Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở việt nam - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------

NGUYỄN HỮU PHÚC

NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM DIOXIN
DO CHIẾN TRANH TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TỒN LƯU Ô NHIỄM
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng
TS. Nguyễn Anh Tuấn

Thái Nguyên, năm 2012


i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự
giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp. Trước
hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản
lý đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn
Anh Tuấn đã hết lòng tận tụy hướng dẫn tôi thực hiện đề tài đã giúp đỡ tôi hoàn thành
tốt đề tài của mình.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiên, động

iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................................... 2
3. Yêu cầu ........................................................................................................................... 3
4. Ý nghĩa của đề tài .......................................................................................................... 3
Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................... 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ......................................................................................... 4
1.2. Cơ sở pháp lý .............................................................................................................. 5
1.3. Cơ sở lí luận ................................................................................................................ 6
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ................................ 16
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ................................................................. 16
1.4.2. Tình hình nghiên cứu trong nước ................................................................... 19
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 24
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 24
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 24
2.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................................... 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 24
Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................... 27
3.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu ... 27
3.1.1. Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam ................................ 27
3.1.2. Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa ........ 33
3.2. Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ............................................. 38
3.2.1. Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường ..................................................... 38


iv



BVTV

: Bảo vệ thực vật

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CP

: Chính phủ

EPA

: Environment program of America

ER

: Estrogen Receptor

FAO

: Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc

GEMS

: Hệ thống chương trình giám sát đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu

HxCDD

: Hexa chloro dibenzo dioxin


: Penta chloro dibenzo dioxin

PCP

: Penta chloro phenol

PCDFs

: Polycholro dibenzo furans

PCDDs

: Polycholro dibenzo dioxins

PeCDF

: Penta cholro dibenzo furan

PCBs

: Poly chlorbiphenyls

POPs

: Persittant organic pollutants

PVC

: Poly vinyl chlororua



TW

: Trung ương

UB 10 – 80

: Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất hóa học trong chiến tranh

UNDP

: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc

UNEP

: Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

UNESCO

: Tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc

VN

: Việt Nam

WHO

: Tổ chức Y tế Thế giới



Bảng 3.11. Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô
nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay
Biên Hòa ...........................................................................................................51


viii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin ................................................ 7
Hình 1.2. Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD ............................................... 9
Hình 1.3. Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor .................................................... 13
Hình 1.4. Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào .................................................. 13
Hình 3.1. Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam ..................... 28
Hình 3.2. Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác
giả ............................................................................................................ 31
Hình 3.3. Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ
và trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt
Nam 1961 -1971 ...................................................................................... 34
Hình 3.4. Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát
quang tại sân bay Đà Nẵng ...................................................................... 35
Hình 3.5. Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua
sân bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam ........................................ 38
Hình 3.6. Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD,
PCDF, WHO - TEQ ............................................................................... 41
Hình 3.7. Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay
đổi nồng độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng ................ 42
Hình 3.8. Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường ........ 53


1


2

và những lý do khác có liên quan, cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định được
chính xác số lượng người bị phơi nhiễm dioxin trong chiến tranh Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với nhiều cơ quan khác
nhau có liên quan trong và ngoài nước tiến hành các nghiên cứu với mục đích xác
định mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin; tác động sinh thái và đề xuất các biện pháp
ngăn chặn sự lan truyền trong môi trường cũng như xử lý triệt để các điểm tồn lưu ô
nhiễm dioxin với nồng độ cao.
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy giải quyết các vấn đề liên quan đến tồn lưu ô
nhiễm dioxin là vấn đề đặc biệt phức tạp. Đánh giá mức độ ô nhiễm, xác định mức
độ ảnh hưởng, rủi ro sinh thái và tác động đến sức khỏe con người là cơ sở đặc biệt
quan trọng đối với hoạt động phòng ngừa, cải thiện ô nhiễm, xử lý triệt để - phục
hồi môi trường và hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của dioxin đối với con người.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đủ các điều kiện đáp ứng được những yêu cầu,
cần thiết về trang thiết bị, nguồn lực,...để phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề
liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin do vậy những dữ liệu khoa học mà chúng ta có
được vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí để quốc tế công nhận. Vì vậy, để đáp ứng
những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô
nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và
đóng vai trò vị trí, quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục ô
nhiễm, giảm thiểu rủi ro sinh thái, rủi ro cho sức khỏe của con người cũng như giải
quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám
hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được
sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thế Hùng và TS. Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến
tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu

