23
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHẠM KIỀU ANH
RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN
TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN
Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số:
62.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
GS. TS. LÊ A
HÀ NỘI, 2013
24
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN
CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN CHO HỌC SINH THPT
1.1. Quan niệm về lập luận
Ngay từ xa xưa, khi bàn về thuật hùng biện, Aristote đã trình bày những hiểu biết
Hơn nữa, cũng trong lôgic học, các nhà khoa học còn chỉ ra những cách thức tổ chức lập
luận như: phân tích, chứng minh, bác bỏ, tổng hợp... Có thể nói những cách thức tổ chức
lập luận trên đây gắn liền với các hoạt động của tư duy lôgic, và cũng là con đường giúp
con người đi đến với nhận thức chân lý.
1.1.2. Quan niệm về lập luận trong ngôn ngữ học
Lập luận cũng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu ngôn
ngữ học. Tìm hiểu lập luận với tư cách là đối tượng của ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học
đã đưa ra những quan niệm khác nhau. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập
luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra
một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa
người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó. Lập luận là một hoạt
động bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” [23, 21].
Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành động ngôn ngữ được con
người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hay phán đoán nào đó nhằm tạo ra
những tác động nhất định đối với người tiếp nhận. Đó kết quả của một quá trình tư duy,
gắn liền với hoạt động nhận thức của con người. Kết quả ấy được biểu thị qua các hình
thức của ngôn ngữ. Nói một cách khác, lập luận chính là sản phẩm của tư duy nhưng được
thể hiện cụ thể bằng trật tự lôgic của ngôn từ.
Còn nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng lập luận một hành động ngôn ngữ có
cấu tạo chặt chẽ. Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, thuật ngữ “lập luận” được hiểu theo
hai nghĩa: “thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành vi lập luận. Thứ hai, nó chỉ sản phẩm
của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức” [14,
19]. Theo quan niệm trên, có thể khẳng định, về bản chất, lập luận là một hành động ngôn
ngữ được biểu hiện qua cả phương diện nội dung và cấu trúc hình thức. Bởi lẽ trong ngôn
ngữ, lập luận là một chiến lược hội thoại được con người thực hiện nhằm dẫn dắt người
tiếp nhận đi tới một nhận thức hoặc một kết luận nào đó mà người tạo lập muốn đạt được.
Các nhà ngôn ngữ học từng khẳng định: “Lập luận là đưa ra một hoặc một số luận cứ
nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận nào đấy mà người nói, người viết
muốn diễn đạt tới” [15, 79]. Hay cụ thể hơn, đó là cách con người “đưa ra những lý lẽ
nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người
Hơn nữa, lập luận trong VBNL còn thể hiện rõ những hành động của tư duy
logic. Khi thực hiện hoạt động nghị luận, tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý
trong logic, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận để dẫn dắt người tiếp
nhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đích khác nhau như tuyên
truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồi dưỡng. Dù mục
đích tạo lập khác nhau, nội dung nghị luận khác nhau nhưng thông qua hành động lập
luận, người nói, người viết có thể dẫn dắt người nghe, người đọc tiếp cận nội dung bàn
luận một cách tự nhiên, khéo léo. Bởi lẽ, lập luận là hành động được người tạo lập thực
hiện nhằm“bàn luận với người đọc về hiện thực” [16, 3]. Nói một cách khác, VBNL đặc
biệt chú trọng tới cách tổ chức lập luận nhằm tác động mạnh mẽ đến người tiếp nhận,
thuyết phục người ta tin vào ý kiến của bản thân người tạo lập. Nhờ có lập luận, người tạo
lập thể hiện thái độ, quan điểm, cũng như những dụng ý riêng của bản thân “nhằm khêu
gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc” [26, 5] và tạo ra những tác động
nhất định đối với người tiếp nhận. Cho nên, khi nghiên cứu VBNL, lập luận được coi là
phương thức biểu đạt cơ bản của kiểu văn bản này.
Cũng vì thế, khi dạy học lập luận trong VBNL, GV một mặt phải tuân theo các
quy tắc của logic, mặt khác phải đảm bảo tới cấu trúc của lập luận, nhưng đặc biệt phải
chú trọng tới cách tổ chức hệ thống lập luận khi tạo lập văn bản. Rèn luyện các TTLL ở
THPT chính là nhằm rèn cho HS năng lực thiết yếu để tổ chức lập luận khi viết văn nghị
28
luận. Vì thế nó vừa chịu sự chi phối của các thao tác tư duy logic, vừa phải gắn với cấu
trúc, cách thức tổ chức lập luận.
