Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại tổng công ty hàng không - Pdf 35

4

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các doanh
nghiệp phải tận dụng mọi cơ hội, huy động và sử dụng tối ưu các
nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài để đứng vững, chiến thắng
trong cạnh tranh và không ngừng phát triển nhằm đạt được mục tiêu
lợi nhuận. Mọi doanh nghiệp luôn phải tối ưu hoá hoạt động, không
ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở chiến lược, sách
lược quản trị doanh nghiệp đúng đắn.
Phát triển nền kinh tế thị trường, chủ động tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế là xu thế không thể khác của nền kinh tế Việt Nam.
Việc gia nhập WTO của Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội cũng như
thách thức lớn cho các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, đòi hỏi
các chủ thể doanh nghiệp Việt Nam phải đưa ra các quyết định đúng
đắn, kịp thời để tận dụng cơ hội, hạn chế các rủi ro, hướng tới tồn
tại và phát triển.
Được sự quan tâm, đầu tư của Chính phủ, Tổng công ty Hàng
không Việt Nam được trang bị ngày càng hiện đại và từng bước
trưởng thành, phấn đấu trở thành một hãng hàng không có tên tuổi
của khu vực. Để đạt được điều đó Tổng công ty Hàng không Việt
Nam phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý, triệt để tiết kiệm,
hợp lý hoá sản xuất kinh doanh, nhằm hạ giá thành, nâng cao chất
lượng dịch vụ vận tải. Kế toán quản trị đã bước đầu trở thành công


5

cụ để cung cấp thông tin, giúp các nhà quản trị của Tổng công ty
Hàng không Việt Nam thực hiện mục tiêu đề ra một cách chắc chắn

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí
vận tải hàng không tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Các vấn đề thuộc tổ chức kế toán quản trị
chi phí vận tải hàng không trong phạm vi Hãng hàng không quốc
gia Việt Nam. Bao gồm chi phí dịch vụ vận tải phát sinh tại các đơn
vị thành viên phục vụ bay trực tiếp (các chi phí phát sinh trên
không, chi phí phục vụ mặt đất); chi phí bán hàng của Văn phòng
trong nước và Văn phòng đại diện của Hãng tại nước ngoài.
4. Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp lý
luận cơ bản của khoa học kinh tế làm phương pháp chủ đạo nghiên
cứu.
- Sử dụng hệ thống phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, cân
đối.
5. Những đóng góp của đề tài:


7

* Về lý luận: Hệ thống hoá và hoàn thiện những vấn đề lý luận
về tổ chức kế toán quản trị chi phí với việc tăng cường công tác
quản trị doanh nghiệp kinh doanh vận tải.
* Về thực tiễn: Thông qua việc phân tích thực trạng tổ chức kế
toán quản trị chi phí vận tải hàng không tại Hãng Hàng không quốc
gia Việt Nam, đề tài đưa ra các giải pháp hoàn thiện, phù hợp với
thực tế cho việc tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không,
nhằm mục đích tăng cường hiệu quả công tác quản trị tại Tổng công
ty Hàng không Việt Nam.
6. Tên và kết cấu của luận văn:

khác nhau của xã hội loài người, cùng với sự phát triển mạnh mẽ
của các chuyên ngành khoa học, khoa học quản lý cũng phát triển
nhanh chóng, trong đó có chuyên ngành về kế toán tài chính và kế
toán quản trị cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện nhằm đáp
ứng nhu cầu thực tế đặt ra trong hoạt động kinh tế của con người.
Cho tới nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
kế toán quản trị, các quan điểm này khác nhau ở các quốc gia khác
nhau, các giai đoạn phát triển khác nhau về nhận thức vai trò kế
toán quản trị trong quản trị kinh doanh. Có thể tổng kết các quan
điểm về kế toán quản trị phát triển qua 04 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Kế toán quản trị là thông tin để kiểm soát và định
hướng chi phí sản xuất.
- Giai đoạn 2: Kế toán quản trị là thông tin để hoạch định và
kiểm soát tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Giai đoạn 3: Kế toán quản trị là thông tin để giảm tổn thất về
các nguồn lực kinh tế sử dụng trong qui trình sản xuất kinh doanh.


