ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KIÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
RỪNG PHỤC HỒI BẰNG Ô TIÊU CHUẨN ĐỊNH VỊ
TẠI HÒA BÌNH, LẠNG SƠN VÀ BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN KIÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
RỪNG PHỤC HỒI BẰNG Ô
TIÊU CHUẨN ĐỊNH VỊ TẠI HÒA BÌNH, LẠNG SƠN
VÀ BẮC GIANG
•••
Chuyên ngành : Lâm học Mã số : 60 62 02 01
•
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
•••
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Con
các đặc điểm sinh học một số hệ sinh thái chủ yếu ở Việt Nam giai đoạn II” do
PGS.TS. Trần Văn Con làm chủ nhiệm. Nhân dịp này, tác giả xin được bày tỏ
lòng biết ơn đối với sự giúp đỡ quý báu đó.
Kết quả của luận án này không thể tách rời sự quan tâm, chỉ bảo của thầy
5
giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS. Trần Văn Con, người đã nhiệt tình chỉ bảo,
hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này. Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn.
Xin được cảm ơn sự khuyến khích, giúp đỡ của gia đình cùng bạn bè và
đồng nghiệp xa gần, đó là nguồn khích lệ và cổ vũ to lớn đối với tác giả trong
quá trình thực hiện và hoàn thành công trình này.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
'T’ Ị.
• *?
Tác giả
Nguyễn Văn Kiên
6
MỤC LỤC
7
HST
Hệ sinh thái
HSTR
Hệ sinh thái rừng
IBP
Chương trình sinh học quốc tế
KB
Kim Bôi
KBTTN
Khu Bảo tồn thiên nhiên
LK
Loài khác
LS
Lạng Sơn
LRTX
9
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong nhiều thập kỷ qua, công tác điều tra nghiên cứu đặc điểm Lâm
học của rừng phục hồi đã được các tổ chức, các nhà khoa học trong và ngoài
nước quan tâm nghiên cứu. Công tác nghiên cứu đặc điểm lâm học của rừng
là đi sâu vào nghiên cứu sinh trưởng của rừng, tăng trưởng về sinh khối rừng,
cách thức mà môi trường vật lý ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của
cây rừng và lâm phần; ảnh hưởng đến cấu trúc và đặc điểm của một lâm phần
và mối tương tác giữa các thành phần sinh học trong lâm phần đó. Ngoài ra,
khi nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc Lâm học cũng cho chúng ta biết được
cây rừng và lâm phần ảnh hưởng như thế nào đến môi trường vật lý của
chúng và các tương tác không ngừng giữa thảm thực vật và môi trường vật lý
trong các quá trình biến đổi theo thời gian.
Nhìn chung, khi nghiên cứu về đặc điểm lâm học sẽ giúp chúng ta có
được các kiến thức khoa học thành các thông tin thực tiễn về nhu cầu lập địa
để một lâm phần rừng và các loài cây cấu thành nên nó tái sản xuất và sinh
trưởng có hiệu quả nhất. Như vậy, lâm học chính là lý thuyết và thực tiễn của
việc thiết lập các hệ sinh thái rừng có các đặc trưng cấu trúc, động thái và
chức năng đáp ứng tốt nhất một hoặc nhiều mục tiêu của xã hội loài người.
Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm Lâm học rừng phục hồi bằng hệ thống ô
định vị không chỉ là cần thiết và có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật lâu dài để nghiên cứu về rừng tự nhiên. Từ đó từng bước hoàn
thiện thêm kiến thức Lâm học về các hệ sinh thái rừng tự nhiên và cung cấp
cơ sở khoa học quan trọng cho việc đề xuất, xây dựng các giải pháp lâm sinh
nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng và chức năng đa mục đích của rừng.
Từ thực tế trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số
đặc điểm lâm học rừng phục hồi bằng ô tiêu chuẩn định vị tại Hòa Bình, Lạng
Sơn và Bắc Giang”.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm 10 ô tiêu chuẩn định vị có diện tích 1ha/ô
do Viện Nghiên cứu Lâm sinh, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thiết
lập năm 2011 trong khuôn khổ của đề tài “Nghiên cứu các đặc điểm sinh học
một số hệ sinh thái chủ yếu ở Việt Nam giai đoạn II” do PGS.TS. Trần Văn
Con làm chủ nhiệm
1
1
4. Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài là cơ hội tốt cho học viên làm quen
với công tác nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức đã học tập vào ứng
dụng trong thực tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu quan trọng, cần
thiết phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Việt
Nam.