* Khái niệm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [11].
Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “ toàn bộ các hệ thống tự nhiên và
các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và
bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm
thỏa mãn những nhu cầu của con người”.
* Một số khái niệm liên quan
Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 [11], các khái niệm về ô
nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và chất thải được trình bày như sau :
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường, không
phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành
phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Tồn lưu ô nhiễm môi trường:
Theo định nghĩa của Bộ Môi trường New Zealand: “Điểm ô nhiễm
(contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó chất nguy hại xuất hiện ở nồng
độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro
trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và môi trường”
Theo nhóm Quản lý tồn lưu ô nhiễm của Canada thì “Điểm ô nhiễm tồn lưu là
vị trí/khu vực mà chất ô nhiễm xuất hiện ở nồng độ cao hơn nồng độ thông thường
và gây ra, hoặc có thể gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn
hoặc dài hạn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc vượt quá tiêu chuẩn cho
phép trong luật”


5

đất nước;


6

- Căn cứ luật BVMT 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2006;
- Căn cứ Quyết định số 33/1999/QĐ - TTg ngày 01 tháng 3 năm 1999 của Thủ
tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất
độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Quyết định số 67/2004/QĐ - TTg ngày 27 tháng 4 năm 2004 của Thủ tướng
Chính phủ về kế hoạch hành động giai đoạn 2004 - 2010 khắc phục hậu quả chất
độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Quyết định số 251/2005/QĐ - TTg ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ về kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc
hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Căn cứ Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 theo Quyết định số 256/2003/QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2003 của
Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Quyết định 184/2006/QĐ - TTg về việc thực hiện Công ước
Stockholm tại Việt Nam về quản lý các hợp chất POPs;
- Căn cứ Kế hoạch số 70 - KH/TU ngày 28 tháng 04 năm 2005, thực hiện
Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước.
1.3. Cơ sở lí luận
* Giới thiệu chung về dioxin
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại
bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác.
Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này, dioxine có

nhau,tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử nà, dioxin
có 75 đồng phân PCDD (poly - chloro -dibenzo - dioxines) và 135 đồng phân PCDF
(poly - chloro - dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau. Dioxine còn bao gồm
nhóm các PCB (poly-chloro-biphenyles), là các chất tương tự dioxin, bao gồm 419
chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm , nhưng chỉ có 17 hợp chất là
độc. Tiêu biểu và độc hại nhất là: dioxin 2,3,7,8 -tetra-clorodibenzen-p-dioxin, viết
tắt là 2,3,7,8 –TCDD [20]. Đối với môi trường đất thì chu kỳ bán hủy của dioxin
trong đất là khoảng 10 năm. Theo những nghiên cứu của D.Pautenbach (1992) và
R.Puri (1989,1990), trên lớp đất bề mặt thì chu kỳ bán hủy của dioxin dao động
trong khoảng từ 9 đến 25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn thì chu kỳ đó dao động
trong khoảng từ 25 đến 100 năm [23]. Dioxin khó tan trong nước nên hầu như được
đi vào cơ thể con người qua chuỗi thức ăn. Dioxin tan một phần trong chất béo
(dung môi ko phân cực hoặc ít phân cực) và tan mạnh trong các dung môi hữu cơ
như dầu hỏa, diezen... Chúng gắn với các chất hữu cơ và được hấp thụ vào mô mỡ
của tế bào sinh vật. Khi đã vào cơ thể con người dioxin nhanh chóng gắn với những
phân tử protein trong màng tế bào. Sau khi kết hợp với các thụ thể này dioxin nhanh
chóng được di chuyển và bào tương và nhân tế bào. Theo các quá trình sinh lý, hóa
sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thì dioxin tích lũy và tồn lưu trong thời gian dài.
Dioxin có áp suất bay hơi rất thấp, chỉ bằng 1,7.10-6 mmHg ở 25oC, dioxin có điểm
nóng chảy cao khoảng 305oC và khả năng tan trong nước khoảng 0,2 µg/l. Về mặt ổn
định nhiệt thì hợp chất này ổn định nhiệt đến khoảng 750oC. Ngưỡng nhiệt độ để
phân hủy hoàn toàn dioxin khoảng 1000 - 1300 oC.
* Nguồn phát thải dioxin
Đầu thế kỷ 20, khi công ty Dow Chemical Midland ở Mỹ thành công trong
việc nghiên cứu và tách chiết khí clo từ dung dịch muối ăn. Từ thời điểm đó clo đã
được sử dụng để tổng hợp nên các loại hóa chất như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,
các hợp chất dẻo-polyvinyl. Việc tổng hợp thành công và đưa vào sử dụng những
hợp chất này được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại thời điểm
đó. Trong các hợp chất là thuốc diệt cỏ thì dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước


Thứ hai, dioxin hình thành trong lò thông qua các phản ứng hóa học giữa các
hợp chất hydrocacbon có cấu trúc nhân thơm với các hợp chất có chứa clo.
Thứ ba, phản ứng tổng hợp từ dầu hình thành dioxin từ carbon đơn giản và
clo vô cơ, đây thực chất là quá trình phân nhỏ và biến đổi của các phân tử có cấu
trúc carbon lớn sang các hợp chất vòng (aromatic) [26].
- Các quá trình công nghiệp khác: Một số ngành công nghiệp khác có khả
năng phát thải ra dioxin là các ngành công nghiệp ximăng - tận dụng các nguyên
liệu đốt như dầu cặn, dầu thải, vỏ lốp xe...; dệt nhuộm và may mặc - do sử dụng các
hóa chất nhuộm đa số có chứa các nhóm chức hữu cơ và các công đoạn tẩy trắng
thường sử dụng hóa chất tẩy có chứa clo; ngành công nghiệp sản xuất giấy - quy
trình sản xuất giấy sử dụng hợp chất chlorophenols, hợp chất này được coi là chất
tiền dioxin.
* Sự tồn tại, phân bố và lan truyền của dioxin trong môi trường
Các hợp chất POPs nói chung và dioxin nói riêng, khi tồn tại trong môi
trường, chúng dễ dàng luân chuyển giữa không khí, đất và nước.
Trong môi trường không khí, dioxin tồn tại ở cả 2 trạng thái: hơi (pha khí) và
hấp phụ vào các hạt rắn (pha rắn) lơ lửng trong không khí. Trong môi trường nước,
dioxin được gắn vào các hạt rắn lơ lửng và các hạt trầm tích. Sự phân bố dioxin
giữa các môi trường không khí, đất và nước không ổn định. Như vậy, có thể thấy do
khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,2 microgram/lít) cho nên trong môi
trường dioxin chủ yếu tồn tại ở pha rắn và pha khí.
Các hợp chất dioxin di chuyển vào không khí do sự phát thải trực tiếp hoặc do
sự phát tán bụi từ mặt đất. Sau một thời gian dioxin sẽ được đưa trở lại đất và nước
bởi sự lắng đọng qua bụi, mưa và tuyết. Trong nước, dioxin có thể được di chuyển
bởi dòng nước, tích lũy ở trầm tích hoặc đáy các thủy vực hoặc gắn với các phần tử
lơ lửng trong nước, một phần bay hơi vào không khí.
Do có tính tương thích cao với các chất hữu cơ nên dioxin sẽ tập trung chủ
yếu ở các khu vực có hàm lượng hữu cơ cao. Hàm lượng clo trong phân tử càng
cao thì càng dễ phân bố vào trong đất, trầm tích và chất hữu cơ. Tính tương thích
với các hợp chất hữu cơ của dioxin tăng lên khi số lượng nguyên tử clo trong

Trong môi trường không khí, tương tự như các hợp chất POPs khác dioxin tồn tại
chủ yếu ở hai pha là pha khí (dạng hơi) và pha rắn (bám vào các hạt bụi) có trong môi
trường không khí. Một ví dụ cụ thể liên quan đến ô nhiễm dioxin trong môi trường
không khí là: Vào năm 1976, một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy hóa chất
ở Seveso, Ý, tai nạn này đã làm cho một lượng lớn dioxin được phát tán vào môi
trường không khí, tạo nên đám mây hóa chất độc hại với thành phần chủ yếu là 2,3,7,8Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, gây ô nhiễm một diện tích khoảng 15 km2, ảnh hưởng
đến 37000 người [17]. Đây được xem là thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trong
lịch sử nước Ý.