1.3. Thao tác lập luận trong văn bản nghị luận
Tiếp cận VBNL, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ tầm quan trọng của phân tích,
chứng minh, bình luận… Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm đó là các
TTLL. Để tìm hiểu TTLL, chúng tôi xem lập luận trong VBNL là một hành động ngôn
ngữ. Đó là hành động được con người thực hiện để tạo ra các sản phẩm giao tiếp cụ thể.
A. A. Leonchiep cho rằng trong dòng liên tục của các hoạt động khác nhau tạo nên đời
sống cá nhân, nếu ta lấy ra một hoạt động bất kỳ, tại thời điểm xác định và loại bỏ mọi sự
29
khác nhau về hình thức biểu hiện và tính chất riêng rẽ, sẽ còn lại quan hệ chủ thể - đối
tượng, thông qua công cụ hoạt động. Nói một cách khác, bản chất cuối cùng của việc thực
hiện hoạt động chính là quá trình thể hiện mối quan hệ giữa con người (nhu cầu của con
người) và hành động thông qua các thao tác cụ thể. Vì thế, thao tác là phương tiện để thực
hiện hành động. Nó thuần túy là cơ cấu kỹ thuật, máy móc của hành động. Nó có thể được
tháo lắp, đập vỡ, chắp ghép và tự do tham gia vào bất kỳ hành động nào nếu hành động đó
phù hợp với nó về lôgic. Trong hoạt động, thao tác chính là nhân tố tạo nên sự vận hành
của hành động nhằm đạt được mục đích.
Tạo lập VBNL là một hoạt động. Hoạt động đó được con người thực hiện nhằm
đáp ứng những nhu cầu riêng của bản thân. Muốn đạt được nhu cầu ấy, con người phải
thực hiện các động tác - cơ sở để thực hiện và vận hành những hành động nghị luận. Một
trong những hành động thiết yếu chính là hành động lập luận. Và để thực hiện hành động
ấy, người nghị luận phải sử dụng tới TTLL. Theo đó, ta có thể quan niệm về TTLL như sau:
Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kỹ thuật mà người nói, người viết
sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu
nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận.
1.3.2. Các thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT
Nghiên cứu VBNL, có thể nhận thấy người nói, người viết thường sử dụng các
TTLL cơ bản sau: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, so sánh, bác bỏ, bình luận.
Tuy nhiên, gắn với phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung vào các TTLL
dưới đây:
1.3.2.1. Thao tác lập luận phân tích
Trong quá trình khám phá thế giới khách quan, con người nhận thấy rằng bất cứ
một đối tượng, một sự vật nào cũng đều do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận lại có
Sách là báu vật không thể thiếu được đối với mọi người. Phải biết chọn sách mà
đọc và trân trọng, nâng niu những cuốn sách quý”.
(Theo SGK Ngữ văn 7, tập 2, tr.23, Nxb Giáo dục)
Ở ngữ liệu trên, để đánh giá vai trò của việc đọc sách, tác giả Thành Mĩ mở đầu
bằng việc khẳng giá trị không thể thay thế của sách. Từ luận điểm được nêu, tác giả đã chỉ
ra các phương diện khác nhau mà sách đem lại. Đó là:
1) Sách là người bạn.
2) Sách mở mang tri thức, hiểu biết.
3) Sách đưa ta vượt thời gian.
4) Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn.
Bằng cách chia nhỏ tác dụng của sách thành bốn phương diện, tác giả Thành Mỹ
đã chỉ ra ích lợi của việc đọc sách một cách ngắn gọn, súc tích nhưng rất cụ thể và thuyết
phục người tiếp nhận. Ích lợi ấy được biểu hiện qua các phương diện như: là người bạn,
mở mang tri thức, vượt thời gian, và mang lại sự thư giãn cho con người. Đó đều là những
điều kiện cần thiết đối với cuộc sống của mỗi cá nhân. Có thể nói thông qua việc sử dụng
TTLL phân tích, tác giả truyền đạt khá đầy đủ dụng ý riêng của bản thân.
Trong hành động lập luận, phân tích là thuộc kiểu hành vi ngôn ngữ ở lời. TTLL
này thường được người tạo lập thực hiện trong một đoạn văn, nhiều đoạn văn, thậm chí là
31
tất cả các đoạn văn trong bài khi giữa chúng có mối quan hệ với nhau về ý nghĩa. Vì vậy,
khi thực hiện TTLL phân tích, người nói, người viết phải tuân theo những nguyên tắc sau:
Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng nhất tổ chức của đối tượng. Để làm
được điều này, chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộ phận của nội dung
và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lý. Việc phân chia phải dựa vào những căn cứ về
nội dung, về ý nghĩa hay hình thức biểu hiện để các khía cạnh được phân tách có tính
chính xác, khoa học. Mặt khác, các yếu tố, các bộ phận phải được phân chia theo cấp bậc.
