TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Dự án: “Xây dựng mô hình nâng cao kỹ năng thực hành bảo vệ môi
trường cho sinh viên ngành tài nguyên và môi trường trong cả nước. Áp
dụng thí điểm tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà nội”
BÁO CÁO THU HOẠCH
KIẾN TẬP CÁC CÔNG VIỆC THỰC TẾ TẠI CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC, DOANH NGHIỆP VÀ CƠ SỞ SẢN XUẤT
Địa điểm: Khu liên hiệp xử lí rác thải Nam Sơn
Lớp:
ĐH1CMC
Họ tên:
Khổng Việt Dũng
HÀ NỘI, NĂM 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Dự án: “Xây dựng mô hình nâng cao kỹ năng thực hành bảo vệ môi trường
cho sinh viên ngành tài nguyên và môi trường trong cả nước. Áp dụng thí
điểm tại trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Hà nội”
BÁO CÁO THU HOẠCH
nguồn lực trong xã hội trong việc xử lí nước thải và chất thải. Bên cạnh đó là sức ép
của quá trình đô thị hoá, gia tăng dân số, di dân tập trung cao tại các đô thị lớn đã gây
tình trạng quá tải về hạ tầng kĩ thuật. Một trở ngại nữa là trong khi nhiều nước đã có
những luật lệ, quy tắc khá đầy đủ về quản lí môi trường đô thị, quản lí chất thải rắn,
cải cách, thúc đẩy ngành thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị phát triển bền vững
thì việc triển khai đưa vào cuộc sống lại gặp nhiều khó khăn và không suôn sẻ như
mong đợi vì nhiều lí do. Những vi phạm vẫn diễn ra , công khai hoặc lén lút. Rác vẫn
được đổ và xả bừa bãi ra đường phố, song suối, đồng ruộng hoặc lén lút chon vào đất.
Vấn đề đặt ra là cần có những công nghệ xử lí, những khu xử lí riêng biệt,
không những xử lí hiệu quả các loại rác thải, mà còn tận dụng được các nguồn rác thải
để giúp ích cho cuộc sống
I. GIỚI THIỆU VỀ ĐƠN VỊ
1. Tổng quan
- Tên cơ sở: Khu liên hiệp xử lý rác thải Nam Sơn
- Địa chỉ: Xã Nam Sơn, Huyện Sóc Sơn, Tp Hà Nội
- Đơn vị quản lý: Công ty TNHH một thành viên môi trường đô thị Hà Nội URENCO
Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Đắc
Chủ tịch hội đồng quản trị: Ông Phạm Ngọc Hải
- Xã Nam Sơn là khu vực xây dựng khu liên hiệp có diện tích 100ha, cách trung tâm
Hà Nội khoảng 45km về phía bắc. Phía bắc là cụm dân cư với ngành nghề chủ yếu là
nông nghiệp. Sông Công cách 2km chảy qua phía đông có các con rạch nhỏ tự nhiên
chảy qua.
- Khu liên hiệp nằm trong vùng đồi thấp, phần lớn là thung lũng, có hồ nhỏ và rạch
nhỏ chảy qua để tiêu nước và cấp nước sông cho các hồ ao nhỏ. Về mùa khô hầu hết
các hồ ao và lạch đều khô cạn. Mực nước ngầm ở khu vực chân đồi là 2m và trên đồi
là 7m. Mực nước mặ mùa mưa là +8 đến +11,5m
- Các lớp đất từ trên xuống như sau:
chất thải sinh hoạt thành phân hữu cơ, công nghệ ủ hiếu khí cưỡng bức, công suất
xử lý 500-700 tấn/ngày.
-
Khu đốt rác: diện tích 5,9 ha, công suất 300 tấn/ngày.
-
Khu xử lý nước rác: diện tích 4,11 ha.
