Sự phát triển du lịch hà nội trong thời kỳ đổi mới - Pdf 35

1

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.
1.1. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng.
1.1.1. Các quan niệm về du lịch.
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du
lịch.
1.1.2.1. Tài nguyên du lịch.
1.1.2.2. Các nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội.
1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật.
1.1.2.4. Nguồn nhân lực.
1.2. Vai trò hoạt động du lịch đối với phát triển kinh tế xã
hội.
1.2.1. Du lịch và kinh tế.
1.2.2. Du lịch và chính trị.
1.2.3. Du lịch và xã hội.
1.2.4. Du lịch và văn hoá.
1.2.5. Du lịch và môi trường.
1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch một số địa phương.
1.3.1. TP Hồ Chí Minh liên kết hợp tác phát triển du lịch.
1.3.2. Hà Tây phát huy tiềm năng văn hoá lễ hội để phát triển du
lịch.
1.3.3. Liên kết phát triển du lịch Huế - Quảng Nam - Đà Nẵng.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG DU LỊCH HÀ NỘI GIAI ĐOẠN
1990 - 2004.
2.1. Những tiềm năng và lợi thế so sánh để phát triển du lịch
Hà Nội.
2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên.

Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ
BẢN PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH HÀ NỘI.
3.1. Xu hướng và triển vọng phát triển du lịch.
3.1.1. Dự báo về ngành du lịch những năm đầu thế kỷ 21.
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Việt Nam.
3.2. Định hướng phát triển du lịch Hà Nội .
3.2.1. Quan điểm cơ bản về phát triển ngành du lịch Hà Nội.
3.2.2. Mục tiêu phát triển ngành du lịch Hà Nội.
3.3. Những giải pháp cơ bản để phát triển ngành du lịch Hà
Nội.
3.3.1. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với kinh doanh
du lịch trên địa bàn Hà Nội.
3.3.2. Sắp xếp, kiện toàn hệ thống các doanh nghiệp du lịch.
3.3.3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Hà Nội.


3

3.4.4. Chú trọng tuyên truyền giáo dục du lịch và đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch.
3.3.5. Mở rộng thu hút nguồn vốn đầu tư cho phát triển du lịch.
3.3.6. Hợp tác liên kết với các địa phương và hợp tác khu vực.
3.3.7. Tập trung xây dựng một số sản phẩm du lịch đặc trưng của
Hà Nội.
3.3.8. Quy hoạch, bảo tồn, duy tu và khai thác hiệu quả các tài
nguyên du lịch nhân văn.
3.3.9. Tăng cường phối hợp liên ngành trong phát triển du lịch.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

tính theo khu vực giai đoạn 1990 - 2000.
Bảng 3.2. Sự phát triển du lịch khu vực châu Á - Thái Bình
Dương giai đoạn 1950 - 2000.
Bảng 3.3. Hiện trạng khách du lịch quốc tế đến các nước
ASEAN giai đoạn 1995 - 2002.


5

Bảng 3.4. Dự báo lượng khách du lịch trên địa bàn Hà Nội 2005
và 2010.
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN
Sơ đồ 2.1. Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Việt Nam.
Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức quản lý du lịch Hà Nội.

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu
cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá - xã hội của
loài người và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách
mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước
trên thế giới.
Hoạt động du lịch đã đạt được hiệu quả kinh tế cao, được gọi
là “ngành xuất khẩu vô hình”, “ngành công nghiệp không khói”
đem lại nguồn ngoại tệ lớn. Tốc độ tăng trưởng của du lịch vượt
xa nhịp độ tăng trưởng của nhiều ngành kinh tế (năm 1950 thu
nhập ngoại tệ về du lịch quốc tế chỉ ở mức 2,1 tỷ USD, năm
1980 đạt 102 tỷ, năm 1991 đạt 260 tỷ USD. Năm 1999, ngành
du lịch tạo ra 10,4% GDP toàn cầu, chiếm 11% tổng chi tiêu
cho tiêu dùng và là ngành dẫn đầu về nộp thuế - trên 670 tỷ

