BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI
BỘ MÔN: ĐIỀU ĐỘNG TÀU
KHOA: ĐIỀU KHIỂN TÀU BIỂN
BÀI GIẢNG
TÌM KIẾM CỨU NẠN
TÊN HỌC PHẦN
: TÌM KIẾM CỨU NẠN
MÃ HỌC PHẦN
: 11310
TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO : ĐẠI HỌC CHÍNH QUY
DÙNG CHO SV NGÀNH: BẢO ĐẢM ANH TOÀN HÀNG HẢI
HẢI PHÒNG,2010
1
MỤC LỤC
STT
NỘI DUNG
TRANG
Chương 1. Giới thiệu về hệ thống tìm kiếm cứu nạn
Hàng hải
11
2.2.
Mô hình tổ chức hệ thống TKCN Việt Nam
18
2.3.
Hệ thống phối hợp TCKN hàng hải Việt Nam
19
Chương 2.Thông tin liên lạc trong tìm kiếm cứu nạn
hàng hải
21
1.
Thông tin liên lạc trong TKCN hàng hải
21
1.1.
Tầm quan trọng và cơ cấu của hệ thống thông tin
21
1.2.
Hệ thống thông tin vệ tinh địa cực
27
3.
Phối hợp hoạt động thông tin liên lạc trong TKCN
31
3.1.
Trung tâm phối hợp TKCN đầu tiên
31
3.2.
Chỉ dẫn liên lạc trong tìm kiếm cứu nạn
32
3.3.
Xác định khu vực TKCN
32
3.4.
Hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp
34
4.2.
Hệ thống ICO
35
4.3.
Hệ thống IRIDIUM
35
2
4.4.
Hệ thống thông tin di động cá nhân toàn cầu
35
4.5.
Giới thiệu hệ thống điều hành phối hợp TKCN
36
Chương 3. Nghiệp vụ phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng
hải
40
1.
Các bước hoạt động TKCN
40
1.1.
Các cấp độ của hoạt động TKCN
40
1.2.
Phân tích các tình huống
40
1.3.
Hành động ban đầu
41
2.2.
Những hành động sai khi xảy ra tai nạn
44
2.3.
Độ trôi dạt trên biển
44
3.
Xác định khu vực tìm kiếm
45
3.1.
Phương pháp xác định nhanh khu vực tìm kiếm
45
3.2.
Xác định khu vực tìm kiếm theo điểm chuẩn
46
4.4.
Các phương pháp tìm kiếm trên biển
52
4.5.
Phân công nhiệm vụ tìm kiếm trên biển
59
5.
Tổ chức cứu nạn
60
6.
Kết thúc hoạt động TKCN
69
3
6.1.
Kết thúc vụ TKCN
Lý thuyết
Thực hành/ Xemina
Tự học
Bài tập lớn
Đồ án môn
học
45
45
0
0
0
0
Điều kiện tiên quyết
Sinh viên phải học qua các môn học : Thuỷ nghiệp - Thông hiệu, An toàn lao
động hàng hải.
Mục tiêu của học phần:
Sinh viên nắm được các nguyên tắc, nắm vững công tác chuẩn bị, hành động để
tìm kiếm cứu nạn trong các trường hợp tàu bị sự cố.
