-1-
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay nhu cầu được tiếp cận giáo dục đại học hiện nay rất lớn. Để đáp ứng
nhu cầu đó nên ngày càng nhiều trường đại học và cơ sở đào tạo đại học của các
nước ra đời tại Việt nam. Sự ra đời của nhiều trường đại học cũng như các cơ sở
đào tạo của các nước dưới hình thức du học tại chỗ, đã làm cho cuộc cạnh tranh
giữa các trường đại học cũng như các cơ sở đào tạo trở nên ngày càng gay gắt. Do
đó việc nâng cao chất lượng đào tạo ngày càng trở nên cấp thiết cho sự tồn tại và
phát triển của từng trường đại học. Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo là quá trình
cần được thực hiện liên tục; những ý kiến nhìn nhận về chất lượng đào tạo từ phía
sinh viên là thành phần đóng góp không thể thiếu trong việc thực hiện cải tiến chất
lượng đào tạo của các trường đại học.
Tiền thân của trường Đại học Đồng Nai (DNU) là trường Cao đẳng Sư phạm
Đồng Nai. Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai được thành lập theo quyết định số
2317/QĐ của Bộ Giáo (nay là Bộ Giáo dục – Đào tạo) ngày 03/11/1976. Trường
Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai trực thuộc trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh.
Ngày 29/4/1979, liên Bộ Tài chính – Giáo dục có công văn số 97/TT/LB về
việc chuyển giao trường cho tỉnh Đồng Nai quản lý và được đổi tên là Trường Sư
phạm cấp 2 Đồng Nai.
Ngày 15/9/1997, thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục – Đào tạo về việc sắp
xếp các trường Đại học, Cao đẳng, UBND tỉnh Đồng Nai đã hợp nhất hai trường sư
phạm trong tỉnh (trường Trung học Sư phạm và trường Cao đẳng Sư phạm). Và
trường được lấy tên là Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai.
Ngày 20/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 1572/QĐ-TTg
thành lập Trường Đại học Đồng Nai trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Sư phạm
Đồng Nai.
Hiện nay trường có khoảng 3500 sinh viên hệ chính quy đang học các ngành
được đào tạo tại trường DNU. Trường DNU hiện đang đào tạo theo hai nhóm lĩnh
-3-
1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ đào tạo
tại trường DNU.
- Đối tượng khảo sát: Gồm đối tượng sau : Sinh viên năm thứ 3 và thứ 4 thuộc hệ
chính quy đang học tại trường DNU
- Phạm vi nghiên cứu : Tại trường DNU
- Không gian nghiên cứu : Các khoa, phòng ban trong trường DNU.
- Giai đoạn nghiên cứu : 06/2011 đến 09/2012
1.4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài này sử dụng 2 phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp nghiên cứu
định tính và định lượng.
Nghiên cứu định tính: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm để khám phá, điều
chỉnh và bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu. Những
thành phần dự kiến tham gia bao gồm các nhà lãnh đạo cao cấp, các trưởng phó các
phòng ban, các trưởng khoa, một số giáo viên cơ hữu hoặc tham khảo ý kiến của
các chuyên gia. Trên cơ sở những thông tin sau khi thảo luận, các biến của thang đo
SERVPERF sẽ được xác định phù hợp. Từ đó hình thành nên bảng câu hỏi.
Nghiên cứu định lƣợng: Được thực hiện thông qua số liệu thu thập được từ bảng
câu hỏi phỏng vấn trực tiếp đã được xác lập nhằm đánh giá thang đo, kiểm định mô
hình lý thuyết biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố trong thang đo và sự hài lòng
của sinh viên. Các phân tích được xử lý với phần mềm SPSS.
1.5 DỰ KIẾN KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng
dịch vụ đào tạo tại DNU.
- Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng
dịch vụ đào tạo trường DNU.
Philip B. Crosby trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả: “Chất
lượng là sự phù hợp với yêu cầu” [1]
Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính
của một thực thể (đối tượng) tạo ra cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn
những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” [1]
Như vậy, chất lượng có thể được định nghĩa như sau: “Chất lượng là tổng hợp
những tính chất đặc trưng của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm thỏa mãn
các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”
2.1.2 Chất lƣợng đào tạo giáo dục
Chất lượng đào tạo giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà
trường đề ra đảm bảo các mục tiêu trong giáo dục đại học của Luật giáo dục, phù
hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực của địa phương và cả nước.