lợi thế và tiềm năng hiện có, chưa thực sự tương xứng với vai trò
trọng tâm phát triển của vùng du lịch Bắc Bộ.
Xuất phát từ thực tế đó, vấn đề đặt ra là phải tìm ra những giải
pháp để đưa du lịch Hà Nội phát triển tương xứng với tiềm năng
to lớn của thủ đô. Tác giả chọn đề tài: “Sự phát triển du lịch
Hà Nội trong thời kỳ đổi mới (1990 - 2004) - Thực trạng và
giải pháp”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.


7

Nghiên cứu, phân tích thực trạng du lịch Hà Nội giai đoạn
1990 - 2004 và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp chủ yếu để
phát triển ngành du lịch Hà Nội trong thời gian tới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI.
Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển du lịch Hà Nội.
Hoạt động du lịch liên quan tới nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, do
khuôn khổ hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu thực
trạng du lịch Hà Nội trong giai đoạn 1990 - 2004, trên cơ sở đó
đề ra những giải pháp phát triển du lịch Hà Nội trong thời gian
tới.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp
logic và các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
để làm rõ đối tượng nghiên cứu.
5. KẾT CẤU LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia

lịch không còn là hiện tượng lẻ loi, đặc quyền của cá nhân hay
một nhóm người nào đó. Ngày nay, nó mang tính phổ biến và
tính nhận thức với mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần cho con người, củng cố hoà bình và hữu nghị
giữa các dân tộc.
Mặc dù có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với
tốc độ nhanh như vậy, song cho đến nay lại tồn tại nhiều cách
hiểu khác nhau về khái niệm “du lịch”, điều đó xuất phát từ
nhiều nguyên nhân: do góc độ nghiên cứu khác nhau, do sự khác
biệt về ngôn ngữ, do tính chất phức tạp của hoạt động du lịch, do
trình độ phát triển của hoạt động du lịch có sự chênh lệch theo
thời gian, theo không gian… Nhìn chung, cùng với quá trình
phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật, cùng với tiến trình phát


9

triển của xã hội loài người, hoạt động du lịch ngày càng phát
triển toàn diện và theo đó nhận thức về khái niệm “du lịch” của
con người cũng ngày càng thống nhất và đầy đủ hơn.
1.1.1.1. Quan niệm trước đây về du lịch.
Khái niệm “du lịch” có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và
lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của họ. Từ xa xưa, loài người đã khởi hành với nhiều lý do khác
nhau: vì lòng ham hiểu biết về thế giới xung quanh, vì lòng yêu
thiên nhiên… và du lịch mới chỉ là một hiện tượng tự phát của
các cá nhân.
Mầm mống đầu tiên của hoạt động kinh doanh du lịch bắt đầu
từ cuộc phân chia lao động xã hội lần thứ hai, lúc ngành thủ
công nghiệp xuất hiện và tách ra khỏi ngành nông nghiệp truyền

nhà hàng, hướng dẫn du lịch… Hàng loạt các cơ sở kinh doanh
du lịch cùng các tổ chức du lịch ra đời. Và cho đến giữa thế kỷ
20, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc, tạo điều kiện
ổn định về môi trường kinh tế chính trị, hoạt động du lịch mới
thực sự trở thành một ngành kinh tế và có vị trí ngày càng quan
trọng trong đời sống xã hội loài người.
Du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp và trong quá
trình phát triển, nội dung của nó không ngừng được mở rộng và
ngày càng phong phú. Trong bối cảnh đó, để đảm bảo sự phát
triển bền vững của hoạt động du lịch thì việc xây dựng một quan
niệm đúng đắn về du lịch, vừa mang tính chất bao quát, vừa
mang tính chất lý luận và thực tiễn là hết sức cần thiết.
1.1.1. 2. Quan niệm khoa học về du lịch.
Trong lịch sử phát triển lý thuyết về khoa học du lịch, đã tồn
tại khá nhiều quan điểm khác nhau, chúng ta sẽ xem xét một số
khái niệm tiêu biểu về du lịch.
Năm 1811, tại Anh đã đưa ra định nghĩa đầu tiên về du lịch:
“Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành
của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Định nghĩa này
xem xét hoạt động du lịch dưới góc độ động cơ, và chưa phản
ánh hết các hoạt động du lịch bởi giải trí chỉ là một trong những
động cơ đi du lịch.
“Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến
một địa điểm mà ở đó họ không cư trú thường xuyên”(Glusman,
Thuỵ Sĩ, 1930). Du lịch gắn với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm hồi
phục, nâng cao sức khoẻ và khả năng lao động của con người,
nhưng trước hết liên quan tới sự di chuyển của họ.