Theo đó, khi sắp xếp, người viết dựa vào cấp bậc của các yếu tố để trình bày nội dung
đã tạo ra một kết thúc bất ngờ, ấm áp với một lối diễn đạt vừa nhẹ nhàng, giàu cảm xúc
phù hợp với đặc điểm tình cảm của trẻ thơ.
Khác với so sánh tu từ, trong VBNL, TTLL so sánh được người tạo lập thực hiện
trên cơ sở tương đồng giữa các đối tượng và từ đó rút ra ý kiến, nhận định về đối tượng
nghị luận. Ta có thể nhận thấy đặc điểm đó trong ngữ liệu sau:
“Thần Hê-ra-clet của Hi Lạp, chủ yếu là bắp thịt rắn chắc, có tài chiến đấu,
nhưng mục tiêu chiến đấu là gì thì bất cần, tâm địa thần tầm thường. Trong truyện Thánh
Gióng Việt Nam không thấy nói đến bắp thịt rắn chắc mà nói đến đức tính trước hết. Đức
tính nào cũng cao cả, hình tượng nào cũng phơi phới. Thần anh hùng của ta trí dũng kiêm
toàn, đạo đức không gợi một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung vào một việc,
mà việc ấy là việc cứu nước.” [111, 58]
Đoạn trích trên được trích lược từ bài đánh giá về vẻ đẹp của Thánh Gióng - một vị
thần anh hùng bất tử trong truyện cổ dân gian Việt Nam. Để làm nổi bật lên vẻ đẹp của
Phù Đổng Thiên Vương, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã sử dụng triệt để TTLL so sánh.
Cũng giống như các hình thức so sánh khác, so sánh trong lập luận ở đoạn trích trên được
tác giả thực hiện bởi sự đối chiếu giữa hai hình ảnh có sự tương đồng với nhau - cả hai vị
thần đều có tài chiến đấu. Chọn đối tượng so sánh là thần Hê-ra-clét của Hi Lạp, tác giả đã
lần lượt chỉ ra những nét khác biệt giữa hai vị thần trong các tác phẩm dân gian. Trong
thần thoại Hy Lạp, Hê-ra-clét là vị thần có vẻ đẹp hình thể: bắp thịt rắn chắc và tài năng
chiến đấu hơn người. Thánh Gióng của ta cũng một mình đánh đuổi lũ giặc Ân xâm lược.
Thế nhưng Hê-ra-clét lại không phân định rõ mục tiêu chiến đấu, tâm địa tầm thường.
Còn trong truyện Thánh Gióng, đức Phù Đổng Thiên Vương của ta đẹp không phải ở hình
thể mà đẹp bởi đức tính. Đấy là một vị thần trí dũng kiêm toàn, đạo đức không gợn một
hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung vào việc cứu dân cứu nước. Như vậy từ
việc so sánh hình ảnh hai vị thần trong truyện, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nêu ra những
nét đối lập trong vẻ đẹp của hai nhân vật để rồi chứng minh cho vẻ đẹp bất diệt của đức
Phù Đổng Thiên Vương - vẻ đẹp ấy toả sáng lung linh, huyền ảo với nhiều ý nghĩa mới
mẻ sâu xa. Thánh Gióng - hình ảnh một vị thần đẹp người, đẹp nết, trí dũng kiêm toàn,
sống và hành động vì nghĩa lớn nhưng lại rất bình dị, khiêm nhường. Câu kết của đoạn
trích chính là kết quả được rút ra từ hành động so sánh trước đó. Nhờ có so sánh, ta có thể
Bằng TTLL so sánh, Nguyễn Tuân đã chỉ ra ý nghĩa ẩn sau những mảnh đời đi vào
mỗi trang viết của Ngô Tất Tố. Trong xã hội cũ, dưới sự kiểm soát gắt gay của thực dân
và phong kiến, Ngô Tất Tố đã tìm ra cho mình một hướng đi riêng, và ta chỉ có thể nhận
thấy điều đó khi đặt nó trong mối tương quan với những người khác. Nhờ đặt vấn đề xã
hội trong cách nói của những người khác, Nguyễn Tuân đã chỉ ra sự khác biệt của Ngô
Tất Tố: “người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư tiều tiều canh
canh mục mục. Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn”. Điều đó đã tạo ra dấu
ấn riêng trong cách viết của Ngô Tất Tố.
