LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nghiên cứu này được thực hiện là công trình của bản
thân. Số liệu và kết quả trong nghiên cứu này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
và tin cậy. Luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước
đây.
Hà Nội, tháng 2 năm 2016
Tác giả luận văn
Mục lục
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các sơ đồ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN
Ngân sách nhà nước
HCSN
Hành chính sự nghiệp
BCTC
Báo cáo tài chính
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung……………………....23
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán……………………….24
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung vừa phân tán……25
Sơ đồ 1.4 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung…...39
Sơ đồ1.5:Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái…41
Sơ đồ 1.6: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ…43
Sơ đồ 1.7:Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính….45
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Ban Quản lý chỉnh trang đô thị
Hà Nội.............................................................................................................57
Sơ đồ 2.2: Quy trình thu tiền mặt…………………………………..……......61
Sơ đồ 2.3: Quy trình chi tiền mặt……………………………………………62
Sơ đồ 2.4: Quy trình thu tiền gửi ngân hàng, kho bạc……………...………..62
Sơ đồ 2.5: Quy trình chi tiền gửi ngân hàng, kho bạc………………..…...…63
Sơ đồ 2.6: Quy trình chi tiền gửi kho bạc…………………………..….....…64
Sơ đồ 2.7: Mô hình tăng TSCĐ………………………………..………….....65
Sơ đồ 2.8: Mô hình thanh lý, điều chuyển tài sản cố định…………………..66
5
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các hoạt động kinh tế- tài
chính của một tổ chức để phục vụ cho nhu cầu quản lý của các đối tượng bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay – giai
đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế, sự cạnh tranh mang tính chất phức tạp, khốc
liệt. Có thể nói, chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán ảnh hưởng trực
tiếp đến chất luợng, hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để đạt được các mục
đáp ứng được nhu cầu mới, cải cách thủ tục hành chính, định hướng kiểm soát
thị trường bất động sản và thể hiện được vai trò chỉ đạo khớp nối hệ thống hạ
tầng kỹ thuật và xã hội.
Với tư cách là một bộ phận của hệ thống các công cụ quản lý, kế toán
cũng cần có sự đổi mới và hoàn thiện liên tục cho phù hợp. Chính vì vậy, việc
hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ban quản lý chỉnh trang đô thị Hà Nội
là một yêu cầu cấp bách và hết sức cần thiết. Luận văn với đề tài: “Hoàn
thiện tổ chức công tác kế toán tại Ban Quản lý chỉnh trang đô thị Hà Nội”
được nghiên cứu với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc giải quyết
các vấn đề nêu trên.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
Năm 2007, luận văn thạc sĩ - Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, tác
giả Ngô Thị Hồng Hạnh đã nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế
toán tại các Ban quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản trên địa bàn Hà Nội”. Đề
tài đã nghiên cứu lý luận về tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp, trên cơ sở đó làm rõ thực trạng các nội dung tổ chức công tác kế toán
tại các Ban quản lý đầu tư và xây dựng cơ bản trên địa bàn Hà Nội như: tổ
chức vận dụng chứng từ, tổ chức hệ thống tài khoản kế toán, tổ chức vận dụng
hệ thống sổ kế toán và tổ chức báo cáo kế toán, từ đó luận văn đưa ra những
7
giải pháp cho việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các Ban quản lý đầu
tư và xây dựng cơ bản trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên, các giải pháp luận văn
đưa ra còn chung chung, chưa mang tính cụ thể, tính sát thực.
Năm 2011, công trình luận văn thạc sỹ trường Đại học Đà Nẵng “Tổ
chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án cầu
Rồng” của tác giả Nguyễn Thị Minh Phương. Trên cơ sở phân tích những lý
luận về kế toán xây dựng cơ bản và tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng
nghiệp công lập nói chung và tại Ban Quản lý chỉnh trang đô thị Hà Nội nói
riêng.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn phân tích và đánh giá về thực trạng tổ chức
công tác kế toán tại Ban Quản lý chỉnh trang đô thị Hà Nội. Trên cơ sở đó,
luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại
Ban Quản lý chỉnh trang đô thị Hà Nội nói riêng. Từ đó có thể vận dụng cho
các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, tính logic để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như các vấn
đề thực tiễn tổ chức công tác kế toán tại Ban Quản lý chỉnh trang đô thị Hà
Nội.
