1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYễN THị ĐàO
Tờn ti:
Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông sinh học của các dòng cà chua
chống chịu bệnh sơng mai chọn tạo bằng chỉ thị phân tử
KhóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
H o to
: Chớnh quy
Chuyờn ngnh
: Cụng ngh sinh hc
Lp
: K42 - CNSH
Khoa
: CNSH-CNTP
Khoỏ hc
: 2010-2014
Ging viờn hng dn: TS. Trn Ngc Hựng
B mụn CNSH Vin nghiờn cu Rau Qu
TS. Nguyn Vn Duy
Khoa CNSH-CNTP, trng i hc Nụng Lõm Thỏi Nguyờn
Thỏi Nguyờn, nm 2014
Bảng 3.: Những nước có sản lượng cà chua cao nhất năm 2011 [18] .............. 6
Bảng 4: Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua của Việt Nam từ năm 2004
đến năm 2008 [7]............................................................................................... 7
Bảng 5: Tính kháng bệnh sương mai của các dòng cà chua ........................... 28
Bảng 6: Kiểu gene Ph3 của các dòng cà chua ................................................ 32
Bảng 7: Đặc điểm quả của các dòng cà chua trong vụ đông xuân ................. 33
Bảng 8: Một số đặc tính sinh trưởng của các dòng cà chua trong vụ đông xuân.... 34
Bảng 9: Khả năng đậu quả của các dòng cà chua trong vụ xuân hè ............... 35
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
trang
Hình1: Bệnh sương mai hại cà chua ............................................................... 10
Hình 2: Quá trình sâm nhập của nấm sương mai vào : A- Giống nhiễm bệnh,
B và C giống kháng bệnh (I-V là giai đoạn nẩy mầm của bào tử động, VIxâm nhập, VII tạo bọc bào tử) [35,36] ............................................................ 11
Hình 3: Hình thái bộ phận sinh sản của nấm sương mai : Bọc bào tử động
(sporangia), bào tử động (zoospore), Oospore (tính từ trái qua phải) ............ 12
Hình 4: Bản đồ liên kết các gene (QTL) liên quan đến tính kháng bệnh sương
mai của cà chua: LB-1 và LB-2 – QTL kháng bệnh sương mai (Frary và cs,
1998); Ph1, Ph2, Ph3- gene kháng bệnh sương mai[38] ................................ 14
Hình 5. Mối quan hệ giữa các chi trong loài Solanum [35] ............................ 15
Hình 6. Biểu hiện của (A) chỉ thị đồng trội, (B) chỉ thị trội (P1, P2 – bố mẹ,
F1 = P1 x P2)[47] ............................................................................................ 17
Hình 7 : Vị trí của gene Ph3 trong bản đồ chỉ thị phân tử RFLP tại cánh tay
dài của nhiễm sắc thể số 9 [38] ...................................................................... 19
Hình 8 : Ảnh điện di của chỉ thị SCAR phát triển từ chỉ thị AFLP (L87) [46]....... 19
Hình 9: Bản đồ liên kết gene kháng bệnh sương mai và chỉ thị phân tử
Polymerase Chain Rection
SCAR
Sequence- Characterized Amplified Region
DNA
Deoxyribonucleic acid
PTNT
Phát triển nông thôn
CNSH
Công nghệ sinh học
OD
Optical density
LB
Left border
SSR
Simple Sequence Repeats
Việt nam .......................................................................................................... 20
Phần 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 22
3.1. Mẫu dòng/giống cà chua .......................................................................... 22
3.2.Nấm bệnh sương mai ................................................................................ 22
3.3. Đánh giá tính kháng bệnh sương mai ...................................................... 23
3.4.Xác định kiểu allele gene Ph3 của mẫu giống cà chua ............................. 25
3.4.1. Ly chích DNA ....................................................................................... 25
3.4.2.Xác định kiểu allele của gene Ph3 ......................................................... 25