Trên thực tế, khi sử dụng so sánh để tổ chức lập luận, người lập luận có thể thực
hiện theo hai hình thức: so sánh tương đồng hoàn toàn và so sánh tương đồng có dị biệt.
Thông thường, người ta sử dụng hình thức so sánh thứ nhất để chỉ ra những điểm chung
của các yếu tố và qua đó đưa ra những nhận định có tính chất khái quát cho đối tượng
34
được nghị luận. Hãy xem xét ví dụ sau:“Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác
thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì
càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy”.
(Phạm Văn Đồng)
Để rút ra nhận định về giá trị của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã mượn hình ảnh các vì sao trên bầu trời để so sánh. Không chọn hình
dáng hay độ đậm nhạt của ngôi sao khi được nhìn thấy trong thực tế mà tác giả đã chọn
ánh sáng của những ngôi sao ấy để làm yếu tố so sánh. Đó là thứ ánh sáng được tác giả
xác định ở các đặc trưng: khác thường, phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì
càng thấy sáng. Và những đặc trưng ấy có những nét tương đồng với biểu hiện của thơ
văn Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc. Từ đó, tác giả Phạm Văn Đồng đã rút
ra một nhận định, một kết luận về giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
Không giống với so sánh tương đồng hoàn toàn, so tương đồng có dị biệt lại bắt
đầu từ việc người viết chọn những yếu tố, những chi tiết, những hình ảnh có đặc điểm
chính xác. Đó cũng là một thao tác được con người sử dụng thường xuyên với mục đích là
để gạt bỏ, phản bác những ý kiến, những sự việc sai lầm, và qua đó bảo vệ những điều
đúng. Nó giúp con người có những cách thức để phê phán những chân lý, nhận thức hay
quan điểm sai, đi đến với những điều đúng đắn, chính xác.
Trong VBNL, bản chất của TTLL bác bỏ là cách người viết tổ chức lập luận nhằm
phủ nhận một ý kiến, một kết luận bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra một cách rõ
ràng, tường tận, thấu đáo những sự vô lý, sai lầm của nó. Nó thực chất là cách người tạo
lập thực hiện các động tác phủ định nhằm thể hiện nhận thức, thái độ của bản thân đối với
nội dung được nghị bàn.Vì thế, lập luận trong TTLL này gắn với hành vi mượn lời. Nó
được người viết sử dụng khi và chỉ khi gặp những quan điểm không đúng hoặc có người
không tán đồng với những ý kiến mà mình đưa ra trong quá trình bàn luận. Nhờ có TTLL
này, người tạo lập sẽ chỉ ra lệch lạc, chưa chính xác trong suy nghĩ rồi từ đó dẫn dắt người
tiếp nhận đi đến với những chân lý đúng đắn, xác thực hơn. Ta có thể nhận thấy vai trò
của TTLL bác bỏ trong ngữ liệu sau:
“... Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe ra thật tầm thường cũ rích, tuồng như không
ai để ý đến, nhưng cứ như những câu trả lời của các học giả xưa nay thì có một câu vắn
tắt mà có thể bao quát được toàn thể và công dụng sự học là:
Học để làm người.
Theo câu nói ấy, có lẽ cãi lại rằng: Vậy thì không học không làm người được sao?
Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng, ông Hoắc Quang
không học mà làm được công nghiệp lớn. Bên Âu Tây, nhiều nhà đại chính trị đại sáng
tạo hoặc trọn đời ở trong các mỏ lớn, các công xưởng mà làm được công việc to lớn đó
thì sao? Còn ở trên đời biết bao người vào trường nọ, đậu bằng kia, đào mãi trong trăm
ngàn bộ sách, miệng nói ra rành là chuyện văn hào đông tây, mà xét đến phẩm cách tính
chất, có điều mất cả tư cách làm người nữa. Thế thì câu nói “học để làm người” không
phải là không đúng sao?” .
(Trích Học để làm gì? - Huỳnh Thúc Kháng - Báo Tiếng Dân, số 282, ngày 17.5.1930,
in lại trong “ Tổng tập văn học Việt Nam”, tập 21, Nxb Khoa học Xã hội. H. 2000).
học mà làm được công nghiệp lớn... để chỉ ra quan niệm lệch lạc trong luận điểm chính.
