LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đã bước sang một thiên niên kỷ mới với rất nhiều
cơ hội và thách thức, trên con đường chuyển từ nền kinh tế
tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí vĩ mô của
Nhà nước thì nhu cầu về vốn để phục vụ cho quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là vô cùng quan trọng và hết sức cần
thiết.
Để đạt được điều này thì phải có một tổ chức có khả năng
đứng ra thực hiện chức năng tiếp nhận và phân phối các
nguồn vốn trong xã hội-đó là các Ngân hàng. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế , ngành Ngân hàng đã đóng góp
không nhỏ những thành tựu của mình vào thành tựu chung
của đất nước. Với vai trò là một trung gian tài chính, cung cấp
vốn cho nền kinh tế, thúc đẩy đầu tư, góp phần tăng trưởng
kinh tế , hệ thống Ngân hàng đã không ngừng đổi mới, hoàn
thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của mình một cách có cơ sở
khoa học . Nhất là từ khi hệ thông Ngân hàng hoạt động theo
cơ chế Ngân hàng hai cấp thì vai trò của Ngân hàng ngày
càng được thể hiện theo hướng tích cực .
Một trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh được thành
lập đó là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam.Trong quá trình hoạt động , Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn việt nam đã phát triển và có sự đong góp
của chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp quận Thanh Xuân-trực
thuộc Ngân hàng và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội .
Để tiếp tục vươn lên mở rộng hoạt động kinh doanh, nâng cao
chất lượng đầu tư tín dụng thì việc tìm ra nguyên nhân, tồn tại
để từ đó mà đưa ra được những giải pháp và hướng đi cho chi
nhánh Ngân hàng nông nghiệp quận Thanh Xuân là hết sức
quan hệ này thể hiện các nội dung sau:
+ Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá
trị nhất định.
+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian
nhất định , sau khi khoản vay đó hết thời hạn sử dụng theo
thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người đi vay phần
vốn gốc cộng với khoản phí cơ hội mà người cho vay mất đi
khi bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt hơn.
+ Giá trị được hoàn trả thường lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp
đồng tín dụng .
Tín dụng Ngân hàng có thể hiểu là quan hệ tín dụng
giữa Ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các cá nhân,
các nhà sản xuất kinh doanh, được cung cấp dưới hình thức
tiền tệ và bút tệ :
+ Cho vay dưới dạng tiền tệ .
+ Người cho vay là các Ngân hàng, tổ chức tín dụng còn
người đi vay là các cá nhân, các doanh nghiệp .
+ Quá trình vận động của tín dụng Ngân hàng không hoàn
toàn phù hợp với qui mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng
hoá .
Trong quan hệ tín dụng Ngân hàng , Ngân hàng đóng vai trò
là một tổ chức trung gian với tư cách vừa là người đi vay, vừa
là người cho vay :
+ Là người đi vay, ngoài vốn tự có, Ngân hàng còn huy động
các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành nên nguồn
vốn tín dụng.
gian tài chính này có thể giảm được chi phí giao dịch, mức độ
rủi ro xuống mức thấp có thể, góp phần thúc đẩy tốc độ tăng
trưởng kinh tế, tăng hiệu quả của đồng vốn lưu thông trên thị
trường. Điển hình của nhữnh trung gian tài chính đó là ngân
hàng thương mại.
Khi thực hiện tốt các chức năng trung gian tín dụng thì
NHTM trở thành”Bà đỡ” cho các dự án kinh tế, tức là biến
những ý tưởng kinh doanh thành các dự án có tính hiện thực,
khả thi cao.
2.2/Chức năng trung gian thanh toán.
Khi hệ thống NHTM ra đời và phát triển, trong quá trình
thực hiện chức năng trung gian tín dụng , hệ thống NHTM đã
thu hút đại bộ phận các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế mở
tài khoản và sử dụng dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng .
Việc thanh toán chi trả tiền về hàng hoá, dịch vụ hay các
khoản tiền của doanh nghiệp, các cá nhân đều được chuyển
giao cho Ngân hàng thực hiện. Điều này có ý nghĩa rất lớn
trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, tiết kiệm
chi phí giao dịch, tạo cơ sở cho Ngân hàng thực hiện các
nhiệm vụ cho vay, đồng thời kiểm soát được lượng tiền cung
ứng trên thị trường.