3.5. Khảo sát chọn lọc dòng có tính trạng nông học (năng suất, chất lượng...)
tốt ..................................................................................................................... 26
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 28
4.1.Đánh giá tính kháng bệnh của các mẫu dòng giống cà chua .................... 28
4.2. Xác định kiểu gene Ph3 của các dòng cà chua bằng chỉ thị phân tử ...... 30
7
4.3.Đặc điểm nông sinh học các dòng cà chua trong vụ đông xuân ............... 33
4.4.Đặc điểm nông sinh học các dòng cà chua vụ xuân hè............................. 35
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 37
5.1. Kết luận .................................................................................................... 37
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 38
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
2
cây [21]. Nấm bệnh hại nhiều bộ phận của cà chua: thân, lá, quả và hạt
[11],[12]. Bệnh có thể tiền ẩn trong đất, hạt giống, và phát tán được trong
không khí. Ở nước ta, vụ đông xuân là thời kỳ hội tụ nhiều yếu tố môi trường
(nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng...) rất thuận lợi cho bệnh sương mai phát triển.
Bệnh gây hại nghiêm trọng và có ảnh hưởng lớn tới năng suất (giảm 60- 70%)
và phẩm chất trên cà chua, khoai tây ở một số vùng Hà Nội, Hải Phòng, Lào
Cai, Đà Lạt [10]. Bệnh nặng từ tháng 1 – tháng 3 ở đồng bằng Bắc bộ và
trong mùa mưa ở các vùng cao có khí hậu ôn hòa: Mộc châu- Sơn la, SapaLào cai, Đà lạt –Lâm đồng... Để hạn chế bệnh, kỹ thuật phổ biến nhất đang
được nông dân áp dụng là phun thuốc trừ bệnh với 13-15 lần phun/ vụ cà
chua. Tuy nhiên, hiệu quả phun thuốc hóa học rất hạn chế do nhiều mẫu nấm
sương mai có khả năng kháng metalaxyl, hoạt chất chính trong các thuốc trị
bệnh sương mai.Với đặc thù này sản xuất cà chua luôn tiềm ẩn tính thiếu ổn
định và nguy cơ không an toàn vệ sinh thực phẩm cao. [3]
Những năm qua, trong nhiều chương trình, dự án chọn tạo giống rau,
các cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT, trường đại học của Việt nam đã
đưa ra một số giống cà chua mới vào sản xuất. Giống cà chua phục vụ chế
biến PT18 (Viện nghiên cứu rau quả), Giống C95, VT3 ( Viện cây lương thực
& cây thực phẩm), các giống cà chua lai F1 : FM 20, FM29, lai số 4, lai số 9
(Viện nghiên cứu rau quả), HT21, HT144 (trường đại học nông nghiệp Hà
nội)...So với các giống cà chua truyền thống ( cà chua Ba lan, cà chua Pháp,
cà chua Hồng lan...) các giống mới tạo ra thể hiện vượt trội về năng suất và
chất lượng. Các giống mới được chọn tạo đều áp dụng công nghệ truyền
thống (conventional breeding) và chỉ chú ý đến biển hiện năng suất, chất
lượng quả... và tính chống chịu bệnh đồng ruộng. [9]
Trước thực trạng trên, Viện nghiên cứu đã thực hiện chương trình tạo
giống cà chua chống chịu bệnh sương mai bằng chỉ thị từ năm 2009. Qua đó,
một số dòng cà chua đã được tạo ra. Để tiếp tục chương trình chọn giống này,
chúng tôi xin được thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đánh giá đặc điểm nông
2.1.1.Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Trong 3 năm liên tiếp 2006-2008 diện tích trồng cà chua trên thế giới
liên tục tăng từ 4,6 triệu ha lên 5,2 triệu ha nhưng sản lượng ổn định khoảng
130 triệu tấn, điều đó chứng tỏ rằng năng suất cà chua trong thời gian trên
không tăng, nguyên nhân của hiện tượng này có thể do các yếu tố thời tiết bất
thuận hoặc do dịch bệnh. Châu Á là châu lục có diện tích và sản lượng cà
chua lớn nhất (trên 60% của thế giới) (FAO) (Bảng 1). [2]
Bảng 1. Diện tích và sản lượng cà chua trên thế giới (1000ha – tấn)[17]
Năm 2006
Châu lục
Năm 2007
Diện
tích
Diện
tích
Diện
tích
Sản
lượng
Châu Phi
678
15.441
69.660
2.954
71.499