Khi sử dụng TTLL bác bỏ, người viết thường thực hiện các cách bác bỏ như bác
bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ. Việc thực hiện bác bỏ ở luận điểm, hay luận cứ phải căn cứ
vào nội dung của chúng, xác định những phương diện chưa chính xác trong nội dung luận
điểm, luận cứ để từ đó tìm ra những lỹ lẽ, dẫn chứng để có thể phản bác lại những nội
dung không chính xác ấy. Vì thế, khi thực hiện hành động bác bỏ, người viết phải kết hợp
37
với các TTLL khác như phân tích, chứng minh, bình luận... Để lý giải đặc điểm trên,
chúng ta xem xét ngữ liệu sau:“ Người ta thường nói: “ Cứng quá thì gãy”. Kẻ sĩ chỉ lo
không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời. Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà
chịu đổi cứng ra mềm?
Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải. Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền tà, chống
lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người. Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị
ở Minh ti, thật là xứng đáng. Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.” [53, 26]
Trong ngữ liệu trên, tác giả Nguyễn Dữ tập trung bàn về quan niệm “Cứng quá thì
gãy” - một quan niệm sống cũng như ứng xử của con người. Chọn một nhận định chưa
thực sự xác đáng, tác giả đã sử dụng lý lẽ và dẫn chứng để chỉ ra sự lệch lạc đó. Cũng vì
thế, nội dung luận bàn được tác giả Nguyễn Dữ trình bày ở câu mở đầu. Sau đó, tác giả
nêu dẫn chứng bằng thái độ của một lớp người trong xã hội - kẻ sỹ để chỉ ra phần chưa
chính xác và biện giải cho sự lệch lạc trong nhận thức về quan niệm. Vẫn phát triển tiếp
nội dung mạch ý trên, người viết đã lấy một dẫn chứng cụ thể - Ngô Tử Văn, một nhân
vật được coi là “anh chàng áo vải” để chứng tỏ thái độ sống cứng cỏi của nhân vật này.
Từ đó, người viết đã thể hiện thái độ khâm phục của mình: làm một việc hơn cả thần và
người và rút ra lời nhận định: “Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi”. Như vậy,
trong ngữ liệu ngắn, với dụng ý là thể hiện thái độ không đồng tình với một quan điểm
sống, tác giả Nguyễn Dữ đã sử dụng TTLL bác bỏ để dẫn dắt người đọc đi đến với chân
lý về thái độ sống trong cuộc đời. Khi sử dụng TTLL này, tác giả đã kết hợp với phân
hi vọng”. Với luận điểm đó, tác giả đã chỉ ra biểu hiện của hạnh phúc đối với cuộc sống
của con người. Bằng những dẫn chứng cụ thể, tác giả nêu ra nhận xét, đánh giá của bản
thân về hạnh phúc: “Một khi con người có được hạnh phúc thì họ sẽ sống tốt, sống có ý
nghĩa và luôn vươn tới những cái tốt đẹp hơn. Hạnh phúc sẽ là chỗ dựa vững chắc về mặt
tinh thần để bạn có một động lực hoàn thành tốt mọi việc và tạo ra những thành công nối
tiếp thành công. Tuy mỗi người đều có một hoàn cảnh riêng, không ai giống ai, có những
niềm hạnh phúc rất riêng, rất độc lập, nhưng chúng đều giống nhau ở chỗ là làm cho
người ta thêm yêu cuộc sống, yêu công việc mình làm và luôn muốn hoàn thành nó một
cách tốt nhất. Đồng thời, khi có được một niềm hạnh phúc dù chỉ là rất nhỏ bé cũng làm
cho người ta thấy “hưng phấn” hơn và cố gắng để làm cho niềm “hạnh phúc” đó được
nhân lên mãi”. Lời bình được tác giả trình bày xen kẽ với những biểu hiện của nó đối với
cuộc sống con người đã giúp cho cách biểu đạt nội dung trở nên chặt chẽ, xác đáng nhưng
thể hiện rõ nhận thức của người viết đã thực sự thuyết phục độc giả. Dường như những lời
bình ấy đã tạo ra điểm nhấn khi người viết khẳng định giá trị của hạnh phúc đối với bản
thân mỗi cá nhân trong đó có tác giả.