Nội dung chủ yếu
TKCN
1.2.Cơ sở pháp luật đối với công tác
TKCN
2.Mô hình tổ chức TKCN
5
2.1.Mô hình tổ chức TKCN do IMO
xây dựng
2.2.Mô hình tổ chức hệ thống TKCN
Việt Nam
2.3.Hệ thống phối hợp TCKN hàng hải
5
Việt Nam
Chương 2.Thông tin liên lạc trong
tìm kiếm cứu nạn hàng hải
1.Thông tin liên lạc trong TKCN hàng
hải
15
14
1
2
1.1.Tầm quan trọng và cơ cấu của hệ
2
4.1.Hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp
4.2.Hệ thống ICO
4.3.Hệ thống IRIDIUM
4.4.Hệ thống thông tin di động cá nhân
toàn cầu
6
4.5.Giới thiệu hệ thống điều hành phối
hợp TKCN
4.6.Hệ thống hỗ trợ GIS
4.7.Hệ thống cơ sở dữ liệu
4.8.Hệ thống TRACKING
4.9.Hệ thống máy tính và các thiết bị
khác
4.10.Giới thiệu hệ thống nhận dạng tự
động
Chương 3. Nghiệp vụ phối hợp tìm
kiếm cứu nạn hàng hải
1.Các bước hoạt động TKCN
20
19
1
4.1.Khái niệm
4.2.Độ rộng tìm kiếm tối đa
4.3.Chỉ huy phối hợp hiện trường
7
4.4.Các phương pháp tìm kiếm trên
biển
4.5.Phân công nhiệm vụ tìm kiếm trên
biển
5.Tổ chức cứu nạn
2
6.Kết thúc hoạt động TKCN
1
6.1.Kết thúc vụ TKCN
6.2.Hoãn hoạt động TKCN
6.3.Lưu trữ hồ sơ vụ việc
Nhiệm vụ của sinh viên: Lên lớp đầy đủ và chấp hành mọi quy định của
Nhà trường.
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005. Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2006
2. Công ước Quốc tế về tìm kiếm cứu nạn trên biển năm 1979 (International
Convention on Maritime Search and Rescue, 1979 – SAR 79)
3. Công ước Quốc tế về thống nhất một số quy tắc về Luật có liên quan đến việc
trợ giúp và cứu hộ trên biển (International Convention for the Unification of
-
Tìm kiếm cứu nạn: TKCN
Phòng chống lụt bão: PCLB
Khu vực tìm kiếm cứu nạn: Search and Rescue Region – SRR
Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không: ATS
Các đài thông tin duyên hải: CRS
Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải: MRCC
Trung tâm phối hợp cứu nạn: Rescue Sub – Centre – RSC
Đơn vị cứu nạn: Rescue Unit – SRU
Chỉ huy hiện trường: On – Scene Commander – OSC
Hệ thống thông tin an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu: GMDSS
Vô tuyến điện thoại: VHF
Hệ thống gọi chọn số: DSC
Hệ thống thông báo hàng hải: NAVTEX
Hệ thống gọi nhóm tăng cường: EGC
Trạm bờ: Coast Earth Station – CES
Trạm mặt đất: Land Earth Station – LES
Trạm phân bổ mạng: Network Coordination Centre – NCC
Trung tâm điều hành vệ tinh: Satellite Control Centre – SCC
Trung tâm điều hành mạng: Network Operation Centre – NOC
Trạm đài tàu: Ship Earth Station – SES
Trạm di động bờ: Land Mobile earth Station – LMS
Trạm đài máy bay: Aero Earth Station – AES
Trạm xử lý khu vực: Local User Terminal – LUT
Trung tâm điều hành: Mission Control Centre – MCC
Hệ thống nhận dạng tự động: Automatic Identification System – AIS
Vị trí dự đoán: Deadreconing Position – DR
Vệ tinh quỹ đạo thấp: Low Earth Orbit – LEO
kiếm và cứu người, cứu tàu cũng như những đối tượng tài sản khác đang bị đe
doạ nguy hiểm trên vùng biển ở cách xa bờ.
Tìm kiếm cứu nạn ven bờ (Coastal SAR service) là tìm kiếm và cứu nạn
những người đang bị lâm nạn, các tàu đang bị rủi ro ở ven bờ hoặc các đối tượng
khác gặp tai nạn mà hoạt động TKCN có thể tiến hành ngay từ phía đất liền.
Hoạt động tìm kiếm và cứu nạn của thế giới nói chung và của từng quốc
gia nói riêng được tiến hành trên từng vùng biển phải được quy định để đảm bảo
hoạt động tìm kiếm và cứu nạn có hiệu quả trên cả vùng biển xa bờ và ven bờ.