Chất lượng đào tạo được đánh giá thông qua mức độ thực hiện so với mục tiêu
đào tạo đã được đề ra từ đó xác định mức độ đạt được.
-6-
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc
trưng về phẩm chất, năng lực hành nghề, giá trị nhân cách của người tốt nghiệp một
chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của
thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng lại ở kết quả
của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như
cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên.
Về khái niệm dịch vụ đào tạo thì hiện nay giữa các nhà nghiên cứu, các nhà
quản lý giáo dục vẫn chưa thống nhất về việc có hay không tính thị trường, tính
hàng hóa của giáo dục tại Việt Nam. Tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau thì nhiều
người đã thống nhất rằng, với phương châm lấy người học làm trung tâm, các
trường đại học ngày nay nên coi sinh viên là đối tượng phục vụ được cung cấp một
loại dịch vụ đặt biệt là dịch vụ đào tạo.
nhưng không thể hoàn dịch vụ.
6. Nhu cầu bất định: Độ bất định của nhu cầu dịch vụ cao hơn sản phẩm hữu hình
nhiều.
7. Quan hệ qua con người: Vai trò con người trong dịch vụ rất cao và thường được
khách hàng thẩm định khi đánh giá dịch vụ.
8. Tính cá nhân: Khách hàng đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình
rất nhiều.
9. Tâm lý: Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng.
2.2.2 Quan niệm về chất lƣợng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào
đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu.
Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự
mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1996; Asubonteng & ctg, 1996;
Wisniewski & Donnelly, 1996).Edvardsson, Thomsson & Ovretvei (1994) cho rằng
chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm
thỏa mãn nhu cầu của họ.
Theo Parasureman & ctg (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách
giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.
-8-
Tóm lại việc đánh giá và đo lường chất lượng dịch vụ rất khó khăn và chất
lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi nhận thức của khách hàng về dịch vụ và có mối
quan hệ với sự hài lòng của khách hàng.
2.2.3 Sự hài lòng của khách hàng.
Trong dịch vụ khách hàng là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình cung
cấp dịch vụ. Khách hàng là người trực tiếp tiêu thụ dịch vụ. Vì vậy chất lượng của
dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được và nó được xác định bởi nhiều
yếu tố, đôi khi thuộc về vấn đề nội tâm của khách hàng. Chất lượng dịch vụ được
Sự đáp ứng
Sự bảo đảm
Các nhân tố tình huống
(Situational Factor)
Chất lượng dịch vụ
(Service Quality)
Sự cảm thông
Sự hữu hình
Sự cảm thông
Chất lượng của sản
phẩm
(Product Quality)
Sự thỏa mãn khách hàng
(Customer Satisfaction)
Giá
(Price)
Các nhân tố cá nhân
(Personal Factor)
Nguồn: Zeithaml & Bitner (2000), Service Marketing, MacGraw – Hill
Hình 2.1: Mô hình nhận thức của khách hàng về chất lƣợng và sự thỏa mãn
Theo mô hình, rõ ràng chất lượng dịch vụ chỉ tập trung phản ánh nhận thức
của khách hàng về các nhân tố cụ thể của chất lượng dịch vụ bao gồm độ tin cậy, sự
hàng. Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do công ty dịch vụ không hiểu được hết
những đặc điểm nào tạo nên chất lượng của dịch vụ mình cũng như cách thức
chuyển giao chúng cho khách hàng để thỏa mãn nhu cầu của họ.
Khoảng cách thứ hai xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc
chuyển đổi nhận thức của mình về kỳ vọng của khách hàng thành những đặc tính
của chất lượng. Trong nhiều trường hợp, công ty có thể nhận thức được kỳ vọng của
khách hàng nhưng không phải công ty luôn có thể chuyển đổi kỳ vọng này thành
những tiêu chí cụ thể về chất lượng và chuyển giao chúng theo đúng kỳ vọng cho
khách hàng những đặc tính của chất lượng dịch vụ. Nguyên nhân chính của vấn đề
- 11 -
này là khả năng chuyên môn của đội ngũ nhân viên dịch vụ cũng như dao động quá
nhiều về cầu dịch vụ có những lúc cầu về dịch vụ quá cao làm cho công ty không
KHÁCH HÀNG
đáp ứng kịp.