Trong hành động lập luận, bình luận thực chất là kết quả cuối cùng của quá trình
suy luận. Nó được thể hiện ở chỗ: đánh giá, bàn luận bao giờ cũng phải xuất phát từ một
nhận định cụ thể; nội dung bình giá luôn là sự đúc rút từ những phân tích, suy đoán,
chứng minh... Nói cách khác, bình luận là sự đúc rút chân lí, nhận thức từ những cách tiếp
cận nội dung nghị luận. Khi thực hiện bình luận, người viết thực hiện hai động tác cơ bản
là luận và bình. Trong đó, luận là người viết xác định rõ luận điểm, tìm ra các luận cứ,
luận chứng nhằm làm rõ nội dung vấn đề; bình là việc từ những luận cứ, luận chứng, lí lẽ
39
đã nêu, người viết rút ra đánh giá của mình về nội dung được “luận” trước đó. Đặc điểm
này được bộc lộ trong ngữ liệu sau: "... Nếu bảo luật chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có
đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức. Nếu tận dụng
cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức. Có cái đức
40
trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi “đồng hành cùng “sát thủ” trên đồng hành cùng những
“sát thủ” trên đường phố...” đường phố...Từ đó, người viết bày tỏ thái độ: “Đó là sự tổn
thương quá lớn cho lực lượng lao động đất nước” và “Nếu chúng ta... bằng sự thận trọng
khi tham gia giao thông”... Có thể nói, bình và luận đã thực sự tạo ra những cách diễn đạt
vừa hấp dẫn, vừa xác đáng vừa thể hiện nét riêng trong suy nghĩ và nhận thức của mỗi
người viết. Nói một cách khác, nhờ có bình luận, người viết mới có thể nêu lên những
nhận xét, những suy luận được đúc rút từ thực tế tiếp cận và khám phá nội dung nghị luận.
Trong VBNL,TTLL bình luận còn là cách người viết dẫn dắt người tiếp nhận đi
đến với những suy nghĩ, nhận thức mới. Có thể nhận thấy điều đó trong ngữ liệu sau:“ ...
Trong cuộc sống có biết bao nhiêu sự cảm ơn có lời và không lời như thế. Với những
người có văn hóa,“cảm ơn” là lời nói được sử dụng hằng ngày, những lời luôn được cất
lên bằng tất cả thái độ lịch sự và tình cảm chân thực nhất. Nhưng tiếc rằng, vẫn còn
không ít thanh niên chưa nghĩ như vậy. Họ coi cảm ơn chỉ là những lời khách sáo, vì thế,
chẳng cần phải nói ra. Hình như những bạn ấy vẫn nghĩ một cách giản đơn rằng nói lời
cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu lộ sự biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân
tình và tăng thêm xa cách mà thôi.
Thế nhưng, cuộc sống hiện đại và yêu cầu về quy tắc giao tiếp giữa người với
người đòi hỏi chúng ta phải tập làm quen với lời “làm ơn” và sau đó là “cảm ơn”. Thật
hạnh phúc khi ta làm được một việc có ý nghĩa, một điều tốt đem lại niềm vui, hạnh phúc
cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn. Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi
chúng ta thấy mình đã không dửng dưng, bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đỡ mình
bằng những lời nói xuất phát tự đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “cảm ơn” [ 56, 82]
Ngữ liệu trên được người viết thực hiện nhằm bàn về một hành động cần thiết
trong cuộc sống - hành động “đem mọi người đến gần nhau hơn”. Có thể nói trong xã hội
hiện đại, đây là việc làm cần thiết, bởi khi đời sống phát triển, có nhiều khi con người chỉ
biết bản thân mình mà không quan tâm tới cộng đồng. Vậy làm thế nào để mỗi cá nhân
đó để nêu ra những nhận xét cho phù hợp. Bởi vậy, khi sử dụng TTLL này, người tạo lập
phải có thái độ khách quan, không được xem xét nội dung thoải mái, phiến diện, mang
tính chủ quan, áp đặt; các lời bình giá không phải được rút ra từ một vài lập luận đơn giản,
sơ sài.
- Tùy vào từng cách cấu trúc, bố cục đoạn, bài văn mà để xác định đúng nội dung
được luận, khi luận cần trình bày trung thực, rõ ràng.
- Khi bình, phải nêu và bảo vệ quan điểm của mình, tìm cách thuyết phục người
tiếp nhận đặt niềm tin vào những đánh giá của bản thân. Vì thế, khi bình luận, cần tránh
thái độ cực đoan, không thể hiện quá mức hay không phù hợp với sự thật. Hơn nữa, người
nói, người viết phải khéo léo đưa ra kiến giải riêng, trình bày những phát hiện mới về ý
nghĩa mà nội dung nghị luận đặt ra. Khi thực hiện bình luận mà không biết lồng ghép với
những phát hiện riêng thì tất yếu tạo ra những lập luận sơ giản, thiếu sức thuyết phục.
Với đặc trưng là dạng lập luận mang tính khái quát, bình luận là TTLL có vị trí tự
do, có thể có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, được sử dụng khi nghị bàn (cả văn học và cả
các vấn đề của đời sống xã hội) và cũng là TTLL có thể kết hợp với tất cả các TTLL khác.