Việc xác lập các khu vực TKCN (SAR AREA) và các vùng tìm và cứu (Search
and Rescue Regions - SRR) được IMO và các quốc gia phân chia quy định.
1.2.CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TÌM KIẾM CỨU NẠN
1.2.1. Các văn bản luật pháp quốc tế quy định về tìm kiếm và cứu nạn trên biển:
Công ước quốc tế về thống nhất một số Quy tắc về Luật có liên quan đến
việc trợ giúp và cứu hộ trên biển (International Convention for the Unification
of Certain Rules of law relating to assistance and Salvage at sea) ký tại Brussel
ngày 23/9/1910. Điều 11 nêu:“Mọi Thuyền trưởng phải điều động tàu mình chạy
11
tới với khả năng có thể được mà không gây nguy hiểm thật sự nào cho tàu của
mình, cho thuyền viên và hành khách để cứu giúp bất kỳ người nào mà mình
biết họ đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển, kể cả đối với kẻ thù…”.
Công ước quốc tế về biển cả năm 1958 (The Convention on the High sea,
1958). Điều 12 (2) nêu: “Mọi quốc gia ven biển phải đẩy mạnh việc thiết lập và
duy trì một tổ chức tìm kiếm cứu nạn tương xứng và có hiệu quả liên quan đến
an toàn trên biển và nơi mà có yêu cầu như vậy bằng cách phối hợp giữa các
vùng với nhau và với các nước láng giềng cho mục đích này”.
Công ước quốc tế về bảo vệ an toàn sinh mạng con người trên biển. Điều
15 chương V của SOLAS, 74 nêu:
“ Mỗi Chính phủ ký kết có trách nhiệm áp dụng tốt các biện pháp cần
Nghị quyết A.406 (X) thông qua ngày 17/1/1979 Đại hội đồng của Tổ
chức Hàng hải quốc tế (IMO) đã quyết định tổ chức Hội nghị quốc tế để xem xét
và thông qua một Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải được tổ chức
tại Hamburg từ ngày 9 đến 27/4/1979 đã thông qua Công ước quốc tế về tìm
kiếm và cứu nạn trên biển năm 1979.
1.2.2. Nội dung của Công ước quốc tế về tìm kiếm cứu nạn hàng hải
Công ước có 8 điều khoản và 1 phụ lục
Các điều khoản quy định của Công ước là những quy định về thủ tục,
pháp lý. Phần quan trọng của Công ước chính là phần phụ lục. Phụ lục gồm 6
chương:
Chương 1: Các thuật ngữ và định nghĩa:
Chương này nêu lên các định nghĩa về Khu vực tìm kiếm cứu nạn (Search and
Rescue Region – SRR), các Trung tâm phối hợp cứu nạn (Rescue Coordinatinon
Centre – RCC), các Tiểu Trung tâm phối hợp cứu nạn (Rescue Sub Centre –
RSC), Đơn vị cứu nạn (Rescue Unit – SRU), Người chỉ huy hiện trường (On –
Scene Commander – OSC).
Chương 1 cũng nêu lên các giai đoạn của trong tìm kiếm cứu nạn như sau:
Giai đoạn nghi vấn (Uncertainly Phase): Tình huống còn chưa xác định
được sự an toàn của một con tàu và người trên đó.
Giai đoạn báo động (Alert Phase): Tình huống mà tồn tại sự lo lắng về sự
an toàn của một con tàu và người trên đó.
Giai đoạn tai nạn (Distress Phase): Tình huống mà hiện tại có cơ sở để
xác định rằng tàu hoặc người bị đe doạ nghiêm trọng và đòi hỏi có sự giúp đỡ
ngay.
Chương 2: Tổ chức.