Châu Âu
615
21.695
581
20.675
575
20.403
9
548
9
412
9
(>80 tấn/ha), Italia, Brazil, Tân ban nha đạt năng suất 60-70 tấn/ha, Trung
quốc đạt 40-50 tấn/ha, Ấn Độ là ~ 20 tấn/ha. Tiêu dùng cà chua theo đầu
người cao nhất ở các nước Hy lạp, Ai cập (~100kg/người/năm), tiếp theo là
5
Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Cuba (60-70kg/ người/năm), Hàn Quốc, Nhật bản chỉ tiêu
thụ 9-10kg/người/năm.[3]
Theo Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), năm 1999, trên thế giới có
158 nước trồng cà chua với diện tích 4.100.264 ha . Cũng theo FAO, diện tích
sản lượng năng xuất của cà chua năm 2009 trên thế giới như sau[17] :
Theo FAO, 2009: Diện tích: 4.544.525 (ha)
Năng suất: 339.719 (Hg/ha)
Sản lượng: 154.368.171 (tấn)
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua của các châu lục trên
thế giới năm 2011[18]
Tên châu lục
Diện tích
(ha)
Năng suất
( Hg/ha)
Sản lượng
(tấn)
Châu Phi
Châu Úc
8935
408.274
364.793
Theo bảng trên năm 2011, châu Á có diện tích trồng cà chua và sản
lượng cà chua lớn nhất thế giới còn châu Úc và châu Mỹ có năng suất lớn
nhất. Diện tích trồng cà chua ở châu Á chiếm 60,67% diện tích trồng cà chua
trên toàn thế giới, nhưng năng suất chỉ chiếm 48,1% tổng năng suất trên thế
giới. Trong khi đó châu Âu chiếm 13,47% diên tích trồng cà chua trên thế
giới nhưng năng suất chiếm tới 19,42%.
Khoảng 150 triệu tấn cà chua đã được sản xuất trên thế giới trong năm
2009. Trung Quốc là nước sản xuất cà chua lớn nhất, chiếm khoảng một phần
tư sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Hoa Kỳ và Ấn Độ. Các khu vực chế biến
tại California chiếm 90% lượng sản xuất ở Mỹ và 35% lượng sản xuất thế
giới. Trung Quốc vẫn đứng đầu về sản xuất cà chua trong những năm tiếp
theo . Dưới đây là năm quốc gia có sản lượng cà chua cao nhất trong năm
2011 [18].
6
Bảng 3.: Những nước có sản lượng cà chua cao nhất năm 2011 [18]
STT
Tên nước
8.105.260
Cà chua là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu
quan trọng của nhiều nước ở cả dạng ăn tươi và chế biến. Đứng đầu về tiêu
thụ cà chua là nước Mỹ, sau đó là các nước châu Âu. Năm 2008 Mỹ đã nhập
khẩu 1116340 tấn cà chua, tiếp theo là các nước Nga (628923 tấn), Đức
(1293840 tấn) [18].
Cà chua là một trong những loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt
hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới. Lượng cà chua trao đổi trên thị
trường thế giới năm 1999 là 30,7 triệu tấn, trong đó cà chua ăn tươi chỉ từ 57%. Từ năm 2003 đến năm 2007 khối lượng cà chua xuất khẩu trên thế giới
tăng 30%. Mexico là nước đứng đầu trong xuất khẩu cà chua, năm 2007 khối
lượng xuất khẩu của nước này đạt 1,1 triệu tấn, chiếm hơn 50% khối lượng
xuất khẩu trên toàn thế giới.
2.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cây cà chua được xếp vào các loại rau có giá trị kinh tế
cao, diện tích trồng cà chua lên đến chục ngàn ha, tập trung chủ yếu ở đồng
bằng và trung du phía Bắc. Hiện nay có một số giống chịu nhiệt mới lai tạo
chọn lọc có thể trồng tại miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ nên diện tích
ngày càng được mở rộng. Nhiều giống cà chua lai ghép chất lượng tốt được
phát triển mạnh ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Một số giống cà chua chất lượng đã
được xuất khẩu ra thị trường thế giới. Cà chua là cây du nhập vào Việt Nam
mới được hơn 100 năm nhưng đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử
dụng ngày càng rộng rãi. Cà chua ở nước ta được trồng chủ yếu vào vụ đông
với diện tích khoảng 6800-7300 ha và thường tập chung ở các tỉnh thuộc đồng
7
bằng và trung du Bắc Bộ ( Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc…), còn ở miền
Nam tập trung ở các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng [1].