-
Khu vực chôn lấp chất thải hợp vệ sinh: được bố trí ở phía Đông Nam của khu liên
hiệp xử lý chất thải, nằm trong thung lũng của khu vực. Diện tích gần 40 ha, chia
thành 9 ô chôn lấp chất thải. Độ cao tối đa của mỗi ô chôn lấp là cốt 39. Thời gian
hoạt động của khu vực chôn lấp theo thiết kế là từ năm 1999 đến năm 2016.
-
Khu trạm cân điện tử, rửa xe, nhà kho, nhà sản xuất hóa chất.
-
Khu vực văn phòng hành chính và các công trình phụ trợ.
-
Khu vực nhà ở cho cán bộ, công nhân viên trong khu liên hiệp.
- Xét về mặt kĩ thuật thì bãi chôn lấp đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh khi nó đáp ứng được
các yêu cầu:
+ Tách nước rác không để ngấm vào môi trường đất.
+ Khả năng phân hủy chất thải được tăng nhanh.
+ Khử tối đa mùi phát sinh từ khu chôn lấp( các bãi đóng thì không còn mùi).
+ Hạn chế vi sinh vật gây bệnh
Trình tự sử dụng các ô trôn lấp rác xây dựng giai đoạn 1 (đến năm 2017)
Giai đoạn 1: Đổ rác vào lô 1 và lô 2,3 được sử dụng làm chức năng hồ sinh học
để tăng độ sạch nước trước khi xả ra ngoài sau khi đã qua hệ thống xử lý rác bằng
phương pháp sinh hóa.
Giai đoạn 2:Rác được đổ tại lô 1 tới đỉnh đập ngăn lô ở cao độ +15m thì được
tiến hành đóng bãi cục bộ giai đoạn 1 và rác được chuyển sang đổ tại lô số 2, lô số 3
vẫn đảm nhiệm vai trò hồ sinh học.
Giai đoạn 3: Rác đổ trong lô 2 tới cao độ +15m thì sử dụng diện tích mặt bằng
cả hai lô 1 và 2 để tiếp tục đổ rác. Đắp bờ bao ngăn rác theo từng đợt, mỗi đợt cao
2,5m. Cao độ cuối cùng của bờ bao ngăn rác là 20. Trình tự đổ rác ở giai đoạn này là
sau khi nâng cao độ tại lô thứ nhất thêm 2m thì bao phủ đất trên bề mặt rác để chuyển
sang đổ rác vào lô bên cạnh và tiếp tục luân chuyển. Khi mặt bằng 2 lô đạt tới cao độ
+21m thì tổ chức đóng bì các lô 1 và 2 theo quy trình đóng bì. Giai đoạn này lô 3 vẫn
sử dụng như một hồ sinh học.
Giai đoạn 4: Đổ rác vào lô 3 từ độ cao +6m lên đến cao độ +21m. Hồ sinh học
sử dụng ở giai đoạn này là hồ Phú Thịnh hoặc một diện tích ô trũng trong tổng mặt
bằng khu liên hợp xử lý (giai đoạn này được quản lý toàn bộ diện tích đất của dự án là
130ha)
- Quy trình xử lý rác:
A: Ô chôn lấp:
Các ô chôn lấp được đào từ cốt 15 xuống cốt 6, đào sâu 9m để tạo thành ô chôn
lấp. Đáy ô chôn lấp được thiết kế như sau:
CH4 : 25% ; O2 : 16% ; CO2 : 20% ; các thành phần khác: 39%.
Các ô chôn lấp được đổ rác thải cao dần theo quy tắc trên để tránh sạt lở.
Nước rỉ rác sinh ra được thu gom qua các ống thu nước rỉ rác và các rãnh xung quanh
các ô chôn lấp, sau đó được đưa về hồ sinh học, tại hồ này xảy ra 3 quá trình xử lý: kị
khí – tùy tiện – hiếu khí.
Trên mỗi ô chôn lấp đều có hệ thống cột thu lôi có chiều cao 50m.
Xe rác trước khi ra khỏi khu liên hiệp được rửa bằng hệ thống phun nước tự động
trong thời gian ngắn. Việc rửa xe có tác dụng làm sạch bụi bẩn và đất bám trên xe.
