øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
ứng dụng CNTT có hiệu quả góp phần
nâng cao chất lượng dạy học cấp THCS.
Đặt vấn đề:
Nhận thức được tác động rất lớn của CNTT với việc hiện đại hóa giáo dục
và đổi mới phương pháp dạy học .Bộ GD-ĐT ra chỉ thị 29/2001/CT-BGD
tăng cường giảng dạy ứng dụng CNTT trong GD-ĐT ở tất cả các cấp học
trong đó có cấp THCS.
Thực hiện chủ trương của ngành GD về việc ứng dụng CNTT trong dạy
học .Mấy năm gần đây phong trào ứng dụng CNTT ngày càng được phát
triển mạnh lan tỏa khắp các tỉnh thành.
Trong điều kiện khó khăn về CSVC và trang thiết bị hiện đại . Để giáo
viên đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng CNTT có hiệu quả trong
nhà trường là một vấn đề mà BGH nhà trường rất trăn trở và tìm hướng đi
đúng cho GV thực hiện .Muốn giáo viên có niềm đam mê về CNTT và ứng
dụng có hiệu quả trước hết người quản lý cần phải hiểu rõ tầm quan trọng
của việc đổi mới dạy học và vai trò ứng dụng CNTT vào dạy học .Từ đó
giúp giáo viên hiểu được thế nào là đổi mới dạy học và muốn đổi mới dạy
học giáo viên cần phải làm gì .Đồng thời nhà trường phải tạo điều kiện về
CSVC để thực hiện việc đổi mới của giáo viên dễ dàng hơn.Ngoài ra việc
trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên góp phần nâng cao trình độ tin học
cho giáo viên cũng phải dặc biệt quan tâm . Khi bắt tay vào tổ chức chuyên
đề hướng dẫn cho giáo viên thiết kế bài giảng điện tử nhiều giáo viên tỏ ra
rất mệt mỏi và lúng túng , nhiều giáo viên chưa phân biệt được bài giảng
1
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
điện tử và giáo án điện tử khác nhau như thế nào? Trong thời gian qua đã
có nhiều tiết dạy thành công mang hiệu quả cao.Hiện nay bài giảng Bạch
- Giáo viên sử dụng quá nhiều Slide trong một giờ học. Việc sử dụng nhiều
trang như thế khiến các em ở lứa tuổi THCS không thể kịp theo dõi , suy
nghĩ và nắm bắt nội dung kiến thức .
- Trình chiếu tranh ảnh, băng hình với số lượng và thời lượng khá lớn
trong một tiết khiến giờ học trở thành giờ xem phim ảnh, học sinh không
tập trung suy nghĩ về câu chữ trong tác phẩm văn học (môn văn) mà chỉ
chú ý và bị ám ảnh bởi các hình ảnh được xem.
- Giáo viên không chú ý đến đặc trưng bộ môn và hiểu chưa thật đúng về
bản chất của việc đổi mới phương pháp dạy học nên việc ứng dụng CNTT
rất tùy tiện.
Mỗi môn học, mỗi bài học đều có một đặc thù khác nhau và do đó cách
thức, tình huống ứng dụng CNTT cũng rất khác nhau. “ Tiết học được lựa
chọn phải có tình huống dạy học ứng dụng CNTT có hiệu quả”. Nếu không
biết lựa chọn thì việc ứng dụng CNTT sẽ làm giảm chất lượng tiết dạy.
Thật đáng tiếc là nhiều giáo viên đã không chú ý đến điều này.
- Giáo viên sử dụng các tranh ảnh và băng hình trình chiếu không phù hợp
với nội dung học tập do đó không có tác dụng kích thích, dắt dẫn học sinh vào
việc tìm hiểu nội dung của bài học.
- Ví dụ: dùng tranh ảnh, băng hình để minh họa cho ý thơ, văn. Đây là điều
thường thấy trong các giờ dạy văn có ứng dụng CNTT. Nhiều giáo viên có
thói quen đọc nội dung tác phẩm thấy trong tác phẩm có nói đến điều gì là đi
3
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
sưu tầm bằng được hình ảnh về nội dung đó để khi lên lớp nói tới nội dung
nào thì đưa hình ảnh đó lên minh họa.
Không ít giáo viên quan niệm rằng càng trình chiếu nhiều càng đưa ra được
nhiều hình ảnh minh họa thì giờ dạy càng đạt chất lượng cao. ở một số tiết dạy
giúp học sinh tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể chúng ta cần hướng
dẫn cho học sinh tìm hiểu bối cảnh ra đời của tác phẩm và tiểu sử của nhà văn.