11

Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, 1963 với mục
đích quốc tế hoá đã đưa ra định nghĩa sau: “Du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn
từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên
ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục


12

đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ”.
Định nghĩa của Michael Coltman, Mỹ: “Du lịch là sự kết hợp
và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du
khách bao gồm: du khách, các nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư
dân sở tại và chính quyền địa phương”. (Tiếp thị du lịch, Trung
tâm dịch vụ đầu tư và ứng dụng khoa học kinh tế, TP Hồ Chí
Minh 1991).
Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Ottawa,
Canada 06/1991: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của
mình) , trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã
được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi
không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm
vi vùng tới thăm”. Định nghĩa này xem xét hoạt động du lịch từ
góc độ khách du lịch, do vậy chưa phản ánh đầy đủ nội dung của
hoạt động du lịch.
Hội nghị bộ trưởng du lịch thế giới (OSAKA, Nhật Bản ngày
03&04/11/1994) đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo
ra GDP và việc làm của thế giới chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng
thời đầu tư cho du lịch và các khoản thuế liên quan tới du lịch

thân doanh nghiệp”. Định nghĩa này đã phản ánh đầy đủ nội
dung và bản chất của hoạt động du lịch là một ngành kinh tế dịch
vụ.
Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được sự biến đổi trong
nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch, một số quan điểm cho
rằng du lịch là một hiện tượng xã hội, số khác lại cho rằng đây
phải là một hoạt động kinh tế, nhiều học giả lại lồng ghép cả hai
nội dung trên, tức du lịch là tổng hoà các mối quan hệ kinh tế xã
hội phát sinh từ hoạt động di chuyển.
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm
nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức
tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm kinh tế, lại vừa có đặc
của ngành văn hoá - xã hội.
Ngày nay, hoạt động du lịch đã được nhìn nhận như là ngành
kinh tế quan trọng, có tốc độ phát triển nhanh. Trên thực tế, hoạt
động du lịch ở nhiều nước không những đem lại lợi ích kinh tế,
mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội… và ngành du lịch
đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế
quốc dân, nguồn thu nhập từ du lịch đã chiếm một tỷ trọng lớn
trong tổng sản phẩm xã hội.