Qua thực hiện các nghiệp vụ thanh toán ,Ngân hàng đã trở
thành người “thủ quỹ” của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh
tế, các cá nhân trong xã hội. Các giao dịch thanh toán giữa
các doanh nghiệp, cá nhân thông qua tài khoản tiền gửi thanh
toán tại Ngân hàng mà không cần thanh toán trực tiếp bằng
tiền mặt nữa. Doanh nghiệp, cá nhân ra lệnh choNgân hàng
thực hiện các khoản chi trả đồng thời uỷ nhiệm cho cácNgân
muốn vay được những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt
đọng kinh doanh của mình như sản xuất và tái sản xuất.Từ
các nhu cầu đó, NHTM đã đứng ra tập trung vốn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền
kinh tế, qua đó chuyển tiền thành tư bản đẻ đầu tư phát triển
sản xuất và tăng cường hiệ quả hoạt động cuả đồng vốn.
Như vậy, NHTM trở thành một trung gian tài chính tốt nhất
thực hiện chức năng cầu nối giữa cung và cầu về vốn. Ngân
hàng là địa chỉ tin cậy nhất mà những người dư thừa về vốn
có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả nhất, ngược lại
cũng là nơi sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các
cá nhân, các doanh nghiệp thiếu hụt tạm thời về vốn. Nhờ đó,
hoạt động của hệ thống NHTM và đặc biệt là hoạt động tín
dụng , các doanh nghiệp có được các điều kiện để mở rộng
sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao
động, nâng cao hiệu quả kinh tế .
3.2.Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị
trường.
Thông qua hoạt động tín dụng , Ngân hàng với vai trò
là chiếc cầu nối giữa cung và cầu về vốn trên thị trường tiền
tệ đã góp phần đẩy nhanh hoạt động của nền kinh tế, đem lại
lợi nhuận cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân.Những cá
nhân, tổ chức đã giảm được các khoản chi phí trong việc tìm
kiếm các nguồn vốn để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, ngoài
ra có thể vận dụng các dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp cho
khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của mình. Vay vốn từ
Ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh
nghiệp phải có phương án sản xuất kinh doanh tối ưu và có
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, việc hoà
nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế trong khu vực và
kinh tế toàn cầu là nhu câù cần thiết và cấp bách. Với xu
hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới cùng với các chính
sách mở rộng hợp tác quốc tế về kinh tế-xã hội của các nước
trên thế giới thì hoạt động của các NHTM được mở rộng và
điều này đã tạo điều kiện choviệc mở rộng hoạt động kinh tế
của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động kinh doanh
rộng khắp của mình như: nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ
thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ Ngân hàng
khác. Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại
thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động
thanh toán, buôn bán ngoại hối, quan hệ tín dụng với các
NHTM nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều
tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền
tài chính quốc tế. Chính từ sự mở rộngcác quan hệ quốc tế và
tăng cường khả năng cạnh tranh với các nước khác trên thế
giới.
Trên đây , chúng ta đã có cái nhìn tổng thể về Ngân hàng và
hoạt động của Ngân hàng .Để có thể hiểu sâu hơn nữa hoạt
động của Ngân hàng, chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể các hoạt
động của nó thông qua các phần tiếp theo.
II. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM.
1. Nguồn vốn-cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng .
Cũng như mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế, ngân hàng
muốn hoạt động được trước hết là cần có vốn. Hơn nữa ngân
hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh một loại hàng
động . Về mặt qui mô thì vốn điều lệ phải lớn hơn hoặc phải
bằng vốn pháp định, tuy nhiên với mỗi loại hình hoạt động
khác nhau của từng Ngân hàng thì vốn điều lệ cũng có nguồn
hình thành khác nhau:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh có vốn điều lệ do Ngân
sách Nhà nước cấp, Ngân hàng có trách nhiệm bảo toàn và
phát triển nguồn vốn
này.
- Ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ do các cổ đông
đóng góp ban đầu dưới hình thức mua cổ phiếu.
*Vốn tích luỹ: Được hình thành trong quá trình hoạt động của
Ngân hàng thông qua việc trích tập các quỹ. Hàng năm , Ngân
hàng căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh của mình mà
trích một phần lợi nhuận bổ sung vào nguồn vốn tự có của
Ngân hàng.
*Vốn tự có bổ sung: Vốn này được hình thành qua việc phát
hành các loại chứng khoán dài hạn đặc biệt là các trái phiếu
Ngân hàng có thời hạn 20 năm , 30 năm . Trái phiếu Ngân
hàng giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh. Theo quy
định của các nước thì vốn từ trái phiếu không được lớn hơn
50 % vốn tự có cơ bản của Ngân hàng .
1.1.2.Nguồn vốn vay:
*Vay của Ngân hàng Trung ương:
Trong quan hệ với Ngân hàng Trung ương ,các NHTM là
khách hàng thường xuyên. Với tư cách là Ngân hàng của các
Ngân hàng , Ngân hàng Trung ương luôn đóng vai trò là “chủ
nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, giữ vị trí quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Do đó, bất
cứ một NHTM nào cũng hoạt động với mục đích chung là vì
lợi nhuận và vì sự tăng trưởng không ngừng của nguoòn vốn.