Luận văn sử dụng các phương pháp diễn giải, so sánh để khảo sát các
công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài nhằm tìm ra những
vấn đề cần giải quyết về mặt lý thuyết. Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích
và tổng kết những vấn đề nghiên cứu có liên quan đến tổ chức công tác kế
toán và xác định mục tiêu nghiên cứu của mình.
Phương pháp khảo sát, phỏng vấn được thực hiện để thu thập thông tin
trên các đối tượng cần lấy thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu, thông tin
9
tài liệu thu thập được khi sử dụng phương pháp này là các tài liệu sơ cấp
mang tính chính xác cao.
Các tài liệu thu thập được dùng để minh chứng các nội dung liên quan
đến tổ chức công tác kế toán như: đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập, cơ
chế quản lý tài chính, nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công
lập.
Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu: Dựa vào những thông tin, tài
do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hôik thành lập thoe quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp
dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Như vậy, đơn vị sư nghiệp công lập
được thành lập với mục tiêu đáp ứng và hỗ trợ hoạt động của các cơ quan
hành chính nhà nước. Do vậy các đơn vị này thường có nguồn thu từ ngân
sách nhà nước. Điều này khiến cho hoạt động quản lý tài chính nói chung và
công tác tổ chức kế toán nói riêng phải được tuân thủ theo các quy định và
chuẩn mực của Nhà nước.
* Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu quản lý nhà
nước mà các đơn vị sự nghiệp công lập được phân chia theo các tiêu thức
khác nhau.
Theo tính chất công cộng hay cá nhân của dịch vụ cung cấp thì đơn vị sự
nghiệp công lập bao gồm đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công cộng thuần
túy và đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng có tính chất cá nhân.
Theo chủ thể quản lý thì đơn vị sự nghiệp công lập được phân thành:
-
Đơn vị sự nghiệp công lập do trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình
Việt Nam, các bênh viện, trường trung học do trung ương quản lý…
11
-
Đơn vị sự nghiệp công lập do địa phương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình
tỉnh, thành phố, các bênh viện, trường học do địa phương quản lý…
Theo quan điểm về thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Nghị định 16/2015/CP ngày
14/02/2015 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
thao …
- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm các
cơ sở khám chữa bệnh như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc
các bộ, ngành, địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu,
các trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, các
trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe …
- Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực
khác bao gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị nông thôn, các trạm
khuyến nông …
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập rất đa dạng, bắt
nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường. Tuy các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động ở các lĩnh
vực khác nhau như đều mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là
không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Nhà nước tổ chức,
duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm,
dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong
việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng
khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực
13
kinh tế - xã hội hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài,
đảm bảo nguồn nhân lực, thuc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và
ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống,
sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang
lại lợi ích chung có tính bền vững, lâu dài cho xã hội. Sản phẩm, dịch vụ do
việc “quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập”. Theo Nghị định
16/2015/NĐ-CP thì đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ trong việc thực
hiện nhiệm vụ, tự chủ về tổ chức bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài
chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị
để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng
bước giải quyết thu thập cho người lao động. Nhà nước thực hiện chủ trương
xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của
cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần
bao cấp từ NSNN.
Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
phải tuân thủ theo nguyên tắc:
- Hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với chịu trách nhiệm trước cơ quan
quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình;
đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền.
15
- Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân
theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, các đơn vị sự nghiệp công lập
được tự chủ trên các mặt sau:
1.1.3.2 Nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập
Muốn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển, các đơn vị sự
nghiệp công lập cần được huy động các nguồn tài chính để đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị chuyên môn, trả lương cho viên chức và đội
tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Công việc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm các
công việc: lập dự toán ngân sách, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách.
Cụ thể:
-Lập dự toán ngân sách:
Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và
nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi ngân sách hàng
năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn.