424126
2005
23566
198
446124
2006
22692
196
450426
2007
23283
197
458214
2008
24850
ngàn tấn) được các công ty (công ty Hội Vũ, công ty cổ phần chế biến thực
phẩm chất lượng cao Hải Hưng...) chế biến xuất khẩu. [9]
Năm 2011 công ty Syngenta đã điều tra 600 nông hộ sản xuất cà chua ở
cả 3 miền (bắc, trung, nam) về chi phí vật tư cho thấy khoảng 30% chi phí
giành cho thuốc sâu bệnh (trong đó thuốc trừ bệnh chiếm 2/3), mức chi này
tương đương với tiền mua phân bón. Điều đó phản ánh mức độ nguy hiểm của
dịch bệnh đang diễn ra ở các vùng sản xuất cà chua của nước ta.
Nhiệt độ thích hợp nhất để cà chua sinh trưởng là 22-240C nên ở các
tỉnh phía Bắc của nước ta cà chua được trồng trong 3 vụ: [8]
-Vụ sớm: gieo hạt cuối tháng 7, đầu tháng 8, trồng cuối tháng 8 – đầu tháng
9. Vụ này cà chua được trồng trên đất cao, thoát nước tốt, với các giống có đặc
điểm chính là chịu nhiệt và chống chịu bệnh xoăn vàng lá do virut gây ra.
-Vụ chính: Gieo hạt đầu tháng 9 đến đầu tháng 10, trồng đầu tháng 10
đến đầu tháng 11. Vụ này có diện tích lớn và có tiềm năng mở rộng trên đất
sau thu hoạch lúa mùa sớm. Cà chua trong vụ này đạt năng suất và chất lượng
9
cao nhất. Nhiều giống thích hợp trồng trong vụ chính. Vào giai đoạn thu
hoạch ( tháng 1- tháng 2) thường bị bệnh sương mai hại nặng.
-Vụ muộn: gieo hạt tháng 11 đến giữa tháng 12, trồng tháng 12 đến
cuối tháng 1. Trong vụ này, giai đoạn đầu vụ rất thích hợp cho bệnh sương
mai phát triển.
-Vụ xuân hè: Gieo hạt đầu tháng 2, trồng cuối tháng 2 đến đầu tháng 3.
Bệnh sương mai có thể xuất hiện ở đầu vụ, cuối vụ thường bị bệnh xoăn vàng
lá. Giống trồng trong vụ này có khả năng chịu nhiệt tốt sẽ cho năng suất cao.
Ở các vùng cao nguyên, khí hậu mát mẻ quanh năm (Sapa, Đà lạt, Mộc
châu...) cà chua có thể trồng trong nhiều thời vụ, nhưng trong mùa mưa rất dễ
bị bệnh sương mai.
Hình1: Bệnh sương mai hại cà chua
(A- hại trên lá, B- hại trên thân, C- hại trên quả)
Về dạng giới tính, nấm sương mai được chia làm 2 loại A1 và A2. Sinh
sản hữu tính chỉ xuất hiện khi có cả 2 loại giới tính. Loại hình sinh sản này tạo
ra Oospore cho phép nấm tồn tại lâu trong đất dù không xuất hiện cây ký chủ,
và có thể tạo ra tính độc rất nguy hiểm [25],[31]. Bệnh sương mai hại trên cả
cà chua và khoai tây. Trước những năm 80, phần lớn các giống khoai tây của
trồng tại Việt nam được nhập từ châu Âu, và chúng đều rất mẫn cảm với bệnh
sương mai. Nhưng trong nhiều năm gần đây việc giao lưu giống đặc biệt là
giống khoai tây được thiết lập với Trung Quốc. Giống khoai tây nhập khẩu từ
Trung Quốc chiếm 99% lượng giống nhập khẩu năm 2002 [32]. Tuy nhiên hệ
thống kiểm dịch với củ giống khoai tây nhập khẩu hầu như không được chú ý,
nên giống nhập khẩu từ Trung Quốc nhiễm rất nhiều nấm bệnh [33],[34].