14

Bảng 1.1: Sự phát
2000.
Nă Lượng
m
khách
QT (ngàn

8,71
6,14
4,69
4,29

2.100
6.867
17.900
102.372
266.207
405.278

12,58
10,05
19,05
10,15
8,53

5,49
2,40

435.764
436.165

7,52
0,09

2,37

444.943

Các thành phần của tự nhiên có ý nghĩa nhất đối với hoạt động
du lịch bao gồm:
+ Địa hình: có các dạng địa hình cơ bản: đồng bằng, đồi núi,
karst, địa hình ven bờ. Mọi hoạt động sống của con người trên
một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình, với hoạt động du lịch
điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình. Sự tiếp nhận
hình dạng bên ngoài của tự nhiên gọi là phong cảnh. Các dấu
hiệu đặc biệt bên ngoài của địa hình có sức hấp dẫn khai thác
cho du lịch bởi khách du lịch thường ưa thích những nơi có
phong cảnh đẹp và đa dạng. Những địa hình có giá trị cao về mặt
du lịch là địa hình vùng núi, địa hình karst và địa hình ven bờ.
+ Khí hậu: khí hậu là chỉ tiêu có liên quan trực tiếp tới trạng thái
tâm lý - thể lực của con người, khí hậu càng ôn hoà thì chất
lượng của khu vực dành cho du lịch và nghỉ ngơi càng tốt lên.
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng tới việc tổ chức các hoạt động
tham quan du lịch và chất lượng các dịch vụ du lịch. Tính mùa
vụ trong du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu.
Nhiệt độ trung bình ngày đêm, biên độ dao động nhiệt, độ ẩm,
tốc độ gió… tác động tới sức khoẻ con người, và đây cũng là các
tiêu chí mà khách du lịch quốc tế quan tâm.
+ Nguồn nước: tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và
nước ngầm. Tài nguyên nước có ý nghĩa trên nhiều mặt khác
nhau đối với hoạt động du lịch. Nước cần cho sinh hoạt hàng
ngày của du khách, một số nguồn nước đặc biệt (nước khoáng,
nước biển) có giá trị an dưỡng và chữa bệnh, tài nguyên nước
cũng là môi trường để tổ chức các hoạt động du lịch thể thao
nước (câu cá, lặn biển, đua thuyền…), ngoài ra tài nguyên nước


16

thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và
phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ
và bản năng” (tạp chí Người đưa tin UNESCO, 12 - 1989). Lễ
hội trở thành dịp con người hành hương về với cội rễ, bản thể
của mình. Ngoài ra, trong lễ hội khách du lịch còn quan tâm tới


17

nhiều yếu tố khác: phần nghi lễ với các nghi thức nghiêm túc,
trọng thể tạo thành một yếu tố văn hoá thiêng liêng, một giá trị
thẩm mỹ với toàn thể cộng đồng người đi hội; phần hội diễn ra
những hoạt động biểu tượng điển hình của văn hoá dân tộc, của
tâm lý cộng đồng với các trò chơi, các món ăn đặc sản, các loại
hình nghệ thuật, các nghề thủ công… Khách du lịch tham dự các
lễ hội là gắn chặt vào kết cấu của đời sống quốc gia và chính tại
đây tình cảm cộng đồng, sự hiểu biết về dân tộc được bộc lộ
mạnh mẽ.
+ Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: mỗi dân tộc đều có
những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục
tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của
mình và có địa bàn cư trú nhất định. Các đối tượng du lịch gắn
với dân tộc học có ý nghĩa đối với du khách là các tập tục lạ về
cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến
trúc cổ, trang phục dân tộc…Khách mong muốn được gặp gỡ,
được quan sát, được đối thoại để hấp thụ các nguồn dinh dưỡng
của các nền văn hoá khác, để nuôi dưỡng lại các nền văn hoá ấy,
đồng thời cũng là để không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc
mình.
+ Các đối tượng văn hoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác:

thông vận tải và thông tin liên lạc có ý nghĩa quan trọng để phát
triển du lịch.
- Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: đó là nhu cầu về hồi phục sức khoẻ
và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh
thần của con người. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch có tính chất kinh
tế - xã hội là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Nhu cầu du lịch
quyết định cấu trúc, tính chất, tốc độ phát triển, trình độ phát
triển của ngành du lịch.
- Cách mạng khoa học kỹ thuật: tác động tới hoạt động du lịch
trên nhiều góc độ. Trước hết, cách mạng khoa học kỹ thuật, công
nghiệp hoá và tự động hoá quá trình sản xuất liên quan chặt chẽ
với nhau, và chúng là những nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu
cầu du lịch. Khi khoa học công nghệ hiện đại được sử dụng, lao
động chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh chóng, nhưng cường
độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên tương ứng và đòi
hỏi con người cần phải được phục hồi sức khỏe thông qua con
đường nghỉ ngơi du lịch. Dưới một góc độ khác, cách mạng khoa
học kỹ thuật đã đem lại năng suất lao động và hiệu quả kinh tế
cao, là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm
khả năng thực tế tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn
thiện cơ sở hạ tầng cho xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật của
ngành du lịch.