Chương này xác định và yêu cầu các thành viên phải đảm bảo xây dựng
các tổ chức cần thiết để cung cấp dịch vụ TKCN thích hợp đối với người gặp
nguy hiểm trên vùng biển ven bờ của nước mình, với các nội dung:
Tổ chức dịch vụ TKCN quốc gia.
1.2.3. Các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về tìm kiếm cứu nạn hàng
hải:
Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005:
Điều 50 quy định:
“…Thuyền trưởng có nghĩa vụ đáp ứng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ
tàu, người và các tài sản khác trên tàu biển…”
“…Thuyền trưởng có nghĩa vụ tìm kiếm và cứu nạn những người đang
trong tình trạng nguy hiểm trên biển, nếu thực hiện nghĩa vụ này không gây
nguy hiểm nghiêm trọng cho tàu và những người đang ở trên tàu của mình…”
Điều 51 quy định:
“…Trường hợp tàu biển đang trong tình trạng nguy hiểm trên biển thù có
quyền yêu cầu cứu nạn và sau khi thoả thuận với các tàu đến cứu nạn, có quyền
chỉ định tàu cứu hộ”
Điều 55 quy định:
“…Ngay sau khi xảy ra các tai nạn hàng hải, phát hiện các tai nạn hàng
hải hoặc sự kiện đặc biệt liên quan đến an toàn hàng hải tại khu vực mà tàu hoạt
động, Thuyền trưởng có nghĩa vụ thông báo ngay cho nhà chức trách nơi gần
nhất biết”.
Theo Quyết định 65/2005/QĐ – BGTVT ngày 30/11/2005 của Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải về chức danh, nhiệm vụ theo chức danh của thuyền viên
và đăng ký thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam.
Điều 8 khoản 5 quy định:
14
Trường hợp có người rơi xuống biển, Thuyền trưởng phải kịp thời áp
dụng các biện pháp có hiệu quả để tìm cứu người bị nạn, đồng thời báo cáo cho
Chủ tàu và thông báo cho các tàu thuyền khác đang hành trình gần khu vực đó
tìm kiếm và cứu giúp. Chỉ được phép cho tàu rời khỏi khu vực có người đang bị
mất tích sau khi đã cố gắng tìm kiếm nhưng xét thấy không còn hy vọng. Thời
Quyết định số 56/2005/ QĐ – BGTVT ngày 28/10/2005 Bộ GTVT về Tổ
chức và hoạt động của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt
Nam. Quyết định quy định chức năng nhiệm vụ của Trung tâm:“ Chịu trách
nhiệm trực tiếp chỉ huy và điều hành các lực lượng, đơn vị thuộc ngành hàng hải
15
phối hợp tìm kiếm cứu nạn. Đồng thời tham gia phối hợp với các lực lượng liên
quan trong và ngoài ngành để tiến hành hoạt động tìm kiếm và cứu nạn trên biển
dưới sự điều hành của UBQG tìm kiếm cứu nạn”.
Các quyết định số 1255,1256 và 1257QĐ/TCCB – LĐ ngày 20/11/1996
của Cục trưởng Cục HHVN về việc thành lập các Trung tâm phối hợp TKCN
Hàng hải khu vực I, II và III. Quyết định cũng như quy định chức năng nhiệm
vụ của các Trung tâm khu vực : “ Chịu trách nhiệm trực tiếp và điều hành các
lực lượng, đơn vị thuộc chuyên ngành hàng hải tại khu vực đồng thời phối hợp
các lực lượng có liên quan trong và ngoài ngành để tiến hành tìm kiếm và cứu
nạn trên biển trong khu vực trách nhiệm được phân công…”
Quyết định 103/2007/QĐ – TTg ngày 12/7/2007 “Ban hành quy chế phối
hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển”. Quy chế này bao gồm 32 điều quy định chia
làm 5 chương. Chương một: Các quy định chung được quy định từ điều 1 đến
điều 5. Chương hai: Phối hợp về thông tin trong hoạt động tìm kiếm phối hợp
tìm kiếm cứu nạn trên biển được quy định từ điều 6 đến điều 10. Chương ba: Tổ
chức phối hợp tìm kiếm cứu nạn trên biển được quy định từ điều 11 đến điều 16.