Đường dẫn lên các ô chôn lấp luôn thay đổi do chiều cao của bãi tăng dần. Hàng ngày
sẽ có các xe dọn vệ sinh trên đường và rửa đường.
Sau khi đóng cửa ô chôn lấp, người ta phủ lớp đất dày trên bề mặt của mỗi ô, xây
dựng hệ thống đê bao xung quanh, sau đó trồng cây xanh lên. Loại cây chủ yếu được
trồng ở đây là: keo, trứng cá. Đây là những loại cây phù hợp với điều kiện khí hậu,
địa hình và thổ nhưỡng của khu vực ô chôn lấp nên sinh trưởng và phát triển tốt. Việc
trồng cây xanh trên các ô chôn lấp vừa giữ cho lớp đất phủ ít bị xói mòn, vừa tạo cảnh
quan môi trường tốt hơn.
Bản chất quá trình chôn lấp:
Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sau một thời gian sẽ bị thối rữa nhờ quá trình phân
hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như
axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một số khí CO 2, CH4… Các quá trình sinh hóa
diễn ra ở bãi chôn lấp chủ yếu là do hoạt động của các vi sinh vật sử dụng các hợp chất
hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cho các hoạt động sống của chúng. Các loại vi sinh vật
bao gồm: vi khuẩn, nấm men, nấm mốc, chúng đóng vai trò quan trọng trong quá trình
phân giải các hợp chất.
Các vi sinh vật chia thành 3 nhóm chủ yếu là:
- Vi sinh vật ưa ẩm: hoạt động mạnh ở nhiệt độ 0 – 20oC
- Vi sinh vật ưa ấm: phát triển mạnh ở nhiệt độ 20 – 40oC
- Vi sinh vật ưa nóng: phát triển mạnh ở nhiệt độ 40 – 70oC
Ô số 2
27.900
31
864.900
908.145
3.
Ô số 3
24.500
18
441.000
463.050
4.
Ô số 4
61.194
34
Ô số 7
59.850
34
2.034.900
2.136.645
8.
Ô số 8
41.965
34
1.426.810
1.498.151
9.
Ô số 9
41.162
34
xung quanh mỗi ô chôn lấp( hệ thống mương dẫn nước này có cấu tạo bê tông cốt
thép, thiết kế dốc để nước có thể tự chảy) về ô 7a. Sau đó, nước rác được bơm cưỡng
bức bằng bơm dầu diezen từ ô 7a sang hồ sinh học.
Hồ sinh học theo thiết kế bao gồm 3 hồ: kỵ khí, tùy tiện, hiếu khí. Hồ có tác dụng
ổn định nước đầu vào, xử lý sơ bộ đảm bảo cho trạm xử lý nước rác có hiệu quả. Tuy
nhiên, trên thực tế, hiện nay hồ sinh học không phân chia như vậy, 3 hồ trên đều là
hiếu khí.
Quá trình vận hành hồ sinh học:
- Đo kiểm tra mực nước trong hồ(7 ngày/ lần).
- Đo và phân tích các chỉ tiêu trong hồ để điều chỉnh quy trình vận hành cho
phù hợp như: pH, DO, nhiệt độ, COD, BOD5, SS, hàm lượng N.(10 ngày/lần).
Thông số nước rác
Trước khi qua hồ sinh học
COD
12.000
BOD
7.000
N tổng
3.000
NH4+
ở khoảng 25 – 27 0C.
Quy trình xử lý nước rác
Ở tháp Stripping, nước thải được phun từ trên xuống, không khí được thổi từ
dưới lên để làm bay NH3. Sau khi xử lý ở hai tháp Stripping, hàm lượng N-NH3
giảm từ 360mg/l xuống 10 mg/l (hiệu quả đạt 95%).
Quá trình xử lý N- NH3 tạo ra mùi→ô nhiễm không khí.