CNTT có thể hỗ trợ đắc lực cho giáo viên phần này. Tuy vậy không phải tác
phẩm nào cũng cần thiết ứng dụng CNTT mà phải chọn lựa những tình huống
cần thiết. ở phần giới thiệu tác giả chỉ nên ứng dụng CNTT khi cần đưa ra một
số hình ảnh về chân dung, quê quán tác giả có liên quan đến việc hiểu tác
phẩm có tác dụng cho học sinh trong việc nhận thức về tác phẩm. ở trường
hợp này CNTT có ưu thế rất lớn. Hoặc chúng ta có thể chèn và trình chiếu
một vài bức tranh, ảnh hoặc một đoạn phim… .
Môn lịch sử: Để khai thác hiệu quả bản đồ, phim tư liệu thì có thể đưa một số
đoạn phim trong khoảng thời gian 2 -> 3 phút để trình chiếu. Ví dụ: bài 29 của
lớp 8 trình chiếu đoạn phim quá trình bóc lột của thực dân Pháp. Hoặc đoạn
phim hoạt động của Nguyễn ái Quốc từ 1911 - 1917. So với việc treo tranh
ảnh hoặc sử dụng đầu đĩa, màn hình thì CNTT có tác dụng vượt trội vừa
nhanh gọn đỡ tốn công và thời gian đồng thời đã làm sống lại những khoảnh
khắc thật cảm động trong các đoạn phim trên.Từ đó học sinh nhớ, hiểu sâu sắc
hơn nên giờ dạy đạt hiệu quả. Trong phần cũng cố luyện tập giáo viên có thể
dùng câu hỏi trắc nghiệm dùng các hiệu ứng của kênh chữ về sơ đồ Grap để
hướng học sinh chú ý khắc ghi những nội dung vấn đề chính cần ghi nhớ.
Phần cũng cố ở một số các bộ môn đưa nội dung cần nắm của bài học thiết kế
dạng trắc nghiệm bằng các trò chơi ô chữ, ai là triệu phú, nhận diện lịch sử…
Đối với những giáo viên thành thạo ứng dụng CNTT có thể lồng ghép vừa sử
dụng đèn chiếu, máy chiếu thiết bị dạy học thì tiết học sẽ mang lại hiệu quả.
5
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
Tuy vậy vẫn còn rất nhiều giáo viên chưa phân biệt rõ giáo án điện tử khác bài
giảng điện tử như thế nào. Do đó trong khi thiết kế một giáo án điện tử để dạy
thao giảng, thanh tra ,thi giáo viên giỏi giáo viên còn lúng túng . Tôi xin đưa
đã được số hóa, chương trình hóa trong môi trường đa phương tiện ,nhằm hỗ
trợ cho bài giảng trên lớp của giáo viên đạt hiệu quả cao theo một kế hoạch
giảng dạy đã được chuẩn bị từ trước dó là GAĐT. Bài giảng điện tử cũng là
một quá trình lên lớp của GV có sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện ĐT
nhằm bảo đảm cho việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong những tình
huống sư pham linh hoạt, thể hiện sự tương tác đa chiều có kết hợp với các
phương pháp dạy học truyền thống và hiệu quả. GAĐT chủ yếu hỗ trợ thực
hiện nhiệm vụ của bài học nghiên cứu các kiến thức mới, do đó nó cần phải
gồm các yếu tố cơ bản của một giáo án thông thường mà giáo viên từng soạn.
Cách thiết kế giáo án điện tử
Nắm vững những đặc trung của một giáo án thông thường và GAĐT. Việc
thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh cần tuân thủ
các qui trình sau:
Bước 1: Chuẩn bị ở nhà: giáo viên cần thực hiện các công đoạn:
nghiên cứu SGK để xác định rõ mục tiêu yêu câù của bài học về mặt kiến
thức, tư tưởng, thái độ, kỷ năng.
Tìm hiểu nội dung bài viết trong SGK để xác định kiến thức cơ bản của bài
học qua đó biết được kiến thức nào học sinh phảI biết( chuẩn kiến thức) kiến
thức nào học sinh nên biết và có thể biết ( kiến thức mở rộng) và khắc sâu.
Sưu tầm chọn lọc và xử lý số hóa các nguồn tư liệu ( kênh chữ, kênh hình,
kênh âm thanh…) có liên quan đến kiến thức cơ bản đã được xác định trước
7
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
đó nhằm phục vụ cho việc thiết kế GAĐT. Xử lý xong có thể gói vào thư mục
và đặt tên cóp vào USB hoặc in ra đĩa CD.