Khi lập dự toán ngân sách, các đơn vị sự nghiệp công lập phải phản ánh
đầy đủ các khoản thu, chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan
có thẩm quyền ban hành, kể cả các khoản thu, chi từ nguồn viện trợ và các
khoản vay. Trong quá trình lập dự toán ngân sách phải lập đúng mẫu biểu,
thời gian theo đúng quy định và lập chi tiết theo mục lục NSNN. Dự toán
ngân sách của các đơn vị sự nghiệp công lập được gửi đúng thời hạn đến các
cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật.
- Chấp hành dự toán ngân sách:
Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế
tài chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi ghi trong dự toán ngân sách của đơn
17
vị thành hiện thực. Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sự
nghiệp công lập chủ động tổ chức triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp
cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu – chi được giao, đồng thời phải
có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, đúng chế độ, tiết
kiệm và có hiệu quả. Để theo dõi quá trình chấp hành dự toán ngân sách, các
đơn vị sự nghiệp công lập cần tiến hành tổ chức hệ thống chứng từ kế toán, hệ
thống tài khoản kế toán, hệ thống sổ sách kế toán để theo dõi chi tiết, cụ thể
từng nguồn thu, từng khoản chi, quản lý quỹ lương, các quỹ và quản lý tài sản
Việc phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả
cao nhất là vấn đề quan tâm hàng đầu của quản lý tài chính. Muốn vậy các
đơn vị sự nghiệp công lập phải sử dụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau,
trong đó có tổ chức vận dụng hệ thống phương pháp kế toán để thu thập, ghi
nhận, xử lý và cung cấp thông tin kịp thời các khoản chi theo từng nội dung
chi, từng nhóm chi, mục chi và thường xuyên tổ chức phân tích, đánh giá,
tổng kết rút kinh nghiệm, trên cơ sở đó đề ra biện pháp tăng cường quản lý
chi.
+ Quản lý quỹ lương.
Các đơn vị sự nghiệp công lập phải chấp hành đúng quỹ tiền lương được
duyệt tương ứng với số công chức, viên chức được giao theo chỉ tiêu biên chế
hàng năm. Nghiêm cấm việc sử dụng quỹ lương cho các mục đích khác và
ngược lại. Bên cạnh đó, việc chi trả quỹ tiền lương thực hiện đồng thời với
việc trích nộp BHXH, BHYT, BHTN và các khoản trích nộp khác theo quy
định. Việc lập dự toán, cấp phát và hạch toán quỹ tiền lương phải đúng mục
lục NSNN. Việc cấp phát, thanh toán quỹ tiền lương ở các đơn vị sự nghiệp
công lập phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, cơ quan chủ
quản và cơ quan KBNN.
19
+ Quản lý tài sản nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập phải đảm
bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho đơn vị quản
lý, sử dụng.
Thứ hai, tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng
mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, đảm bảo công bằng, hiệu quả, tiết
kiệm.
Thứ ba, tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá
tài sản sau một kỳ kế toán. Báo cáo quyết toán NSNN được lập trên cơ sở số
liệu phải chính xác, trung thực, nội dung phải theo đúng các nội dung ghi dự
toán được duyệt và phải báo cáo quyết toán chi mục lục NSNN. Báo cáo
quyết toán năm trước khi gửi các cơ quan có thẩm quyền để xét duyệt hoặc
tổng hợp phải có xác nhận của KBNN đồng cấp.
Ngoài các nhân tố trên, khi tiến hành tổ chức công tác kế toán cũng cần
quan tâm đến các nhân tố khác như nhu cầu thông tin kế toán, yêu cầu quản ly
đơn vị, yêu cầu kiểm soát trong đơn vị…
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.2.1 Khái niệm, vai trò của tổ chức công tác kế toán
*Khái niệm
Thực chất quan điểm về tổ chức kế toán được hình thành và định hình
thông qua các định nghĩa về kế toán. Thực tế, do có nhiều cách tiếp cận về kế
toán nên tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán. Tuy có nhiều điểm
khác nhau nhưng các định nghĩa này đều thống nhất với nhau rằng: kế toán là
một hệ thống của những khái niệm và phương pháp, hướng dẫn chúng ta thu
21
thập, đo lường, xử lý và cung cấp thông tin cần thiết cho việc ra những quyết
định tài chính hợp lý.