Chương bốn: Trách nhiệm phối hợp hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển của
các tổ chức và cá nhân được quy định từ điều 17 đến điều 29. Chương năm:
Điều khoản thi hành được quy định từ điều 30 đến điều 32.
1.2.4. Các hiệp định hàng hải giữa Việt Nam và nước ngoài:
Trong tất cả các hiệp định hàng hải được Chính phủ Việt Nam ký kết với
Chính phủ các nước khác đều có điều khoản cam kết cung cấp mọi sự giúp đỡ
lẫn nhau đối với các tàu thuyền của các bên bị nạn trên các vùng biển trách
TRUNG TÂM PHỐI HỢP TKCN
(RCC)
TRUNG TÂM PHỐI HỢP TKCN KHU VỰC
(RSC)
Các nguồn lực TKCN
(SAR resources)
Hình 1.1: Mô hình về TKCN do IMO xây dựng
Vùng tìm kiếm cứu nạn:
Hiện nay sau khi đã có thoả thuận của các nước thành viên của IMO đã
tiến hành phân chia biển của thế giới thành 16 vùng tìm kiếm cứu nạn như
Vùng 1: Vùng biển Bắc đại tây dương
Vùng 2: Vùng biển Bắc
Vùng 3: Vùng biển Baltic
Vùng 4: Vùng biển Đông nam Đại tây dương
Vùng 5: Vùng biển Đông bắc Đại tây dương
17
Vùng 6: Vùng biển Đông bắc Thái bình dương
Vùng 7: Vùng biển Tây bắc Thái bình dương
Vùng 8: Vùng biển Đông nam Thái bình dương
Vùng 9: Vùng biển Nam Thái bình dương
Vùng 10 A: Vùng biển Tây bắc Ấn độ dương
Vùng 10 B: Vùng biển Tây Ấn độ dương
Vùng 10 C: Vùng biển Đông Ấn độ dương
Vùng 11: Vùng biển Caribe
Vùng 12 A: Vùng biển Địa trung hải
Vùng 12 B: Vùng biển Hắc hải
18
phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành
dầu khí…, các Ban chỉ đạo PCLB và TKCN địa phương và các lực lượng không
chuyên khác có thể huy động tham gia các hoạt động TKCN.
2.3. HỆ THỐNG PHỐI HỢP TKCN HÀNG HẢI VIỆT NAM
a) Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải Việt Nam
Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải Việt Nam được thành lập theo quyết
định số 2628/QĐ-TCCB-LĐ ngày 02/10/1996 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận
tải.Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải Việt Nam trực thuộc Cục hàng hải Việt
Nam và chịu sự điều hành trực tiếp về mặt nghiệp vụ của Uỷ ban quốc gia
TKCN.
Các Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải khu vực:
Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải khu vực I: Hải Phòng
Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải khu vực II: Đà Nẵng
Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải khu vực III: Sài Gòn
b) Các Tiểu Trung tâm phối hợp TKCN hàng hải
Được thành lập theo Quyết định 2628QĐ/TCCB ngày 2/10/1996 của Bộ
trưởng GTVT. Các tiểu trung tâm khu vực bao gồm 20 tiểu khu vực sau:
Khu vực I: Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh.
Khu vực II: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Ngãi, Quy
Nhơn, Nha Trang.
Khu vực III: TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp,
Mỹ Tho, Cà Mau, Kiên Giang.
19
Người, phương tiện
bị nạn báo động
Hình 2.1: Hệ thống thông tin liên lạc trong TKCN
Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống thông tin TKCN:
Giúp người gặp nạn kịp thời báo động tình trạng tai nạn xảy ra cho hệ
thống TKCN.
Nhận các tín hiệu báo động từ các thiết bị của người gặp nạn.