Dịch vụ kỳ vọng
Khoảng cách
Dịch vụ cảm nhận
Dịch vụ chuyển giao
Thông tin đến
khách hàng
trình quảng cáo có thể làm tăng mức độ kỳ vọng của khách hàng, tuy nhiên nó cũng
có thể làm giảm chất lượng khi khách hàng cảm nhận được chúng không đúng với
chất lượng mà nội dung chương trình quảng cáo đưa ra.
Khoảng cách thứ năm xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lượng và kỳ
vọng của khách hàng với chất lượng họ cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ phụ
thuộc vào khoảng cách thứ 5 này. Chất lượng của dịch vụ được coi là hoàn hảo khi
khách hàng nhận thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng họ kỳ vọng và chất
lượng họ cảm nhận.
Parasuraman & ctg (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là hàm số của khoảng
cách thứ năm. Khoảng cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng cách trước đó.
Vì vậy để rút ngắn khoảng cách thứ năm và gia tăng chất lượng dịch vụ, các nhà
quản trị phải thực hiện rút ngắn các khoảng cách trước đó.
Mô hình năm khác biệt là mô hình tổng quát, mang tính chất lý thuyết về chất
lượng dịch vụ. Để có thể ứng dụng trong thực tế Parasuraman đã cố gắng xây dựng
thang đo để đánh giá chất lượng dịch vụ. Theo ông chất lượng dịch vụ được khách
hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần sau:
1. Tin cậy (reliability) nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn
ngay từ lần đầu tiên.
2. Đáp ứng (responsiveness) nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phụ
vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng.
3. Năng lực phục vụ (competence) nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch
vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên
trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần
thiết cho việc phục vụ khách hàng.
- 13 -
4. Tiếp cận (assess) liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng
trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm
phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
4. Đồng cảm (Empathy): thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách
hàng.
5. Phương tiện hữu hình (Tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân
viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.
Mô hình chất lƣợng dịch vụ của Gronroos
Mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos chỉ ra 3 thành phần của chất lượng dịch
vụ: cụ thể là chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh.
Cảm nhận
chất lượng
dịch vụ
Chất lượng
mong đợi
Hoạt động Marketing truyền
thống (quảng cáo, bán hàng, quan
hệ công chúng, giá cả) và các tác
động khác (truyền thống, tư tưởng
và truyền miệng)
Chất lượng
cảm nhận
Hình ảnh
thống (quảng cáo, bán hàng,
nghiệp có thể sử dụng để hiểu được những mong đợi của khách hàng.
Thang đo SERVQUAL đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong các loại
hình dịch vụ khác nhau cũng như nhiều thị trường khác nhau. Tuy nhiên nhiều
nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của nhân tố sẽ thay đổi tùy theo loại hình dịch
vụ và thị trường.
Thang đo SERVQUAL gồm 2 phần chính. Phần thứ nhất dùng để tìm hiểu
mức độ mong đợi của khách hàng. Phần thứ hai nhấn mạnh đến việc tìm hiểu cảm
nhận của khách hàng về dịch vụ có thể cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ được
xác định bằng điểm sai lệch giữa cảm nhận và mong đợi của khách hàng. Tuy nhiên
cũng có một số khó khăn khi đo lường sự sai lệch giữa cảm nhận và sự kỳ vọng của
khách hàng. Vì thế một biến thể của thang đo SERVQUAL là thang đo SERVPERF
ra đời để đo lường chất lượng dịch vụ từ chính sự cảm nhận của khách hàng. Tác
giả Cronin & Taylor (1992), đưa ra thang đo SERVPERF, thang đo này giúp xác
định chất lượng dịch vụ bằng cách chỉ đo lường chất lượng dịch vụ thông qua cảm
nhận của khách hàng, thang đo SERVPERF đo lường thông qua 5 nhân tố của chất
- 16 -
lượng dịch vụ: Độ tin cậy, độ phản hồi, sự đảm bảo, sự cảm thông và phương tiện
hữu hình với 22 biến quan sát.