10

- Giai đoạn 4: Kế toán quản trị là thông tin để sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực kinh tế tạo ra giá trị.
Tóm lại: Các quan điểm về kế toán quản trị dù có khác nhau qua
các giai đoạn, nhưng có điểm chung là thông tin phục vụ quyết định
quản lý, đề cao tính hữu ích của thông tin cho công tác quản lý hơn
là thiết lập hệ thống thông tin toàn diện cho yêu cầu quản lý. Cho
tới nay còn tồn tại hai quan điểm chính về kế toán quản trị:
- Quan điểm thứ nhất:
Kế toán quản trị là việc ghi chép nhằm thu thập, xử lý, truyền đạt
các thông tin chi tiết, cụ thể về các hoạt động kinh tế của doanh

tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính
trong nội bộ đơn vị kế toán.
Việc áp dụng kế toán quản trị tại Việt Nam được hướng dẫn tại
Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ
Tài chính về việc hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh
nghiệp.
Tổ chức kế toán nói chung, kế toán quản trị nói riêng là sự kết
hợp các nghiệp vụ kỹ thuật để xây dựng mô hình, thiết kế hệ thống
và vận hành hệ thống kế toán để đáp ứng yêu cầu là thu thập, xử lý
và cung cấp thông tin kế toán. Đối với kế toán quản trị, các thông
tin kế toán được tổ chức phục vụ cho nhà quản trị các cấp ra các


12

quyết định, nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Để thực hiện được chức năng của kế toán quản trị, công tác tổ
chức kế toán quản trị phải bám sát đặc điểm tình hình , lĩnh vực
hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý của doanh nghiệp
để có thể cung cấp cho nhà quản trị các cấp các thông tin có giá trị
và phù hợp nhất.
Tổ chức kế toán quản trị phải thực hiện được các công việc cơ
bản sau:
* Tổ chức mô hình, bộ máy kế toán quản trị: Việc xây dựng mô
hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị và lựa chọn, đào tạo nhân sự
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế toán quản trị là thu thập, xử lý và
cung cấp thông tin, có vai trò mang tính quyết định cho chất lượng
của thông tin kế toán quản trị cung cấp cho nhà quản trị. Do vậy rất
cần sự quan tâm đúng mức của nhà quản trị, của chuyên gia nghiệp

định.
- Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị: Đây là sản phẩm của
kế toán quản trị với hệ thống thông tin chân thực, dễ hiểu, dễ sử
dụng có thể so sánh được trên nhiều giác độ, giúp nhà quản trị sử
dụng cho việc ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn.
- Tổ chức phân tích số liệu trên báo cáo kế toán quản trị: Các
thông tin trên báo cáo kế toán quản trị phải được phân tích bởi các


14

chuyên gia có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, nhằm chỉ ra
được các nhân tố ảnh hưởng và dự báo sự biến động của các nhân tố
tác động đến hệ thống các chỉ tiêu.
1.1.2. Vai trò của kế toán quản trị và tổ chức kế toán quản trị
Thông tin kế toán quản trị là một trong các nguồn cung cấp thông
tin cho nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành sản xuất. Các nhà
quản trị điều hành sản xuất kinh doanh thông qua các chức năng
quản lý, còn kế toán quản trị sử dụng các phương pháp riêng để
thiết kế, tổng hợp, phân tích và truyền đạt thông tin, đặt thông tin
trong bối cảnh của các mục tiêu đã được xác định, với các tình
huống khác nhau nhằm cung cấp thông tin thực sự hữu ích cho các
chức năng quản trị.
1.1.2.1. Cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch
Kế hoạch chi phí sản xuất thường được thể hiện dưới dạng các dự
toán. Đó là sự liên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức
huy động và sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đó.
Dự toán là công việc quan trong trong việc lập kế hoạch kinh
doanh, kế hoạch là nội dung quan trọng trong chức năng quản trị.
Để xây dựng được kế hoạch một cách sát thực, khoa học, có tính



16

các kỹ thuật phân tích trong các tình huống khác nhau và cung cấp
cho nhà quản trị.
1.1.3 Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị:
- Đối tượng của kế toán quản trị:
+ Kế toán quản trị có đối tượng của kế toán nói chung đó là tài
sản của doanh nghiệp dưới dạng các số liệu chi tiết theo yêu cầu
công tác quản trị. Để đáp ứng nhu cầu cho việc ra các quyết định
quản lý, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin chi tiết, liên tục, tin
cậy về sự vận động của tài sản doanh nghiệp trong suốt quá trình
sản xuất kinh doanh.
+ Kế toán quản trị phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh dưới dạng chi tiết nhất, tạo cơ sở dữ liệu cho việc phân tích
sự ảnh hưởng, tác động của các nhân tố trong mối quan hệ tổng thể
của các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng cho SXKD..
+ Kế toán quản trị phản ánh, mô tả tình trạng hoạt động của
doanh nghiệp theo quá trình huy động và sử dụng các nguồn lực vào
SXKD. Nó được thiết kế để cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp
và chỉ được sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, không có ý nghĩa
đối với đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
+ Kế toán quản trị không những được áp dụng trong các doanh
nghiệp mà còn được áp dụng trong các tổ chức bộ máy Nhà nước,
các đoàn thể…nhằm giúp cho các nhà quản lý có các thông tin hệ