Bước 2: Xây dựng cấu trúc và viết kịch bản để thực hiện. Bài giảng ĐT sử
dụng hiệu quả trên lớp phù thuộc lớn vào ý tưởng sư phạm của mỗi giáo viên.
các năm học kế tiếp trên cơ sở có thể điều chỉnh cho phù hợp. Nếu sau khi
thiết kế xong GV không thực hiện theo bước này khi lên lớp có thể lúng túng
và sẽ rất dễ quên ở những lần sử dụng sau. Ví như không nhớ kênh hình được
liên kết ở đâu. Hơn nữa là để chia sẽ kinh nghiệm cho các đồng nghiệp về sản
phẩm GAĐT của mình, việc làm này lại càng trở nên cần thiết.
Sau khi đã nghiên cứu tìm hiểu về hướng đi soạn GAĐTvà thiết kế BGĐT tôi
nhận thấy rằng để một giờ dạy có ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao cần lưu ý
một số điểm sau:
Trình chiếu tranh ảnh, băng hình, thí nghiệm mô phỏng, hình ảnh minh họa…
phải biết lồng ghét một cách hợp lý và tránh thừa, trùng lặp với SGK.
Không trình chiếu quá nhiều gây ảnh hưởng lớn đến sự phân bố thời gian và
phản khoa học.
Không dùng màu sắc, font nền kiểu chữ quá cầu kỳ rắc rối làm phân tán sự tập
trung chú ý của học sinh vào các nội dung cơ bản của bài dạy.
Các slide phải được thiết kế đẹp, sáng rõ, hấp dẫn và có tác dụng hướng học
sinh tập trung chú ý vào các nội dung chính của bài học.
Số lượng và tốc độ trình chiếu các slide không quá nhanh, không quá nhiều
mà phải có mức độ, phù hợp với từng nội dung học tập, từng lớp học, từng
khối học để học sinh kịp quan sát, tìm hiểu, suy nghĩ và ghi lại nội dung cơ
9
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
bản của bài học. Tùy đặc trưng của bộ môn và các dạng bài giáo viên sử dụng
các công cụ đa phương tiện hợp lý vào bài học có hiệu quả.
Việc dùng phần mềm dạy học đặc trưng ở một số bộ môn là rất quan trọng
nhưng cần lựa chọn những phần mềm thiết thực nhất dễ sử dụng, phù hợp với
thực tế ở địa phương.
Sử dụng những câu hỏi trắc nghiệm phải có mức độ vừa không quá khó,không
khá mạnh mẽ. Tôi đã khơi dậy được niềm đam mê về soạn giảng ứng dụng
CNTT ở tất cả các bộ môn cấp THCS. Thời gian qua tôi đã cố gắng vận dụng
những kiến thức thông qua các chuyên đề, hội thảo về ứng dụng CNTT ở các
cấp, bộ, sở, phòng về triển khai hoạt động chuyên môn ở nhà trường bước đầu
đã có những kết quả khả quan. Kết quả trong năm học 2008-2009 có 15 giáo
viên dự thi giáo viên giỏi cấp THCS ở 6 bộ môn thì 100% các giáo viên đã sử
dụng CNTT vào tiết dạy khá hiệu quả. Năm học 2009-2010 thì việc ứng dụng
CNTT có tính chọn lọc và mang lại hiệu quả cao hơn năm trước . Đã bồi
dưỡng được giáo viên có giờ dạy giỏi cấp Tỉnh .Số lượng giáo viên có giờ dạy
giỏi cấp Huyện đã tăng hơn năm trước .
Trong thời gian tới tôi sẽ tiếp tục chỉ đạo hoạt động chuyên môn của tổ theo
công văn 176 hướng dẫn của SGD-ĐT Hà Tĩnh đề tài này sẽ được triển khai ở
tất cả các bộ môn thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề của tổ cụ thể và chi
tiết hơn .
Qua việc vận dụng kinh nghiệm ứng dụng CNTT và chỉ đạo giáo viên sử dụng
CNTT có hiệu quả vào các môn học ở cấp THCS tôi xin đưa ra một vài kinh
nghiệm nhỏ trong công tác quản lý chỉ đạo giáo viên sử dụng CNTT vào
giảng dạy có hiệu quả .
11
øng dông c«ng nghÖ th«ng tin cã hiÖu qu¶ gãp phÇn n©ng cao chÊt lîng d¹y häc cÊp THCS
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ trong công tác quản lý và chỉ đạo hoạt động
chuyên môn ở các bộ môn cấp THCS. Trong đề tài này chắc chắn sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
các cấp lãnh đạo, các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp để tôi có thêm nhiều bài
học kinh nghiệm hơn nữa trong quá trình chỉ đaọ hoạt động chuyên môn ở
trường đạt hiểu quả cao hơn trong công tác giảng dạy ở cấp học này.