12

* Ảnh hưởng của dioxin đến con người và động vật
Dioxin có khả năng di chuyển và tích lũy trong thực phẩm, quá trình đó còn
làm gia tăng các hiệu ứng sinh học của dioxin trong chuỗi thức ăn. Thông qua chuỗi
thức ăn, dioxin sẽ được tích lũy với khả năng khuyếch đại theo cấp số nhân ở các
bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn. Đối với cơ thể động vật và con người,
dioxin có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, nhau thai và
sữa mẹ [24]. Tuy nhiên, đối với thực vật thì rất hiếm khi phát hiện thấy sự có mặt của
dioxin trong thực vật do đặc tính ít hòa tan trong nước và vì thế không thể hút lên bởi
hệ rễ ở thực vật.
Trong cơ thể động vật và con người, khi xâm nhập vào cơ thể do đặc tính
tương thích với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin chủ yếu tồn tại ở dạng tích lũy
tại các mô mỡ [37]. Tiếp xúc với dioxin ở nồng độ cao có thể gây tổn thương da và
thay đổi chức năng gan ở người. Tiếp xúc trong thời gian dài gây nên các thay đổi
đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, các hệ thống của tuyến nội tiết và ảnh
hưởng tới hệ thống cũng như chức năng sinh sản. Do tính chất dễ tan trong các mô
mỡ cho nên khi xâm nhập vào cơ thể bằng con đường tiêu hóa, hô hấp dioxin dễ
dàng thấm qua màng ruột và phổi vào hệ tuần hoàn; tuy nhiên thời gian tồn lưu của
dioxin trong máu tương đối ngắn do máu sẽ trực tiếp đưa dioxin đến các mô mỡ của

Miền Bắc Việt Nam

168

1,2 - 2,9

12,0 - 18,0

Miền Trung Việt Nam

490

2,9 - 19

23 - 118

Miền Nam Việt Nam

2062

1,0 - 33

8,7 - 105

(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
Đối với hệ thống di truyền ở cơ thể động vật nói chung thì một thí nghiệm trên
chuột cho thấy: dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào, đây chính là
nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc tế bào, hủy hoại các protein quan trọng
và có thể gây nên đột biến gen trên phân tử ADN. Đối với hoocmon sinh dục nữ thì
dioxin liên kết với các thụ thể ER là thụ thể hoocmon sinh dục nữ làm rối lọan chức


Non – Hodgkin’s lymphoma

3

U lympho Hodgkin

Hodgkin’s disease

4

Ung thư phế quản - phổi

Lung and Bronchus cancer

5

Ung thư khí quản

Trachea cancer

6

Ung thư thanh quản

Larynx cancer

7

Ung thư tiền liệt tuyến


Bệnh đái tháo đường type 2

Type 2 Diabetes

14

Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm

Porphyria cutanea tarda

15

Các bất thường sinh sản

Unusual births

10

16
17

Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa
học/dioxin)
Rối loạn tâm thần

Mental disorders

(Nguồn: Bộ Y tế, 2008)
Các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con

1

1,2,3,7,8-PeCDD

0,5

Non-ortho PCBs

1,2,3,4,7,8-HxCDD

0,1

PCB 77

0,0001

1,2,3,6,7,8-HxCDD

0,1
PCB 81

0,0001

PCB 126

0,1

PCB 169

0,01


0,0005

2,3,4,7,8-PeCDF

0,5

1,2,3,4,7,8-HxCDF

0,1

PCB 118

0,0001

1,2,3,6,7,8-HxCDF

0,1

PCB 123

0,0001

1,2,3,7,8,9-HxCDF

0,1

PCB 156

0,0005


Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng
định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì
không gây ung thư. Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù
lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư. Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã
ban hành danh mục các bệnh có liên quan đến dioxin nhằm phục vụ công tác giải
quyết hậu quả do chiến tranh hóa chất tại mà quân đội Mĩ tiến hành tại Việt Nam
(1961 -1971). Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy
hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không
Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng
trí tuệ, chửa trứng (ở nữ)... Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ
thể người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết. Thời gian bán phân huỷ
của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn. Thông thường,
dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm
có tên là AhR (Aryl hydrocarbon Receptor). Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với
protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân
tế bào [13]. Tại đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế
bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin
làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào. Điều này, có thể là làm phá huỷ
các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột
biến trên phân tử AND [25]. Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề
chính sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về dioxin tổ chức tại Berlin, 2004,
nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức đã đưa ra kiến nghị không có
mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép. Theo WHO thì mức
phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg đương lượng độc
(TEQ)/ngày [38].
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu về dioxin đã được tiến hành rất nhiều trong thế giới về đặc
tính, mức độ phơi nhiễm, ảnh hưởng phơi nhiễm, đánh giá rủi ro môi trường... Do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status