* Ý nghĩa thực tiễn
Là cơ sở để đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm bảo
tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng. Đặc biệt nhằm
nâng cao chất lượng rừng và chức năng đa mục đích của rừng.
NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.
1.1.1.
Trên thế giới
Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Để góp phần xây dựng những nguyên lý và đề cập đến nhiều biện pháp
nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây hình thành nên nhóm thực vật
ngoại tầng.
Như vậy nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của các tác giả trên mới chỉ
đưa ra nhận xét mang tính định tính, phân chia tầng thứ dựa vào cấp chiều cao
mang tính cơ giới nên phần nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu
trúc rừng nhiệt đới.
Xuất phát từ những hạn chế đó, để có cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc
rừng nhiệt đới các nghiên cứu cấu trúc rừng được chuyển dần từ mô tả định
tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó
việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc
rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề về cấu trúc không
gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất.
Tiêu biểu là các tác giả với các công trình nghiên cứu cùng vấn đề được giải
quyết trong công trình như:
1
3
Shugart, H (1984)[34] phân chia rừng ở Nigeria thành 5 - 6 tầng.
B.Rollet (1971) đã biểu diễn các quan hệ chiều cao - đường kính ngang ngực,
đường kính tán - đường kính ngang ngực bằng các hàm hồi quy; phân bố
đường kính tán, đường kính thân cây dưới dạng các phân bố xác suất .
Về phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 13): đã được nhiều nhà lâm
học, điều tra rừng quan tâm. Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D 13 bằng
phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục. Balley (1973) sử
dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây
bằng đa thức bậc ba [34]. Prodan. M và Patatscase (1964), Bill và Kem K.A
(1964) đã tiếp cận phân bố này bằng phương trình logarit. Diatchenko, Z.N sử
dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần
Nghiên cứu về tái sinh rừng
Quá trình tái sinh của rừng tự nhiên là những vấn đề hết sức quan trọng
trong nghiên cứu sinh thái rừng nhiệt đới. Tái sinh rừng là một quá trình sinh
học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện
của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh
rừng: Dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng
sau nương rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này là thay thế thế hệ cây già
cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần
cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Các nhà nghiên cứu đều có chung
một quan điểm: Hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành
loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố và độ dài của
thời kỳ tái sinh rừng. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái
sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbread,
1930; Richards, 1933; 1939; Aubresville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và
Gilbert, 1954; Jones, 1955 - 1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có
giá trị nên trong thực tiễn lâm sinh người ta chỉ tập trung khảo sát những loài
cây có ý nghĩa nhất định.
1
5
Về phương pháp điều tra tái sinh, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy ô
mẫu hình vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô
dạng bản thông thường từ 1 - 4m2. Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả đề nghị
sử dụng phương pháp điều tra dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến động
từ 10 100m2. Phổ biến nhất là bố trí theo hệ thống trong các diện tích nghiên
cứu từ 0,25 1,0 ha (Povarnixbun, 1934; Yurkevich, 1938). Phương pháp này
trong
Đây là hiện tượng không sinh con đẻ cái của cây mẹ trong rừng mưa. Mặt
khác trong rừng mưa tổ thành rừng thường thay đổi theo không gian và thời
gian, ngay cả trong cùng một địa điểm, cùng một thời gian nhất định, tổ hợp
các cây sẽ được thay thế bằng tổ hợp loài cây khác hẳn. Nếu xét trên diện tích
nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh không mang tính chất kế thừa. Nhưng nếu xét
trên một phạm vi rộng, thì tổ hợp các loài cây sẽ thừa kế nhau theo phương
thức tuần hoàn. Thành công của A.Obrevin đã khái quát được hiện tượng bức
khảm tái sinh. Ông coi đó là “Hiện tượng thuần tuý ngẫu nhiên ". Nhưng
phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế chưa đưa ra được những đề xuất
cụ thể. Vì vậy, lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích cho thực
tiễn sản xuất để điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã
đề ra. Tuy nhiên, những kết quả quan sát của Davit và P.W Risa (1933), Bơt
(1946), Sun (1960), Role (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn với
nhận định của A.Obrevin. Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các
loài cây và tổ thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời
gian dài. Đặc điểm tái sinh rừng cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc
biệt là thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống khác biệt với tổ thành tầng cây
cao. (Mibbread - 1940; Richard - 1944, 1949, 1965; Baur - 1964; Rollet ...).