Nghiên cứu đầu tiên về nấm sương mai tại Việt nam được báo cáo năm
11
1967[9]. Bệnh sương mai trở thành dịch hại nguy hiểm trên cà chua và khoai tây,
đã làm thất thu từ 5-50% [15]. Do thiếu giống chống chịu với bệnh sương mai,
nông dân thường dùng mancozeb, zineb, boocdo (Cu), metalaxyl để phòng trừ
dịch bệnh. Trong điều kiện mưa nhiều, ẩm độ cao, áp lực bệnh lớn nên thuốc
thường được phun với liều lượng cao, tần suất lớn (5-7 ngày/lần) [15].
Le và cs (2008) đã thu thập 597 mẫu nấm sương mai trên cà chua và
khoai tây của 9 tỉnh ở Việt nam cho thấy quần thể nấm sương mai ở Việt nam
thuộc dạng cũ (Old population- dạng giới tính A1), nhưng tính kháng metalaxyl
không đồng nhất, các mẫu phân lập ở Lâm đồng có tính kháng cao hơn.
Bọc bào tử động
Mô tế bào chết
chua chế biến: Nova.
Ph2 là gene trội không hoàn toàn, cũng được tìm thấy trong nhóm cà
chua L. Pimpinellifolium[ 29]Mức độ thể hiện của gene Ph2 còn bị chi phối
bởi các yếu tố khác [ 42].Gene Ph2 được xác định có trong các giống cà chua
West Virginia 63, Legened, Centennial, Caline, Macline, Pieraline, Heline,
13
Fline, Piline, Pieralbo, Heinz 1706, Campbell 28, Flora Dade, Earlymech và
Europeel [38],[41]. Nghiên cứu tại trung tâm rau châu Á (AVRDC) đã phát
hiện ra trong mẫu giống L3708, thuộc nhóm L. pimpinellifolium có chứa
nguồn gene mới (Ph3) kháng bệnh sương mai [41]. Gene Ph-3 trên nhiễm sắc
thể 9 [19], kháng tốt với chủng Pi -16, trong khi đó gene Ph-1 và Ph-2 không
thể hiện tính kháng với chủng này.
Tính kháng bệnh sương mai còn được tìm thấy ở mẫu cà chua dại
LA1033 (L.hirutum) [27]. Tuy nhiên nhóm cà chua này có đặc điểm tự bất
hợp nên gặp khó khăn khi lai với giống cà chua trồng trọt. Các gene và QTL
kháng bệnh sương mai đã được lập bản đồ liên kết trên các nhiễm sắc thể
khác nhau (Hình 4).
14
Hình 4: Bản đồ liên kết các gene (QTL) liên quan đến tính kháng bệnh
sương mai của cà chua: LB-1 và LB-2 – QTL kháng bệnh sương mai
(Frary và cs, 1998); Ph1, Ph2, Ph3- gene kháng bệnh sương mai[38]
15
thông qua sắc tố vỏ hạt. Dạng chỉ thị kiểu hình này để lập bản đồ và chọn giống
trong nhiều thập kỷ. Sử dụng chỉ thị kiểu hình trong nghiên cứu gene và chọn
giống sẽ gặp một số khó khăn như tính trội, tương tác các hiệu ứng (trội x trội,
cộng x trội,...) [44] .Chỉ thị isozyme: Để khắc phục khó khăn khi dùng chỉ thị kiểu
hình, các chỉ thị isozyme đã được nghiên cứu trong những năm 70 và đầu những
năm 80. Trong giai đoạn này chỉ thị isozyme được dùng để lập bản đồ. Charles và
cs đã tìm được mối liên kết giữa tính kháng bệnh tuyến trùng rễ và dạng Isozyme
acid phosphatase, Aps-1. Mặc dù có rất nhiều thuận lợi hỗ trợ chọn giống nhưng
chỉ thị này rất hạn chế về số lượng và thường không có tính đa hình cao trong
nhóm kiểu gene có quan hệ họ hàng.