42
1.3.3. Sự kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận
Trong VBNL, mỗi TTLL có đặc điểm riêng, và được sử dụng nhằm một mục đích,
một dụng ý riêng của người viết. Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLL lại có thể bổ sung, hỗ
trợ cho nhau trong việc tường minh nội dung bàn luận. Và khi kết hợp chúng với nhau,
người viết có thể tạo ra cách diễn đạt chính xác phù hợp với các chân lý khách quan, khoa
học, qua đó gây dựng sự tin tưởng ở phía người tiếp nhận. Vì vậy, yêu cầu cần thiết đối
với người tạo lập là phải căn cứ vào mục đích, đối tượng nghị luận để lựa chọn và kết hợp
các TTLL cho phù hợp. Mặc dù vậy, việc phối hợp các TTLL cần tuân theo một trình tự
hợp lý. Thông qua một số VBNL, chúng tôi nhận thấy, khi triển khai nội dung nghị luận,
các TTLL thường được sắp xếp theo trình tự sau:
Muốn triển khai nội dung cần bàn luận, người viết phải xác định rõ luận điểm
“Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay
hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ. Sông
to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén
nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự
kiêu tự mãn thì cũng như cái chén, cái đĩa cạn” [53, 120].
Trong đoạn trích trên, tác giả Hồ Chí Minh đã sử dụng các TTLL như giải thích,
phân tích và so sánh, bác bỏ. Từ một biểu hiện thuộc về đạo đức và lối sống - là thói tự
kiêu tự đại của một số người, Bác đã chỉ ra sự không đúng đắn trong tư tưởng và trong
thực tế của lối sống ấy. Trước hết, Bác lý giải thế nào là tự kiêu tự đại. Tuy vậy, sự giải
thích của Bác cũng đã được chia nhỏ thành hai khía cạnh là: khờ dại và thoái bộ. Ở khía
cạnh thứ nhất: tự kiêu là khờ dại, Bác đã chỉ rõ khờ dại bởi nếu cho mình là hay, là giỏi thì
trong xã hội này còn nhiều người tài giỏi hơn mình. Cách tổ chức lập luận như vậy thể
hiện sự kết hợp giữa TTLL phân tích với TTLL bác bỏ và qua đó phản bác lại những suy
nghĩ lệch lạc. Ở khía cạnh thứ hai: tự kiêu là thoái bộ, Bác đã mượn những hình ảnh so
sánh để chỉ ra sự nông cạn, lệch lạc của thói tự kiêu tự đại. Tự kiêu, tự đại cũng giống
hình ảnh cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, nó không đủ độ sâu, độ rộng và chất lượng để có thể
bao chứa những điều tốt đẹp của cuộc sống. Như vậy, TTLL so sánh được sử dụng kết
hợp với các TTLL khác như phân tích và bình luận.
Khi tổ chức triển khai nội dung nghị luận, TTLL bình luận thường được sử dụng
sau các TTLL trên. Ta có thể bắt gặp sự kết hợp này qua ngữ liệu dưới đây:
“Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm đà là Thế Lữ. [...]
Nhưng đến năm 1936, ảnh hưởng Pháp lại thấm thía thêm một tầng nữa. Trong
thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn. Xuân Diệu, nhà thơ ra
đời hồi bấy giờ, mới một cách rõ rệt. Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên,
một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới. Với một
nghệ thuật tinh vi đã học được của Bô - đơ - le, Xuân Diệu diễn tả lòng ham sống bồng
bột trong thơ Đơ nô - ai và trong văn Gi - đơ.[...]
Ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm. Qua năm 1938, Huy
Cận ra đời, nó đã bắt đầu xuống, mặc dầu Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng thơ Pháp gần
đây, nhất là ảnh hưởng Véc - len.[...]
biểu của thơ ca Việt Nam. Nhờ có TTLL này, tác giả rút ra nhận xét: mỗi nhà thơ, tuy
chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp song mỗi người lại có những lối thơ, giọng điệu
riêng: Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của Bô- đơ-le, Đơ- nô- ai và Gi- đơ, Huy Cận lại chịu
ảnh hưởng của Véc-len, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên lại gắn với tên tuổi của Bô-đơ-le...