Trao đổi thông tin với người gặp nạn và giữa các nhân viên phối hợp
TKCN(SMC), nhân viên phối hợp hiện trường (OSC) và các thiết bị TKCN
nhằm phối hợp trợ giúp các trường hợp TKCN.
Định vị và chuyển tiếp tín hiệu để cho phép các đơn vị TKCN (SRU) thực
hiện công việc TKCn từ những trang thiết bị mà người gặp nạn sử dụng.
Báo động nhanh chóng và tự động.
21
Các báo động phải hoàn chỉnh và dễ hiểu: Thông tin trong các thông điệp
báo động phải trọn vẹn, chính xác và dễ hiểu để người nhận, xử lý đúng với các
báo động khi có tai nạn xảy ra.
Phải tuyệt đối tuân thủ quy trình sử dụng trang thiết bị để tránh dẫn đến
báo động sai, báo động giả.
Để khắc phục những bất đồng ngôn ngữ hay để thực hiện những thông tin
liên lạc trong các tình huống đặc biệt sử dụng Bộ luật tín hiệu quốc tế, các quy
tắc quốc tế về phòng ngừa va chạm trên biển và từ vựng hành hải tiêu chuẩn.
Các phương tiện của các đơn vị TKCN phải mang theo những tài liệu trên để sử
dụng.
1.2. CÁC ĐÀI THÔNG TIN DUYÊN HẢI VIỆT NAM
Hệ thống các đài thông tin duyên hải Việt Nam hiện nay nằm trong tổ
chức của Công ty thông tin điện tử hàng hải Việt Nam – VISHIPEL
2.HỆ THỐNG THÔNG TIN AN TOÀN VÀ CỨU NẠN
HÀNG HẢI TOÀN CẦU (GLOBLE MARITIME DISSTRESS
SAFETY SYSTEM - GMDSS)
Năm 1979, Hệ thống an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu đã được thiết
lập dưới dạng bổ sung và sửa đổi cho công ước SOLAS 74. Những bổ sung và
sửa đổi này đã có hiệu lực kể từ tháng 2 năm 1992, Hệ thống GMDSS được áp
dụng từng phần, cho đến tháng 2 năm 1999 thì được áp dụng toàn bộ.
Hệ thống GMDSS là hệ thống thông tin liên lạc có ba đặc trưng lớn, đó là
hệ thống thông tin liên lạc hàng hải mới, mang tính toàn cầu và tính tổ hợp.
2.1. CHỨC NĂNG THÔNG TIN CỦA HỆ THỐNG GMDSS
Tất cả các áp dụng GMDSS được trang bị sao cho có thể thực hiện những
chức năng thông tin liên lạc sau đây:
Phát thu tín hiệu cấp cứu tàu - bờ.
Thu phát tín hiệu cấp cứu giữa các tàu với nhau.
Thu phát các thông tin liên lạc phục vụ TKCN.
Thu phát các thông tin hiện trường.
Thu phát tín hiệu định vị.
Thu phát thông tin an toàn hàng hải MSI.
Thu phát thông tin vô tuyến thông thường.
Thu phát thông tin giữa các tàu với nhau.
Như vậy ngoài thông tin liên lạc cấp cứu giữa tàu với bờ và với các tàu
khác, hệ thống GMDSS còn đưa ra những khái niệm mới về các chức năng
thông tin.
Báo động cấp cứu:
Tín hiệu báo động cứu nạn được thông báo khẩn cấp tới nơi có khả năng
phối hợp cứu nạn đó là một RCC hoặc các tàu hoạt động trong vùng lân cận.