Chỉ thị phân tử (Chỉ thị DNA): Vào những năm 80 và đầu những năm
90 nhiều hạn chế của chỉ thị kiểu hình và chỉ thị isozyme đã được khắc phục
nhờ công nghệ chỉ thị DNA, đây được xem như mở ra kỷ nguyên mới cho
nghiên cứu về di truyền – chọn giống. Chỉ thị DNA xuất phát từ vùng nhỏ đặc
trưng của DNA tạo ra tính đa hình giữa các cá thể trong cùng loài hoặc giữa
các loài. Trong hai thập kỷ qua hàng loạt dạng chỉ thị phân tử đã được phát
triển. Trong số các loài cây trồng, cà chua được phát triển rất nhiều chỉ thị
phân tử. Hiện tại có trên 1000 chỉ thị RFLP, 148 chỉ thị SSR, 77 chỉ thị CAPS
đã được lập bản đồ trên 12 nhiễm sắc thể của cà chua. Phát triển và sử dụng
chỉ thị dựa trên phản ứng PCR (PCR- based marker) ngày càng tăng do thuận
tiện sử dụng, rẻ, nhanh hơn các chỉ thị truyền thống khác (RFLP, AFLP).
Tùy theo bản chất và kiểu biểu hiện mà chỉ thị DNA được chia thành
một số nhóm: hybridization - based marker, PCR - based marker, DNA
17
sequence - based marker. Chỉ thị DNA có thể tạo ra sự khác biệt giữa các kiểu
gene thông qua điện di và nhuộm với hóa chất (ethidium bromide hoặc bạc)
hoặc phát hiện bằng phóng xạ hoặc các probe đã đánh dấu màu. Chỉ thị DNA
tính chính xác của quá trình chọn tạo giống. MAS cho phép chọn lọc các tính
trạng không phụ thuộc vào mùa vụ trồng, chọn lọc ngay trong giai đoạn vườn
ươm, không phải lây bệnh nhân tạo hay các phân tích khác. Đồng thời, chọn
lọc bằng chỉ thị phân tử không phụ thuộc vào tác động của các yếu tố môi
trường trong quá trình chọn lọc. Đối với các tính trạng có hệ số di truyền từ
thấp đến trung bình, MAS có ý nghĩa rất quan trọng. Để phối hợp nhiều gene
từ các nguồn khác nhau, MAS là công cụ vô cùng hữu ích.
Hiện nay, MAS là công cụ sử dụng thông thường trong tạo giống cà chua
với những tính trạng di truyền chất lượng (chọn giống chống bệnh dọc: héo
Fusarium, tuyến trùng, phấn trắng...) ở nhiều công ty giống (Monsanto, Syngenta,
Sakata...). Rất ít sử dụng MAS để chọn lọc các tính trạng di truyền số lượng. Mặc
dù MAS thể hiện nhiều thuận lợi nhưng vẫn bộc lộ một số khó khăn sau:
+ Chi phí nghiên cứu phát triển, đánh giá chỉ thị cao
+Không sẵn có các chỉ thị liên kết chặt với tính trạng mong muốn. Các chỉ
thị liên kết kém sẽ xuất hiện tần số trao đổi chéo lớn, chọn lọc kém chính xác.
+Không sẵn có các chỉ thị phân tử dựa trên PCR. Các chỉ thị RFLP và
AFLP không có tác dụng trong hầu hết các chương trình chọn giống.
2.5. Chỉ thị phân tử trong chọn giống chống chịu bệnh sương mai
Chunwongse và cs (2002) đã sử dụng quần thể F2 của cặp lai CLN657
(nhiễm bệnh) x L3708 (kháng bệnh) để khảo sát 120 mồi AFLP cho thấy 5
mồi có band đặc trưng cho nguồn gene kháng bệnh và 1 mồi có band liên
quan đến nguồn gene nhiễm bệnh. Cũng trong nghiên cứu này đã xác định
được 1 chỉ thị RFLP là TG591 (LOD =18,41) nằm trên nhiễm sắc thể 9 liên
kết với gene Ph3 (hình 7).