2.3.3 Mô hình nghiên cứu chất lƣợng dịch vụ đào tạo tại DNU
Dựa vào mô hình chất lượng dịch vụ của Cronin & Taylor (1992) và mô hình nhận
thức của khách hàng về chất lượng và sự thỏa mãn của Zeithaml & Bitner (2000),
đặt trong trường hợp cụ thể trường đại học là loại hình kinh doanh dịch vụ nên tác
giả đề nghị một mô hình nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng
dịch vụ đào tạo tại trường Đại học Đồng Nai (trình bày hình 2.4). Để đo lường sự
hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ đào tạo tại trường Đại học Đồng
Nai tác giả sử dụng thang đo bao gồm 5 nhân tố sau: Tin cậy, đáp ứng, đảm bảo,
cảm thông, phương tiện hữu hình. Chỉ đo lường sự cảm nhận của sinh viên, không
- 17 -
Các giả thuyết của đề tài:
H1: Có sự tác động nhân tố độ tin cậy của chất lượng dịch vụ đào tạo đối với sự
hài lòng của sinh viên.
H2: Có sự tác động nhân tố đáp ứng của chất lượng dịch vụ đào tạo đối với sự
hài lòng của sinh viên.
H3: Có sự tác động nhân tố sự đảm bảo của chất lượng dịch vụ đào tạo đối với
sự hài lòng của sinh viên.
H4: Có sự tác động nhân tố sự cảm thông của chất lượng dịch vụ đào tạo đối với
sự hài lòng của sinh viên.
H5: Có sự tác động nhân tố phương tiện hữu hình của chất lượng dịch vụ đào
tạo đối với sự hài lòng của sinh viên.
TÓM TẮT CHƢƠNG 2
Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến các khái niệm về chất
lượng, chất lượng đào tạo giáo dục, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng.
Giới thiệu các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ. Trên cơ sở các mô hình đó tác
giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ đào tạo tại DNU. Mô hình lý
thuyết biểu diễn sự tác động của các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của sinh viên
về dịch vụ đào tạo đại học. Các yếu tố này là độ tin cậy, sự đảm bảo, sự đồng cảm,
sự đáp ứng, phương tiện hữu hình.
- 18 -
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Giới thiệu
Chương 2 đã trình bày và giới thiệu về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Chương 3 nhằm mục đích giới thiệu phương pháp nghiên cứu được sử dụng để xây
dựng, đánh giá các thang đo lường khái niệm đã nghiên cứu và kiểm định mô hình
tiến hành phân tích đánh giá tình hình đào tạo tại trường DNU hiện nay.
3.2.3 Thiết kế nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính là nghiên cứu mà trong đó dữ liệu thu thập được dưới
dạng định tính, phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua
phương pháp nghiên cứu tại bàn và phỏng vấn các chuyên gia từ đó khám phá, điều
chỉnh và bổ sung các biến quan sát đo lường các thành phần đánh giá chất lượng
đào tạo. Các thành viên tham gia việc lấy ý kiến bao gồm các chuyên gia trong lĩnh
vực giáo dục, các trưởng, phó phòng ban, trưởng khoa, giảng viên giảng dạy lâu
năm trong lĩnh vực giáo dục. Và các nhà lãnh đạo, quản lý của các tổ chức sử dụng
nhân viên lao động là sinh viên của trường DNU, sau đó tham khảo ý kiến của sinh
viên đang học trong trường. Trên cơ sở đó điều chỉnh thang đo cho phù hợp với
dịch vụ đào tạo của trường. Trên cơ sở phỏng vấn sinh viên (người trực tiếp nhận
chất lượng đào tạo của trường DNU) để thăm dò ý kiến của sinh viên về các biến
quan sát dùng để đo lường các thành phần của chất lượng đào tạo theo thang đo
SERVPERF. Trong bước này bảng câu hỏi được hình thành.
3.2.4 Thiết kế nghiên cứu định lƣợng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua số liệu thu thập được của
bảng câu hỏi được xây dựng trước đó. Việc nghiên cứu định lượng được thực hiện
nhằm đánh giá thang đo của các biến đo lường chất lượng đào tạo, kiểm định mô
hình lý thuyết biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo. Thang đo được hiện thông qua phần mềm SPSS và được kiểm định bằng hệ
số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố, kiểm định mô hình đối với giả
thuyết nghiên cứu được đề ra. Mẫu nghiên cứu được chọn là sinh viên hệ chính quy
- 20 -
đang học các năm cuối tại trường DNU. Bảng câu hỏi được phát trực tiếp tại các lớp
thuộc ngành học sư phạm và các ngành học ngoài sư phạm.