Đây là yếu tố khônbg thể thiếu để tiến hành và phát triển các
hoạt động kinh doanh. Với nguồn vốn lớn và có sự hợp lý
trong cơ cấu, Ngân hàng có thể cung cấp các hình thức tín
dụng và dịch vụ ngân hàng tốt nhất trong khả năng của mình
cho khách hàng, nguồn vốn cũng là yếu tố thu hút vô hình ảnh
hưởng tới tâm lý của khách hàng... Trong khi chức năng của
ngân hàng là “ đi vay để cho vay” thì cùng với công tác sử
dụng vốn, công tác huy động vốn để tạo nguồn vốn cho ngân
hàng là nghiệp vụ quan trọng ảnh hưởng bao trùm nên toàn bộ
hoạt động của ngân hàng, nó duy trì và phát triển hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, tạo sự tin tưởng và nâng cao uy tín
đối với khách hàng.
Ngày nay, các NHTM không ngừng mở rộng các hình thức
huy động vốn mới đưa ra các chính sách cạnh tranh riêng của
mình để có thể huy động tối đa nguồn vốn và chiếm tỷ trọng
nhất định trên thương trường.
2. Công tác huy động vốn của NHTM.
Các NHTM là nhiệm vụ vay tiền (hầu hết từ những người
gửi tiền ) và cho vay hoặc đầu tư với mục đích hưởng lợi lãi
suất. Đây là công việc của một chuuyên gia tài chính, đóng
vai chò trung gian giữa người có vốn và người cần vốn. Qúa
trình vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức
sau:
2.1. Tạo vốn quang huy động các khoản tiền gửi của khách
chi trả về mua hàng hoá, dịch vụ ...Đây không phỉa là khoản
tiền tiết kiệm mà là một bộ phận tiền đang chờ thanh toán, vì
vậy khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào. Tuỳ từng quốc
gia mà loại tiền gửi này không được tính lãi hoặc lãi xuất rất
thấp. Tiền gửi không kỳ hạn có thể được giữ ở một trong hai
tài khoản sau:
- Tài khoản tiền gửi (tài khoản séc):
Tài khoản này chỉ được phép dư có, tức là khách hàng chỉ
được phép rút tiền trong phạm vi tiền gửi của mình .Việc rút
tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba đ`ược thực hiện bằng séc
hoặc chuyển khoản. Việc hưởng lãi với số tiền gửi này là thứ
yếu, nó không đem lại lãi suất cụ thể.
- Tài khoản vãng lai:
Là một loại tài khoản có thể dư nợ hoặc dư có dùng cho các tổ
chức kinh tế, khách hàng có thể phát hành séc vượt quá số dư
của mình đén một giới hạn nhất định. Trong giới hạn quá số
dư, khách hàng phải chịu lãi suất và mức lãi suất này phụ
thuộc vào qui định của từng chi nhánh Ngân hàng .
*Tiền gửi có kỳ hạn:
Là loại tiền gửi được uỷ thác vào Ngân hàng trên cơ sở có sự
thoả thuậnvề thời gian rút tiền giữa Ngân hàng và khách hàng,
theo nguyên tắc khách hàng kí thác chỉ được rút ra khi đến
hạn. Đây là nguồn tiền tương đối ổn định với thời hạn dài và
có lãi suất cao. Tuy nhiên, do phải cạnh tranh, các Ngân hàng
thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn
với mức lãi suất thấp hơn. Thông thường, các NHTM luôn
tìm cách đa dạng hoá các loại tiền gửi này bằng cách áp dụng
nhiều kỳ hạn khác nhau, với mức lãi suất khác nhau nhằm đáp
này có tính chủ động cao về thời gian cũng như lãi xuất
III. HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VỐN CỦA NHTM.
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào
các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như kiếm lợi nhuận
của các ngân hàng thương mại. Nội dung của nghiệp vụ này
bao gồm:
1 . Nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng
1.1.Nghiệp vụ ngân quỹ ( vốn đảm báo thanh toán )
1.1.1.Dự trữ pháp định ( dự trữ bắt buộc )
Theo quy định ngân hàng thương mại phải có nhiệm vụ dự
trữ theo một khoản nhất định trên số vốn huy đông được từ
nền kinh tế Mục đích để bảo hiểm cho các loại tiền gửi hay
bảo vệ lợi ích cho người gửi và lợi ích của nền kinh tế . Quy
định tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo ngân hàng của mỗi quốc gia. ở
Việt Nam tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% trên tổng số vốn huy
động tiền gửi.