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng
chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W (1952), Bernard Rollet
1
7
(1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã
nhận xét: Trong các ô có kích thước nhỏ (1 x 1m, 1 x 1.5m) cây tái sinh tự
nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson. Ở Châu Phi trên cơ
sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây
tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng
sáng, nhóm cây bán chịu bóng (cơ hội, trung tính) và nhóm cây chịu bóng.
Kết cấu củaquầnthụ
lâmphầncó
ảnhhưởng
đến
tái sinh
rừng. I.D.Yurkevich
(1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa
số các loài cây gỗ là 0,6 - 0,7. Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp
đến mật độ và sức sống của cây con. Trong công trình nghiên cứu mối quan
hệ qua lại giữa cây con và quần thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm
phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng của đất, ánh sáng,
độ ẩm và tính chất không thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ
thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật
(dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [16].
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng: Tầng cỏ và cây
bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của
tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng có thảm cỏ và
cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không
đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ
có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở
ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn theo
Nguyễn Văn Thêm, 1992)[16].
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào
tham gia của các nước Nga, Thái Lan, Malaysia và Indonesia.
1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Theo Phùng Ngọc Lan (1986)[19], Cấu trúc rừng là một khái niệm
2
0
dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã
thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc rừng là một vấn đề có
nội dung phong phú và đa dạng. Những đặc trưng này thường được mô tả theo
đơn vị lâm phần của Đồng Sỹ Hiền (1974) [18]. Theo tác giả, đó là “Tổng thể
những cây hình thành một khoảnh rừng thuần nhất nhiều hay ít. Vì thế trong
thực tiễn, rừng tự nhiên nhiệt đới nước ta, chỉ cần có những cây, dù khác loài,
khác tuổi, mọc thành rừng, nghĩa là cùng nhau sinh trưởng trên một diện tích
nào đó với một mật độ nhất định, hình thành một đơn vị sinh vật học, một lâm
phần có quy luật xác định”. Luận điểm này đã được các nhà nghiên cứu cấu
trúc rừng tự nhiên nước ta vận dụng trong các công trình khoa học của mình.
Trên quan điểm hệ sinh thái, khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt
nam, Thái Văn Trừng (1978) [20] đã dựa trên số lượng và sinh
khối nhóm loài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để phân định các
đơn vị phân loại sau: quần hợp, ưu hợp và phức hợp. Quần hợp: đó là một
quần thể thực vật trong đó cá thể của 1-2 loài cây chiếm 90% tổng số cá thể
trong lập quần. Ưu hợp: nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp không quá 10 loài,
tỉ lệ cá thể của mỗi loài ưu thế chiếm khoảng 4-5% và tổng số cá thể của 10
loài ưu thế đó phải chiếm 40-50% tổng số cá thể cây của các tầng lập quần
trong quần thể trên đơn vị diện tích điều tra. Trường hợp độ ưu thế các loài
cây không rõ ràng gọi là các phức hợp. Thái Văn Trừng (19б3, 1970, 1978)
đã mô tả cấu trúc tầng thứ gồm: Tầng vượt tán (A 1), tầng ưu thế sinh thái (A2),
(1983), đã thử nghiệm dùng các hàm mũ, logarit, phân bố Poisson và phân bố
Pearson để biểu thị cấu trúc số cây - cấp đường kính của rừng tự nhiên hỗn
loại. Trần Văn Con (1991), dùng phân bố Weibull để mô phỏng cấu trúc
đường kính cho rừng khộp ở Tây Nguyên[27]. Lê Minh Trung (1991)[11] thử
nghiệm mô phỏng phân bố N/D rừng tự nhiên ở Gia Nghĩa - Đắc Nông bằng
bốn dạng hàm: Poisson, Weibull, Hyperbol và Meyer. Bảo Huy (1993)[1] thử
nghiệm mô phỏng phân bố thực nghiệm N/ D cho rừng ưu thế bằng lăng ở
Đắc Lắc theo các dạng phân bố: Poisson, khoảng cách, hình học, Weibull và
Meyer. Lê Sáu (1996) đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng các quy luật
2
2
phân bố đường kính, chiều cao tại khu vực Kon Hà Nừng, Tây Nguyên, Bùi
Văn Chúc (1996)
[3] đã nghiên cứu cấu trúc rừng phòng hộ đầu nguồn Lâm trường sông Đà
ở các trạng thái rừng IIA, IIIA 1 và rừng trồng, làm cơ sở cho việc lựa
chọn loài cây,...