19

- Quá trình đô thị hoá: là nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh
nhu cầu du lịch. Đô thị hoá là kết quả của sự phát triển lực lượng
sản xuất, là một xu thế phát triển tất yếu và có những đóng góp
to lớn cho việc cải thiện điều kiện sống về phương diện vật chất,


20

- Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy
mạnh du lịch. Bản chất của du lịch là di chuyển, du lịch gắn với
sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định. Do
vậy nó phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao
thông. Hệ thống giao thông thuận tiện, nhanh chóng sẽ làm cho
các hành trình trở nên dễ dàng hơn, thời gian đi lại sẽ giảm bớt,
thời gian nghỉ ngơi và du lịch được tăng lên. Thông tin liên lạc là
điều kiện cần thiết để đảm bảo thông tin, trong du lịch nhu cầu
trao đổi thông tin bao gồm các dòng chủ yếu: trao đổi giữa khách
du lịch và người thân, với đối tác, trao đổi giữa khách du lịch với
các cơ sở kinh doanh du lịch và trao đổi lẫn nhau giữa các cơ sở
kinh doanh du lịch. Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải
đề cập đến hệ thống điện, nước phục vụ trực tiếp cho nhu cầu
nghỉ ngơi giải trí của khách.
Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt
động kinh tế, trong đó có du lịch. Ngày nay, sự hoàn thiện của
cơ sở hạ tầng còn được coi là một hướng hoàn thiện chất lượng
phục vụ du lịch, là phương thức cạnh tranh giữa các điểm du
lịch, giữa các quốc gia.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như
quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thoả
mãn nhu cầu của du khách. Sự đa dạng, phong phú trong nhu cầu
của du khách đòi hỏi cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm
nhiều thành phần khác nhau: các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống;
các cơ sở thể thao, giải trí; các cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung…
Chúng tồn tại một cách độc lập tương đối nhưng lại có mối quan

tâm lý của họ khi tiếp xúc với nhân viên phục vụ. Như vậy, chất
lượng nguồn nhân lực là nhân tố quyết định chất lượng sản
phẩm, quyết định chất lượng phục vụ trong du lịch. Nguồn nhân
lực trong du lịch cũng quyết định hiệu quả khai thác cơ sở vật
chất kỹ thuật du lịch, tài nguyên du lịch.
1.2. VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI.
1.2.1. Du lịch và kinh tế.
Hội nghị bộ trưởng du lịch thế giới (OSAKA, Nhật Bản ngày
03&04/11/1994) đã khẳng định: “Du lịch là nguồn lớn nhất tạo
ra GDP và việc làm của thế giới chiếm tới 1/10 mỗi loại, đồng
thời đầu tư cho du lịch và các khoản thuế liên quan tới du lịch
tương ứng cũng tăng cao. Nhưng sự gia tăng này cùng với các
hiệu quả kinh tế khác của du lịch dự đoán sẽ tiếp tục tăng
trưởng một cách vững chắc và như vậy du lịch sẽ là đầu tàu kéo


22

nền kinh tế thế giới trong thế kỷ 21”. (Tuyên bố du lịch OSAKA,
điểm 2, phần I).
Du lịch được đánh giá rất khác nhau giữa các nước, nhưng hầu
hết các quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của du lịch
trong phát triển kinh tế, và theo thời gian thì những nhận thức đó
ngày càng được khẳng định và nhìn nhận đầy đủ hơn. Trước hết,
du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc
dân, làm tăng thêm GDP.
Đối với hoạt động du lịch nội địa, du lịch tham gia tích cực
vào quá trình phân phối lại thu nhập, tác động tích cực tới việc
cân đối cấu trúc thu nhập và chi tiêu của nhân dân giữa các vùng.