Do vậy, tổ chức công tác kế toán được hiểu là một hệ thống các phương
pháp cách thức phối hợp sử dụng phương tiện và kỹ thuật cũng như nguồn lực
của bộ máy kế toán thể hiện các chức năng và nhiệm vụ của kế toán đó là:
Phản ánh, đo lường, giám sát và thông tin bằng số liệu một cách trung thực,
chính xác, kịp thời đối tượng kế toán trong mối liên hệ mật thiết với các lĩnh
vực quản lý khác.
Theo giáo trình Tổ chức công tác kế toán, Học viện Tài chính thì: “Tổ
động quản lý và ra quyết định trong đơn vị.
Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn kinh phí được cấp phát từ NSNN
cũng khiến cho tổ chức công tác kế toán phải tuân theo các chuẩn mực của kế
toán ngân sách nhà nước. Công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp công lập phải
cân đối giữa các hoạt động kinh doanh và nhiệm vụ chính trị được giao.
1.2.2 Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp
công lập
Kế toán là một trong các công cụ quản lý quan trọng của đơn vị sự
nghiệp công lập. Do vậy, tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý là điều
kiện cần thiết để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và vai trò của kế toán,
đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán ở đơn vị sự nghiệp
công lập.
Những nhiệm vụ chính của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự
nghiệp công lập là:
Một là, tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn vị phù hợp với đặc điểm,
điều kiện tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý và phân cấp quản lý tài chính ở
23
đơn vị, đảm bảo đủ số lượng, có chất lượng, đảm bảo hoàn thành mọi nội
dung công việc kế toán của đơn vị với chi phí tiết kiệm nhất. Thực hiện kế
hoạch hóa công tác kế toán, có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng cho từng
nhân viên kế toán. Xác định được mối quan hệ công việc giữa bộ phận kế
toán với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị.
Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán
với các bộ phận quản lý khác trong đơn vị về các công việc liên quan đến
công tác kế toán và thu nhận, cung cấp thông tin kinh tế tài chính liên quan
cho các nhà quản lý.
Thực tế, để cung cấp thông tin phục vụ đáp ứng yêu cầu các ngành
thành tựu khoa học tiên tiến, hiện đại, sử dụng các chương trình phần mềm,
trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ tính toán, thiết lập hệ thống thông tin, khai thác
và lưu trữ thông tin cho hiệu quả.
Để phát huy tốt nhất các nội dung của tổ chức công tác kế toán thì các
nhiệm vụ cần phải được triển khai đồng bộ.
1.2.3 Những nguyên tắc tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp
công lập
Tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập một cách khoa học và
hợp lý không những có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế
toán mà còn là nhân tố quan trọng thực hiện tốt quản lý kinh phí và bảo vệ tài
sản, tiền vốn của đơn vị, thực hiện tốt vai trò của kế toán là công cụ quản lý
tài chính trong đơn vị.
Muốn vậy trong hoạt động thực tiễn tổ chức công tác kế toán cần phải
tuân theo những nguyên tắc nhất định, dựa trên những nguyên tắc của bản
thân hoạt động kế toán và quan hệ giữa kế toán với các bộ phận khác trong hệ
thống quản lý. Bao gồm những nguyên tắc sau:
25
Nguyên tắc phù hợp: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức công tác kế toán
phải phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị về: quy mô hoạt động, loại hình
hoạt động, đặc thù về quản lý của đơn vị, phù hợp với năng lực của cán bộ kế
toán ở đơn vị, phù hợp với thiết bị trang bị cho công tác tổ chức kế toán.
Không dập khuôn, cứng nhắc trong công tác tổ chức kế toán.
Nguyên tắc thống nhất: Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo mối
liên hệ với các bộ phận trong bộ máy quản lý trên các mặt về nhận và cung
cấp thông tin, thống nhất các bộ phận về nội dung, phương pháp tính các chỉ
tiêu kinh tế, thống nhất về đơn vị hạch toán và ký hạch toán, bảo đảm tính so
sánh được của các tài liệu kế toán với các tài liệu quản lý khác.