua Lê Thánh
Tông cho lập trường thi Hương, tổ chức hơn 100 khoa thi, có 57 người
Xuân Dục…Y dược có Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Danh Sưởng…Văn
hóa dân gian phát triển phong phú đa dạng, lễ hội với nhiều sinh hoạt
như hát ví, hát dặm, đánh cờ, đánh đu…Các công trình kiến trúc xây
dựng và trùng tu như đền, chùa, đình, nhà văn thánh. Về giáo dục thi cử
được xem trọng và có số người đỗ tiến sỹ đông nhất cả nước dưới triều
17
Nguyễn. Tuy nhiên, dưới ách áp bức bóc lột của triều Nguyễn nhân dân
nơi đây rất khổ bởi nạn phu phen tạp dịch xây dựng cung điện, lăng tẩm
cho vua chúa, thuế khóa nặng nề, tham nhũng, mùa màng thất bát đặc
biệt thời vua Tự Đức. Cho nên nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra và
bị đàn áp dã man.
Nghệ An từ năm 1858 đến 1918, khi thực dân Pháp xâm lược nước
ta, nhân dân đã sôi sục nhiệt huyết đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Trong khi
đó triều đình chủ hòa với Pháp và nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân
nổ ra chống lại triều đình và Pháp, tiêu biểu là khởi nghĩa năm Giáp
Tuất(1874) của Trần Tấn, Đặng Như Mai. Khi kinh thành Huế thất
thủ(1885), chiếu Cần Vương ban hành thì phong trào đấu tranh phát
triển với tổ chức và quy mô lớn với khí thế “Bình Tây phục quốc” tiêu
biểu là khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn. Sang đầu thế kỷ XX, thực dân
Pháp tiến hành bình định quân sự đặt viên công sứ, phó công sứ cùng tòa
Giám binh, Nha mật thám…mỗi nơi đặt sở đại lý hành chính để khống
chế vùng núi Tây Nam, Tây Bắc Nghệ An do người Pháp đứng đầu. Về
kinh tế có nhiều thay đổi, Vinh-Bến Thủy-Trường Thi thành ba trung
tâm đô thị. Các tập đoàn tư sản Pháp đổ vốn đầu tư xây dựng các nhà
máy xí nghiệp, một số ngành nghề kinh tế mới hình thành phát triển với
quy mô lớn như khai thác chế biến lâm sản, sản xuất diêm, vận tải, sửa
chữa đầu máy toa xe, bốc vác, may mặc, cắt tóc…Nhiều cơ sở nghề thủ
đay, trẩu, gai, chăn thả gia súc…quan hệ của chủ điền và người lao động
có nhiều nét mới. Từ Vinh hệ thống đường bộ nối liền các tỉnh, vùng, xứ
trong Liên bang Đông Dương, tuyến đường sắt Vinh – Đông Hà xây
dựng từ 1922 – 1927. Năm 1925, sân bay Vinh đưa vào khai thác, làm
cho hệ thống giao thông tương đối hoàn thiện. Đội ngũ công nhân tăng
lên nhanh chóng chịu ảnh hưởng sâu sắc của xu hướng cứu nước, con
đường cách mạng vô sản. Năm 1925 – 1926 phong trào công nhân Vinh
– Bến Thủy luôn “đứng đầu dậy trước”. Ngoài ra có một số tư bản người
Việt, các tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ, công chức tập trung lại. Tháng 6
– 1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng
lập ở Quảng Châu Trung Quốc đã đào tạo các thanh niên ưu tú về nước
hoạt động các tỉnh thành trong đó có Nghệ An. Tháng 7 – 1925, Hội
Phục Việt ra đời Trung Đô – Vinh sau đó đổi tên Hội Hưng Nam và lại
đổi tên đảng Tân Việt. Năm 1928, hai tổ chức hoạt động xen kẽ khắp nơi
ở nhà máy, trường học, công sở, thôn xã trong tỉnh, tư tưởng Mác –
Lênin được truyền bá sâu rộng, phong trào đấu tranh của công nhân và
các tầng lớp trở nên mạnh mẽ, các cuộc biểu tình để tang cho Phan Chu
Trinh và ân xá cho Phan Bội Châu. Tháng 6 – 1929, Đông Dương Cộng
Sản đảng ra đời ở Bắc Kỳ, ở Trung Kỳ đặt trụ sở ở làng Vang, Vinh.
Một số đảng viên của Tân Việt gia nhập Đảng Cộng Sản, số còn lại lập
ra Đông Dương Cộng Sản liên đoàn. Tháng 3 – 1930, phân cục Trung
ương lâm thời được thành lập. Từ giữa 1929 đến 1930, Nghệ An nổ ra
15 cuộc đấu tranh, có năm cuộc đấu tranh của công nhân thành phố Vinh
20
– Bến Thủy, 9 cuộc đấu tranh của nông dân các huyện Anh Sơn, Thanh
Chương. 1 – 5 – 1930, các nông dân, học sinh, công nhân khắp nơi trên
Năm 1954, Nghệ An xây dựng lại cơ sở vật chất, củng cố an ninh địa
phương và biên giới. Năm 1955, phát động cải cách ruộng đất, xây dựng
hợp tác xã, sản xuất nông nghiệp, cải tạo công thương, bộ mặt kinh tế có
nhiều thay đổi…
Từ 1965 – 1975, trong chiến tranh chống phá hoại miền Bắc của đế
quốc Mỹ, Nghệ An là trọng điểm bị bắn phá ác liệt. Nhân dân cả tỉnh
chống trả, cùng nhau thi đua bắn trả máy bay, tàu chiến địch và hết sức
chi viện cho miền Nam và cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi năm
1975. Ngày 27 – 12 – 1975, Nghệ An và Hà Tĩnh hợp thành tỉnh Nghệ
Tĩnh nhằm tạo thế và lực trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Năm 1991, Nghệ An lại thành lập trở lại cho đến nay bộ mặt đô thị
đã có nhiều thay đổi, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, đời sống
nhân dân cải thiện và được chú ý trên mọi mặt. Nền kinh tế nhiều thành
phần và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được củng cố phát triển. Giáo dục đào
tạo đạt nhiều thành tựu. Tuy nhiên sự chuyển đổi và phát triển kinh tế ở
22
Nghệ An còn chậm, nguồn thu chủ yếu mỗi năm từ thuế. Hiệu quả sản
xuất kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng một tỉnh đất rộng,
người đông, giàu truyền thống cách mạng và cần cù. Tính hấp dẫn đầu
tư còn kém so với các tỉnh khác. Hệ thống hạ tầng cơ sở chưa đảm bảo
về chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, một số tệ nạn xã
hội vẫn tồn tại… Vì vậy, toàn tỉnh còn phải nỗ lực nhiều trong mọi mặt
để phát triển một cách bền vững, tăng lợi thế cạnh tranh, cùng với sự
phát triển chung của cả nước…
1.1.2. Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lý: Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã
dồi dào từ nước ao, nước hồ, sông, suối, biển đáp ứng cho nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất, nuôi trồng thủy hải sản cho con người. Ngoài ra, Nghệ
An còn có rất nhiều sông hồ ao suối kết hợp với cảnh quan tự nhiên tạo
25