Bước 2(xử lý sinh học): nước từ Stripping 2 → Bể đệm(Selector), tại đây nước
được điều chỉnh các điều kiện thích hợp để vi sinh vật phát triển tốt: pH trung
tính(cho H2SO4 loãng 30% ), dinh dưỡng( nguồn cacbon; chất dinh dưỡng được
sử dụng chủ yếu là rỉ đường, bã bia, chế phẩm enchoice)→ Bể SBR1 và SBR2,
hai bể này hoạt động 24/24, có thể hoạt động nối tiếp hoặc song song(tùy thuộc
vào hàm lượng BOD, COD), hai bể SBR thuộc loại bể khử nitơ đơn; bể được
lắp đặt hệ thống sục khí ở đáy để tăng hiệu quả xử lý, quá trình sục khí gián
đoạn sẽ đảm bảo duy trì các trạng thái hiếu khí và thiếu khí để cho các quá trình
oxy hóa và khử nitơ tương ứng được xảy ra→ bể lắng. Bùn lắng trong SBR
được định kỳ hồi lưu về bể đệm, sau nửa giờ hoạt động sẽ được tuần hoàn lại
trong thời gian 1-2 phút, phần bùn dư được định kỳ bơm sang bể chứa bùn. Sau
đó nước được chuyển sang bể UASB ( bể UASB được thiết kế để xử lý kị
khí, nhưng hiện tại nó chỉ có tác dụng tăng thời gian lưu để tăng hiệu quả lắng).
Bước 3(xử lý hóa lý): nước sau khi xử lý sinh học được đưa về bể phản ứng.
Tại bể phản ứng, dùng chất Fenton (FeSO4.H2O2 , hợp chất Fenton tạo thành
gốc OH* có tác dụng oxi hóa mạnh hơn, oxi hóa được N và P) , được khuấy
trộn đều.
Bể được bổ sung chất xúc tác FeSO4.7H2O (1,2-1,3 kg/m3 nước);
H2O2 (0,9-1,2 kg/m3 nước); thêm H2SO4 để điều chỉnh về pH=2-3,5.
Sau đó, nước được đưa lên bể Semultech, tại đây hóa chất được bổ sung vào để
kết tủa các chất ô nhiễm không tan(NaOH, PAA 101)→ xảy ra quá trình kết
tủa, tạo bông. Trong bể Semultech có thiết kế hệ thống lắng Lamen để lắng cặn
và giảm một phần BOD, COD. Hiệu suất loại bỏ SS, COD, BOD có thể đạt tới
80%, sau 4h bùn cặn được xả khỏi hệ thống.
2007(*)
2
TSS
mg/L
748,5
10,3
100
3
BOD5
mg/L
225
48
50*
4
COD
60*
7
Tổng P
mg/L
15,44
0,62
6
(nguồn URENCO)
3.2.2. Dây chuyền số 2.
Hoạt động của dây chuyền số 2 tương tự như dây chuyền số 1. Dây chuyền này
khác dây chuyền số 1 ở chỗ, bể UASB được thay thế bằng bể oxi hóa.
Bể oxi hóa có tác dụng xử lý các chất hữu cơ khó phân hủy. Người ta bổ sung vào
bể một lượng H2SO4 đặc để điều chỉnh pH= 1,5 – 3,5. Thời gian lưu trong bể oxi hóa
là 15 phút.
Hệ thống lọc cát có 3 bể, trong đó có 1 bể đang hoạt động, 2 bể dự phòng.
Dây chuyền 2 không xây dựng bể lọc than hoạt tính.
4.Công tác quản lý.
Hiện nay, tại thành phố Hà Nội, các vấn đề về quản lý chất thải đang được tiến hành
xã hội hóa; bao gồm hiều thành phần: nhà nước, tư nhân, …Các thành phần này đều có
quyền kinh doanh, thu gom, vận chuyển và xử lý rác.
Trên địa bàn thành phố có 19 đơn vị thu gom, vận chuyển rác thải. Hầu hết rác thải