cao trong tổng sản phẩm xã hội do vậy phát triển du lịch là
hướng đi chiến lược nhằm tăng tỷ trọng khối dịch vụ, góp phần
chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo hướng hiện đại
hoá cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế
cao. Phát triển du lịch còn góp phần phát triển cân đối cơ cấu
vùng của nền kinh tế bởi du lịch đòi hỏi phải có sự thay đổi trên
nhiều mặt ở những vùng có tài nguyên du lịch, hầu hết đó đều là
các vùng sâu, vùng xa. Phát triển du lịch còn là nhân tố thúc đẩy
sự phát triển các ngành kinh tế khác như giao thông, xây dựng,
ngân hàng, bưu điện ... và hoàn thiện cơ sở hạ tầng của xã hội.
Tuy nhiên, việc phát triển du lịch quá tải sẽ tạo ra sự mất cân đối
trong cơ cấu nền kinh tế và tạo ra sự phụ thuộc của nền kinh tế
vào ngành dịch vụ du lịch, sự phát triển đó của nền kinh tế sẽ
thiếu tính ổn định và bền vững.
1.2.2. Du lịch và chính trị.
Du lịch là cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới,
thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng
bỏng của mình là được sống, lao động trong hoà bình và hữu
nghị. Hoạt động du lịch giúp cho du khách hiểu biết hơn về đất
nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, về các mặt kinh
tế, văn hoá, xã hội của đất nước mình đến thăm. Trên cơ sở đó
giúp cho các dân tộc xích lại gần nhau hơn, tăng cường tình đoàn
kết giữa các dân tộc vì hoà bình và sự phồn thịnh của nhân loại.
1.2.3. Du lịch và xã hội.
Đối với xã hội, du lịch trước hết có vai trò giữ gìn, phục hồi
sức khoẻ và khả năng lao động cho người dân.
Khi đi du lịch mọi người có điều kiện gặp gỡ, gần gũi nhau
hơn và qua đó mọi người hiểu nhau hơn, tăng cường tình đoàn
kết cộng đồng.
Cũng thông qua những chuyến du lịch, khi được tiếp xúc với

là: “Du lịch - một công cụ hữu hiệu của giao lưu văn hoá giữa
các nền văn minh”. Chủ đề năm du lịch thế giới năm 2001 đã
nhấn mạnh tác dụng văn hoá xã hội của du lịch, chỉ ra mối quan
hệ giữa du lịch với văn hoá, làm cho toàn thế giới nhận thức
đúng đắn hơn về văn hoá du lịch và tác dụng của nó để thúc đẩy
ngành du lịch phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững.
Mỗi dân tộc đều có những điều kiện sinh sống, những đặc
điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang
những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định.


25

Những yêú tố văn hoá truyền thống đó được tích tụ từ lâu đời.
Du lịch là một hình thức quan trọng để các dân tộc giao lưu văn
hoá với nhau. Khách mong muốn được gặp gỡ, được quan sát,
được đối thoại để hấp thụ các nguồn dinh dưỡng của các nền văn
hoá khác, để nuôi dưỡng lại các nền văn hoá ấy, đồng thời cũng
là để không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình. Thông qua
các hành trình du lịch, những giá trị văn hoá độc đáo của mỗi
dân tộc sẽ được tôn vinh, những yếu tố văn minh trong nền văn
hoá nhân loại càng kích thích những nét độc đáo của văn hoá dân
tộc, sự giao thoa đó làm cho nền văn hoá nhân loại cũng như nền
văn hoá của mỗi dân tộc ngày càng phong phú, đa dạng hơn.
Du lịch cũng là hoạt động góp phần giữ gìn và phát huy các
giá trị văn hoá truyền thống, nguồn thu từ du lịch văn hoá sẽ
được tái đầu tư để phát triển các làng nghề, để tôn tạo các di tích.
1.2.5. Du lịch và môi trường.
Việc tiếp xúc, tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận một
cách trực quan sự hùng vĩ, trong lành, tươi mát của các cảnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status