17


các nhà quản trị có cơ sở để lập kế hoạch, lập dự toán ngân sách và
hoạch định các giải pháp để khai thác, sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của doanh nghiệp cho hoạt động kinh doanh.
- Giai đoạn tổ chức thực hiện: Trong giai đoạn này, kế toán quản
trị giám sát sự vận động của các nguồn lực thông qua hệ thống
thông tin có thể so sánh với dự toán, phân tích được sự ảnh hưởng
của các nhân tố đến các chỉ tiêu cần quan tâm, giúp nhà quản trị
phát hiện vấn đề và ra các quyết định điều chỉnh.
- Kiểm soát việc thực hiện kế hoạch: Kiểm tra đánh giá việc thực
hiện kế hoạch bằng phương pháp so sánh, đối chiếu số liệu thực tế
với số liệu trên dự toán kế hoạch, tính toán và tổng hợp chi phí sản
xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng khâu công việc,
giải trình các nguyên nhân gây nên chênh lệch.
- Cung cấp các thông tin cho việc ra các quyết định của nhà quản
trị: Các thông tin của kế toán quản trị được thiết kế phù hợp với đặc
điểm của lĩnh vực kinh doanh, nhu cầu và trình độ của nhà quản trị
dưới dạng hệ thống các chỉ tiêu, báo cáo dễ dàng sử dụng cho việc
ra các quyết định.
1.1.5 Phân biệt kế toán quản trị với kế toán tài chính:


19

Kế toán quản trị và kế toán tài chính là bộ phận trong hệ thống kế
toán của doanh nghiệp, chúng có mối quan hệ chặt chẽ khăng khít
nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt nhau.
- Giống nhau: Đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế
toán và biểu hiện trách nhiệm của người quản lý. Hệ thống ghi
chép ban đầu của kế toán tài chính là cơ sở để lập các báo cáo tài
chính, cung cấp thông tin cho đối tượng sử dụng bên ngoài doanh


hoạt, tốc độ, thích hợp
khách quan, chính xác
Từng bộ phận, từng giai Toàn doanh nghiệp
đoạn


20

Hệ thống phương Các phương pháp kế Các phương pháp tính
pháp

toán



các

chuyên toán của kế toán

Tính pháp lệnh

ngành khác
Không mang tính pháp Mang tính pháp lệnh

Kỳ báo cáo

lệnh
cao
Thường xuyên, theo yêu Theo định kỳ, quí, năm

từng loại sản phẩm, dịch vụ.
- Kế toán quản trị hàng tồn kho: Căn cứ vào nội dung kinh tế và
vai trò của nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất hàng hoá, kế
toán quản trị hàng tồn kho phân thành nguyên vật liệu chính;
nguyên vật liệu phụ; nhiên liệu; phụ tùng thay thế; các vật liệu
khác... kế toán quản trị hàng tồn kho cung cấp thông tin để đánh giá
hiệu quả sử dụng các nguồn lực thông qua tình hình tồn kho của
doanh nghiệp trong từng giai đoạn.
- Kế toán quản trị công cụ dụng cụ: Căn cứ vào nội dung kinh tế
và công dụng của công cụ, dụng cụ, kế toán quản trị phân thành
công cụ, dụng cụ; bao bì luân chuyển; đồ dùng cho thuê... kế toán
quản trị cung cấp thông tin về tình hình sử dụng công cụ dụng cụ
cho SXKD.
- Kế toán quản trị tài sản cố định: Kế toán quản trị cung cấp
thông tin một cách có hệ thống về sự hình thành, khai thác sử dụng


22

tài sản cố định cho SXKD, giúp nhà quản trị có cơ sở ra các quyết
định ngắn hạn và dài hạn nhằm đầu tư và sử dụng hiệu quả tài sản
cố định.
Kế toán quản trị phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện
kết hợp với đặc trưng kỹ thuật thành tài sản cố định hữu hình; tài
sản cố định vô hình.
Kế toán quản trị phân loại tài sản theo quyền sở hữu thành tài sản
cố định tự có và tài sản cố định thuê ngoài.
Kế toán quản trị phân loại tài sản cố định theo tình hình sử dụng
thành tài sản cố định đang dùng và tài sản cố định không cần dùng
chờ thanh lý.

thời gian dài, thường là trên một năm. Kế toán quản trị phải cung
cấp thông tin có tính hệ thống cao, liên quan đến việc phản ánh xu
hướng vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp, xu hướng
phát triển của công nghệ và các dự báo dài hạn về thị trường, về
công nghệ, về sản phẩm... giúp nhà quản trị có cơ sở suy xét cho
việc ra các quyết định có nên đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao
trình độ công nghệ hay không? có nên mua sắm thiết bị máy móc
hay là thuê... các quyết định này có ảnh hưởng lớn tới tình hình sản
xuất kinh doanh trong cả ngắn hạn và dài hạn.
+ Quyết định ngắn hạn là những quyết định để giải quyết các vấn
đề phát sinh như trục trặc của qui trình công nghệ, tình hình cung