3.3 Xây dựng thang đo
HH2
Câu hỏi
Phƣơng tiện hữu hình
Giảng viên và nhân viên trong trường luôn ăn mặc gọn gàng, lịch
sự.
Môi trường đào tạo có tính văn hóa cao
- 21 -
3
HH3
Cơ sở vật chất trường đáp ứng tốt nhu cầu đào tạo
4
HH4
Trang thiết giảng dạy của trường hiện đại
5
HH5
Thư viện với nguồn tài liệu phong phú và được cập nhật thường
xuyên đáp ứng được nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên.
TC4
Dữ liệu, thông tin về sinh viên (lý lịch, kết quả học tập, học phí)
được quản lý chặt chẽ và chính xác.
11
TC5
Chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn
12
TC6
Chương trình đào tạo được thiết kế có thể liên thông với các trình
độ đào tạo và chương trình giáo dục khác.
Đáp ứng
13
DU1
Sinh viên được thông báo đầy đủ và kịp thời các vấn đề liên quan
đến sinh viên (qui chế, chương trình học, lịch học, các hỗ trợ học
tập ….)
14
Giảng viên và nhân viên của trường chuyên nghiệp và lịch sự khi
giao tiếp và làm việc với học sinh
19
DB2
Giảng viên đánh giá kết quả chính xác.
20
DB3
Giảng viên có học vị và trình độ chuyên môn cao.
- 22 -
21
DB4
Tham gia vào chương trình đào tạo của trường, sinh viên cảm thấy
an tâm và tự tin trong công việc
22
DB5
Công tác tổ chức, kiểm tra, đánh giá nghiêm túc, chặt chẽ
CT4
Trường có những cán bộ thể hiện sự quan tâm tới sinh viên
28
CT5
Giờ dạy và học tại trường luôn thuận tiện cho sinh viên
Hài lòng
29
HL1
Quyết định theo học tại DNU là quyết định đúng đắn
30
HL2
Mức độ hài lòng của sinh viên đối với môi trường học tập tại DNU
31
HL3
Mức độ hài lòng của sinh viên với chất lượng đào tạo tại DNU
Nguồn: phụ lục 1
bằng phần mềm thống kê SPSS 17.0
(1) Lập bảng tần số để mô tả mẫu thu thập theo các thuộc tính
(2) Đánh giá độ tin cậy thang đo thông qua Cronbach’s alpha.
Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ các biến không phù hợp và
hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo
thông qua hệ số Cronbach’s alpha. Những biến có hệ số tương quan biến tổng nhỏ
hơn 0.3 sẽ bị loại. Thang đo có hệ số Cronbach’s alpha từ 0.6 trở lên là có thể sử
dụng được.
(3) Phân tích nhân tố EFA
Sau khi đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s alpha và loại
đi các biến không đảm bảo độ tin cậy. Phân tích nhân tố khám phá là kỹ thuật được
sử dụng nhằm thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu. Phương pháp này rất có ích trong việc
xác định các tập hợp biến cần thiết cho vấn đề nghiên cứu và được sử dụng để tìm
mối quan hệ giữa các biến với nhau.
Trong phân tích khám phá, trị số KMO là chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp
của phân tích nhân tố. Trị số KMO phải có giá trị trong khoảng từ 0.5 đến 1 thì
- 24 -
phân tích này mới thích hợp, còn nếu trị số này nhỏ hơn 0.5 thì phân tích nhân tố có
khả năng không thích hợp với các dữ liệu.
Ngoài ra phân tích nhân tố còn dựa vào eigenvalue để xác định số lượng nhân
tố chỉ có những nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1 thì mới được giữ lại trong mô hình.
Đại lượng eigenvalue đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố.
Những nhân tố có eigenvalue nhỏ hơn 1 sẽ không có tác dụng tóm tắt thông tin tốt
hơn một biến gốc.
Một phần quan trọng trong bản kết quả phân tích nhân tố là ma trận nhân tố
(component matrix) hay ma trận nhân tố khi các nhân tố được xoay (rotated
component matrix). Ma trận nhân tố chứa các hệ số biểu diễn các biến chuẩn hóa