Khi một RCC nhận được tín hiệu báo động cứu nạn, qua một đài thông tin
duyên hải hoặc một đài bờ mặt đất, RCC sẽ chuyển tiếp tín hiệu báo động cứu
nạn tới một đơn vị TKCN, và các tàu lân cận trong vùng tàu bị nạn. Sự phối hợp
Chức năng thông tin này được thiết kế để phục vụ cho thông tin công
cộng mang tính chất thương mại giữa tàu và bờ và các tàu khác. Đó là các thông
tin liên quan đến hoạt động của tàu, quản lý tàu, giao dịch giữa tàu với cảng, đại
lý, hoa tiêu, các cơ quan cung ứng tàu biển…
Thông tin giữa các tàu với nhau:
Là thông tin giữa các buồng lái của các tàu với nhau, thông thường bằng
phương thức vô tuyến điện thoại VHF.
2.2. CÁC THÀNH PHẦN VÀ PHÂN VÙNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ
THỐNG GMDSS.
Hệ thống GMDSS chia biển và đại dương thành bốn vùng như sau:
Vùng biển A1: Là vùng nằm trong tầm hoạt động của ít nhất một trạm
VHF bờ biển có dịch vụ gọi chọn số DSC. Thông thường nằm trong phạm vi
cách bờ từ 25 đến 30 hải lý.
Vùng biển A2: Là vùng ngoại trừ vùng A1, nằm trong tầm hoạt động của
ít nhất một trạm MF bờ biển có dịch vụ gọi chọn số DSC. Thông thường nằm
trong vùng cách bờ từ 150 đến 200 hải lý.
Vùng biển A3: Là vùng, ngoại trừ vùng A1 và A2, nằm trong vùng thuê
bao của các vệ tinh địa tĩnh của tổ chức hàng hải quốc tế. Vùng bao phủ song
của các vệ tinh INMARSAT kéo từ vĩ độ 70N đến 70S.
Vùng biển A4: Là các vùng biển còn lại ngoại trừ vùng biển A1, A2, và
A3. Về cơ bản thì đó là các vùng gần địa cực.
Các thành phần của hệ thống GNDSS:
Hệ thống vệ tinh INMARSAT.
Hệ thống vệ tinh báo động và định vị tàu thuyền đang gặp nạn CONPAS
– SARSAT.
Hệ thống gọi chọn số DSC trên các dải tần VHF/HF/MF
Hệ thống thông báo hàng hải – NAVTEX.
Hệ thống gọi nhóm tăng cường EGC.
Phao báo động định vị khẩn cấp vị trí gặp nạn EPIRB của vệ tinh
CONPAS – SARSAT, EPIRB của vệ tinh INMARSAT và EPIRB.
Hệ thống IMARSAT bao gồm 3 khâu: khâu vệ tinh, khâu mặt đất và khâu
sử dụng gồm các đài mặt đất.
Khâu vệ tinh:
Khâu vệ tinh là phần chính của hệ thống, bao gồm 4 nhóm vệ tinh viễn
thông và một số vệ tinh dự trữ khác. Các vệ tinh này bay ở các độ cao khoảng
35870 km. Trên quỹ đạo này các vệ tinh chuyển động cùng tốc độ quay cùng
trái đất, vì thế vị trí của nó là cố định tương đối so với trái đất. Như thế các
anten trên mặt đất đều có thể duy trì liên lạc được với vệ tinh.
Các vệ tinh của IMARSAT được điều khiển bởi Trung tâm điều khiển vệ
tinh (Satellite Control Centre - SCC) tại London.
Mỗi nhóm vệ tinh có một vùng bao phủ trên bề mặt trái đất, mà mỗi anten
cố định hay di động nằm trong vùng đó có thể hướng thẳng lên và liên lạc với vệ
tinh ấy. Bốn nhóm vệ tinh bao phủ bốn vùng đại dương là:
Vùng Đông - Đại Tây Dương: AOR – E (Atlantic Ocean Region - East) –
15.5W
Vùng Tây - Đại Tây Dương: AOR – W (Atlantic Ocean Region - West) –
15.5W
Vùng Ấn Độ Dương : IOR (Indian Ocean Region) – 64.5E
Vùng Thái Bình Dương: POR (Pacific Ocean Region) – 178E
25