24

cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu,
nhiên liệu, thiếu hụt lao động... dựa vào các thông tin của kế toán
quản trị, căn cứ vào các chỉ tiêu trên dự toán, nhà quản trị các cấp
có cơ sở để ra các quyết định điều chỉnh, để huy động và sử dụng
các nguồn nhân tài, vật lực phù hợp cho việc hoàn thành các chỉ tiêu
của kế hoạch đã vạch ra. Các quyết định ngắn hạn thường có thời
hạn là dưới 1 năm, tháng, quí và có thể là hàng ngày. Các thông tin
của kế toán quản trị chi phí sản xuất, phục vụ cho các quyết định
ngắn hạn phải kịp thời, đầy đủ, tin cậy, dễ hiểu, dễ sử dụng, có thể
so sánh, đối chiếu, phân tích phục vụ cho việc đưa ra quyết định kịp
thời, đúng đắn nhằm khắc phục các biến cố, đưa việc sản xuất kinh
doanh đạt được mục tiêu kế hoạch.
Hoạt động của doanh nghiệp vận tải nói chung, của Tổng công ty
Hàng không Việt Nam nói riêng, do đặc điểm hoạt động vận tải cần
phải trang bị phương tiện vận tải có giá trị rất lớn, các chi phí sản

doanh trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí sản xuất của vận tải
hàng không thường đa dạng, phức tạp, phát sinh cả trên không và
mặt đất với giá trị rất lớn như chi phí nhiên liệu, khấu hao máy bay,
lương cho phi hành đoàn và phục vụ mặt đất... các chi phí này phát
sinh trên nhiều quốc gia, biểu hiện bằng nhiều đồng tiền khác nhau.
Việc tổ chức quản trị chi phí vận tải hàng không là việc làm vô cùng
cần thiết cho Hẵng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay, nhằm


26

khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho dịch vụ
vận tải hàng không, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm
dịch vụ để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt.
Vấn đề được đặt ra là để tăng cường và hoàn thiện công tác quản
trị chi phí vận tải hàng không thì hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị
chi phí vận tải hàng
không là việc làm rất cấp thiết nhằm cung cấp thông tin có hệ
thống, kịp thời, đầy đủ phục vụ cho việc ra các quyết định quản trị
chi phí. Do vậy, trong phạm vi của luận văn, tác giả nghiên cứu vấn
đề hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng không
với việc tăng cường quản trị doanh nghiệp tại Tổng công ty Hàng
không Việt Nam, nhằm đi sâu vào việc hoàn thiện tổ chức kế toán
quản trị, cung cấp thông tin cho việc ra các quyết định ngắn hạn của
nhà quản trị các cấp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam hiện
nay.
1.2.1.1 Chi phí dịch vụ vận tải hàng không
* Chi phí dịch vụ vận tải:
Chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ vận tải là biểu hiện bằng tiền

dịch vụ vận tải hàng không trong một thời kỳ nhất định.
Các chi phí cho dịch vụ vận tải hàng không bao gồm chi phí
nhiên liệu cho máy bay và cho phương tiện phục vụ mặt đất, chi phí


28

nhân công, chi phí cho dịch vụ thương mại kỹ thuật, chi phí bay qua
bầu trời, chi cho sân bay, chi phí khấu hao, chi phí sửa chữa bảo
dưỡng, chi phí đào tạo...
Do đặc điểm của hoạt động vận tải hàng không, nên chi phí vận
tải hàng không có những điểm khác biệt so với các loại hình kinh
doanh khác:
- Không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ
- Máy bay và động cơ là hai bộ phận kỹ thuật được quản lý và sử
dụng theo những tiêu chuần khác biệt, các chi phí khấu hao, bảo
dưỡng kỹ thuật, sửa chữa, thay thế có hệ thống tiêu chuẩn khác nhau
theo quy định thống nhất của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế
(ICAO).
- Phạm vi hoạt động của dịch vụ vận tải hàng không rất lớn, hàng
ngày hoạt động trên nhiều lãnh thổ quốc gia, phát sinh chi phí tính
bằng nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau, giá cả các dịch vụ
phục vụ bay khác nhau, văn hóa, tập quán khác nhau của các quốc
gia cũng ảnh hưởng đáng kể đến chi phí của dịch vụ vận tải hàng
không.
- Các hoạt động trung chuyển của các hãng hàng không cho nhau
trên nhiều chặng bay, đường bay (theo qui định của Hiệp hội vận tải
hàng không quốc tế IATA) cũng góp phần làm cho chi phí dịch vụ
vận tải hàng không đa dạng, phức tạp.
Đối với Hẵng hàng không quốc gia Việt Nam hiện nay, sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status