Về phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H): Theo nghiên cứu của Đồng
Sỹ Hiền (1974), phân bố số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên
hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của
rừng chặt chọn. Thái Văn Trừng (1978) trong nghiên cứu của mình đã đưa ra
các kết quả nghiên cứu cấu trúc của tầng cây gỗ rừng loại IV. Bảo Huy
(1993), Đào Công Khanh (1996), Lê Sáu (1996), Trần Cẩm Tú (1999)[21], đã
nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ tán cây. Các tác giả đều đi đến
một nhận xét chung là phân bố N/H có dạng đường cong một đỉnh, nhiều đỉnh
phụ hình răng cưa và mô tả bằng hàm Weibull là thích hợp.
1.2.2.
Nghiên cứu về tái sinh rừng
nhiên rừng Miền Bắc Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới. Trong rừng
nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, ở rừng thứ sinh
tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém giá trị. Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự
phân bố số cây không đều trên mặt đất rừng. Từ kết quả đó, tác giả xây dựng
tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở
Miền Bắc nước ta. Hoàng Văn Tuấn (2007)[10], khi nghiên cứu về đặc điểm
tái sinh và động thái tái sinh của hệ sinh thái rừng ỉá rộng thường xanh vùng
Tây bắc đã chỉ ra rằng: có một sự tích luỹ số loài ở các lớp cây có kích thước
lớn hơn so với các lớp cây dưới đó. Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác
nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và tuỳ vào kích thước của
lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình tái sinh. Trần
Văn Con và cộng sự (2006) [29] đã chỉ ra rằng, động thái rừng có thể được
nghiên cứu bằng theo dõi các ô định vị qua nhiều năm. Kết quả phân tích tài
2
4
liệu thu thập được trong ba năm từ các ô tiêu chuẩn định vị ở Kon Hà Nừng
đã cho thấy qui luật động thái của rừng. Vũ Tiến Hinh (1991)[32] đã đề cập
đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý nghĩa của nó trong điều
tra cũng như trong kinh doanh rừng. Tác giả đã sử dụng phương pháp chặt hết
cây gỗ ở 2 OTC (lâm phần Sau Sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên sau khai
thác kiệt và một ô thuộc trạng thái rừng IIIA3). Kết quả nghiên cứu cho thấy,
với đối tượng rừng Sau Sau phục hồi, phân bố số cây theo đường kính và tuổi
đều là dạng phân bố giảm. Điều này chứng tỏ Sau Sau mặc dù là loài cây ưa
sáng mạnh, vẫn có đặc điểm tái sinh liên tục qua nhiều thế hệ, càng về sau tốc
độ càng mạnh. Đối với rừng tự nhiên thứ sinh hỗn giao thì phân bố số cây
theo tuổi của cây cao và cây tái sinh đều có dạng phân bố giảm và nhìn chung
lâm phần tự nhiên cây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổi nhỏ số cây càng
học “Khái quát về tình hình tái sinh tự nhiên Miền Bắc, Việt Nam ". Đinh
Quang Diệp (1993) khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vũng
Easup - Đắc Lắc đã kết luận: Độ tàn che,thảm mục, độ dày tầng thảm mục,
điều kiện lập địa ... là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng
cây con tái sinh dưới tán rừng. Qua nghiên cứu tác giả cho thấy, tái sinh trong
khu vực có dạng phân bố cụm.
1.2.3.
Nghiên cứu về động thái, tăng trưởng rừng
Ở Việt Nam, nghiên cứu tăng trưởng rừng mới được bắt đầu từ những
năm đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Từ 1958-1960, các chuyên gia Đức đã
tiến hành giải tích và nghiên cứu sinh trưởng cho một số loài cây rừng tự
nhiên phục vụ công tác điều tra và phân loại rừng một số vùng trọng điểm:
Thanh Hoá, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh. Từ 1960 - 1965, các
chuyên gia Trung Quốc và cán bộ điều tra rừng Việt Nam phối hợp nghiên
cứu tăng trưởng và sinh trưởng trên 20 loài cây phổ biến ở vùng sông Hiếu,
Nghệ An bằng phương pháp giải tích thân cây tiêu chuẩn để phục vụ nhiệm
vụ quy hoạch vùng trọng điểm phát triển Lâm nghiệp của miền Bắc. Từ 1965