1.1.2. Tiền mặt tại quỹ.
Tiền mặt tại quỹ là lượng tiền do ngân hàng giữ trong kho
két của ngân hàng , một phần số tiền được coi là dự trữ phát
định. Các nhà quản lý ngân hàng luôn cố gắng giảm thiểu số
tiền này vì lý do an toàn, giảm chi phí bảo vệ, bảo quản tiền
mặt khỏi hư hỏng. Quan trọng hơn cả là vì lợi nhuận do khoản
tiền giữ lại này không có khả năng sinh lời.
1.1.3. Tiền gửi ở các ngân hàng khác.
Để tạo thuận lợi trong thanh toán , các NHTM thường có
các khoản tiền gửi ở NHTM khác. Đây là một phần của hệ
bằng tài sản.
- Căn cứ vào hình thức cho vay có tín dụng trực tiếp và tín dụng
gián tiếp.
- Căn cứ và phương pháp hoàn trả có tín dụng trả góp, tín dụng
phi trả góp, tín dụng trả theo yêu cầu.
Qua công tác phân loại tài sản và tình hình hoạt động thực
tiễn của ngân hàng ta có thể phân tích hoạt động đầu tư tín
dụng ở NHTM tính theo thời hạn. Cơ cấu của nguồn huy
động vốn ngắn, trung hay dài hạn là yếu tố quan trọng quyết
định việc sử dụng vốn cho hoạt động tín dụng. Một ngân hàng
thương mại có nguồn vốn ngắn hạn dồi dào có khả năng cho
vay ngắn hạn cao, cũng như nếu có nguồn vốn trung và dài
hạn tốt cũng tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu trung và dài hạn.
1.4.1 Tín dụng ngắn hạn.
Do đặc điểm, tính chất của hoạt động kinh doanh trong nền
kinh tế luôn xảy ra hiện tượng doanh nghiệp tạm thời thiếu
vốn nhưng lại có doanh nghiệp khác dư thừa vốn, nên việc
cung cấp ngắn hạn cho các doanh nghiệp là nghiệp vụ thường
xuyên của NHTM nhu cầu về loại tín dụng này thường không
được báo trước nên nguồn vốn cho vay ngắn hạn được hình
thành từ ngân hàng chủ yếu là nguồn gửi ngắn hạn và tiền gửi
không kỳ hạn.Những khoản cho vay ngắn hạn thường đước sử
dụng rộng rãi trong việc tài trợ mang tính thời vụ về luân
chuyển vốn và tài trợ tạm thời cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh.
1.4.2 Tín dụng trung – dài hạn.
Nhu cầu về vốn trung và dài hạn thường nảy sinh khi
các doanh nghiệp muốn đổi mới máy mọc , trang thiết bị hoặc
các ngân hàng phải có lỗ lực giảm thiểu rủi ro bằng cách đa
dạng hoá các khoản mục đầu tư. Nguyên tắc hoạt động của
ngân hàng là “không để trứng vào một giỏ”.
Một NHTM có khả năng thanh toán cao nếu nó có đủ ngân
quỹ và tài sản có tính linh hoạt như tiền mặt, ngân phiếu, trái
phiếu….cũmg như khả năng tăng nguồn vốn nhanh đáp ứng
nhu cầu tín dụng manh tính đột xuất.
Nếu ngân hàng làm tốt công tác quản lý tài sản thì uy tín của
ngân hàng ngày càng được củng cố.
Tóm lại, qua quá trình nghiên cứu về công tác huy động vốn ở
ngân hàng thương mại ta đẫ thấy được những hoạt động cơ
bản của ngân hàng . Để thực hiện tốt công tác đi vay và cho
vay, ngày nay các NHTM đã không ngừng đổi mới các mặt
hoạt động cả về lý luận lẫn nghiệp vụ. Vì mục đích cuối cùng
là lợi nhuận và sự hùng mạnh của Ngân hàng, các nhà quản lý
đã tìm những biện pháp hiệu quả nhất nhằm thu hút nguồn
vốn, lấy đó làm cơ sở vật chất để tiến hành các các nghiệp vụ
đầu tư thích hợp. Phương châm của hoạt động quản lý tài sản
có và tài sản nợ đều là đa dạng hoá, giảm thiểu rủi ro. Các nhà
quản lý cần làm thế nào để tránh tình trạng khi thì ứ đọng
vốn, khi thì lại thiếu vốn, điều hành một cách ăn khớp đạt
hiệu quả tài sản có và tài sản nợ.
IV. TÍNH CÂN ĐỐI GIỮA HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN
HÀNG
1.Sự cần thiết phải đảm bảo cân đối giữa huy động vốn và
sử dụng nguồn vốn.
Các NHTM nói chung đều hoạt động kinh doanh vì mục