Thế nhưng điều quan trọng nhất là khi sáng tạo nghệ thuật, mỗi nghệ sỹ Việt Nam đã có ý
45
thức và thể hiện dấu ấn riêng của bản thân. Để rút ra nhận xét đó, nhà nghiên cứu Hoài
Thanh sử dụng TTLL bình luận. Những lời nhận xét, đánh giá như: “Ảnh hưởng Pháp
trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm”, hay “Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ,
mới một cách rõ rệt Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ, mới một cách rõ rệt” được tác
giả Hoài Thanh sử dụng như những lời chốt dẫn dắt người đọc đi tới thế giới nghệ thuật
mới lạ nhưng hấp dẫn, sáng tạo trong một thời đại mới của thi ca Việt Nam. Những lời
dẫn dắt đó, tạo cơ sở khoa học cho nhận định được nêu trong phần cuối của đoạn trích. Từ
sự so sánh, phân tích, chứng minh và đánh giá, được trình bày trước đó, tác giả khẳng
định giá trị rất riêng của mỗi nhà thơ, mỗi thi phẩm của Thơ Mới: “Sự thực đâu có thế.
Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã
Việt hóa hoàn toàn. Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Đơ- Nôai... Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam. Những sự mô phỏng ngu muội lập
tức bị đào thải”. Tuy nhiên, để dẫn tới nhận định ấy, tác giả đã sử dụng TTLL bác bỏ để
phản bác lại suy nghĩ lệch lạc: “Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu. Mỗi nhà
thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp. Ấy chỉ vì tôi tìm ảnh hưởng
để chia xu hướng. Sự thực đâu có thế”. Nhờ có TTLL bác bỏ mở đầu đoạn cuối, tác giả
đã chỉ ra mục đích của việc phân tích những ảnh hưởng khác nhau giữa các nhà thơ Việt
Nam và các văn hào Pháp được trình bày trước đó. Cuối cùng tác giả đã nêu ra sự đánh
giá về giá trị của các nhà thơ Mới, qua đó, khẳng định chân lý bản sắc dân tộc Việt Nam:
“Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn. Sự thực thì khi tôi
xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Đơ-nô-ai... Thi văn Pháp không làm mất bản sắc
Việt Nam. Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải.". Như vậy, nhờ phối hợp
và mâu thuẫn bên ngoài (những tác động, đòi hỏi của xã hội). Để quá trình đó đạt hiệu
quả, chủ thể phải thực hiện các hoạt động theo trình tự vận động hợp quy luật của nó.
Trình tự phát triển của quá trình đó là GV tìm cách tổ chức, hướng dẫn HS đi từ cái chưa
biết, chưa có tới những nội dung mà các em biết, và biết biến những kiến thức ấy thành kỹ
năng, kỹ xảo cho riêng mình, từ đó hình thành, bồi dưỡng nhân cách HS. Theo đó, quá
trình dạy học Làm văn là con đường giúp HS hình thành, phát triển những kỹ năng, kỹ
xảo sử dụng lời nói vào giao tiếp.
Tâm lý học hoạt động nhấn mạnh nhân cách của con người được hình thành và
phát triển trong thực tế hoạt động, trong đó có hoạt động lời nói. Con người muốn học
ngôn ngữ để hiểu đúng hơn vai trò, chức năng và bản chất của hệ thống ngôn ngữ nói
chung, hiểu và sử dụng được tiếng mẹ đẻ để giao tiếp và học tập thì phải qua thực hành.
Thực hành nhằm củng cố tri thức và hoàn thiện, phát triển kỹ năng, kỹ xảo của HS. Tuy
nhiên, để nhận thức đúng hệ thống tri thức ấy, mỗi cá nhân phải “nắm được các phương
tiện và các phương thức bên trong thực hiện chính hoạt động lời nói”(L. X. Vưgôtxki,
A.N.Leonchiep, A.K.Marcova, A.A.Leonchiep, I.A.Dimnhia và những người khác). Bởi
lẽ hoạt động lời nói là “một trường hợp riêng của con người”... “Đó là quá tương tác
phức tạp giữa con người nhờ phương tiện ngôn ngữ ... và các quy luật sử dụng chúng và
bộc lộ ra trong hoạt động lời nói (nghe, nói, đọc, viết)...” [66,55]. Rèn luyện năng lực sử
dụng các TTLL trước hết và quan trọng nhất là phải qua thực hành mà giúp cho các em
nắm được các phương tiện, các phương thức để thực hiện tổ chức lời nói theo những mục
đích nhất định. Qua thực hành, HS sẽ có điều kiện vận dụng, sử dụng và bộc lộ con người
các em trong những sản phẩm cụ thể. Muốn hoạt động tương tác ấy đạt hiệu quả, GV cần
phải đặt chủ thể HS trong mối tương quan giữa ngôn ngữ với lời nói. Bởi lẽ, “ngôn ngữ
được xem như phương tiện hình thành và thể hiện ý, còn lời nói được xem như phương
thức hình thành và thể hiện ý nhờ ngôn ngữ trong quá trình hoạt động lời nói của cá