Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008 của một số nước trên thế giới và đánh giá gói kích cầu của việt nam - Pdf 35

GVHD: Thạc sỹ Trần Mạnh Kiên

TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008
của một số nước trên thế giới
và đánh giá gói kích cầu của Việt Nam.

1


LỜI MỞ ĐẦU
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, kinh tế thế giới đã xảy ra nhiều cuộc khủng
hoảng tài chính – kinh tế: cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, khủng hoảng nợ
Mỹ-La tinh 1980, khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đông Á 1997, và mới nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu bủng nổ giữa tháng 9 năm 2008. Diễn biến, nguyên
nhân và tác động của khủng hoảng này là việc do vay mua nhà dưới chuẩn có độ rủi
ro cao và nguyên nhân sâu xa là sự tích tụ trong nhiều năm các mâu thuẫn, mất cân
đối nội tại của nền kinh tế Mỹ cùng với sự lỏng hoạt động tín dụng của ngân hàng
thương mại. Cuộc khủng hoảng bùng nổ và lan nhanh trên toàn cầu khiến các nền
kinh tế lần lượt rơi vào suy thoái, khiến hàng loạt các vần đế yếu kém và tồn tại của
nền kinh tế thế giới được bộc lộ ra ở phạm vi quốc gia và toàn cầu. Nếu cuộc khủng
hoảng tài chính Đông Á 1997-1998 là khủng hoảng cơ cấu mang tính chất khu vực
thì vào thời điểm thì cuộc khủng hoảng lần này đã mang một mức độ trầm trọng và
sâu rộng hơn trong bối cảnh toàn cầu, và không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi lĩnh
vực tài chính ngân hàng mà đã lan sang các ngành sản xuất, dịch vụ và tác động trên
quy mô toàn cầu. Trầm trọng hơn thế, thế giới không chỉ đối mặt với cuộc khủng
hoảng tài chính mà lần này còn phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng khác, đó
khủng hoảng năng lưởng, khủng hoảng khí hậu và khủng hoảng lương thực. Cuộc
khủng hoảng đã và vẫn còn đang để lại nhưng hậu quả tất yếu của nó: kinh tế thế
giới suy giảm, hệ thống tài chính- tiền tệ bất ổn, xuất hiện làn sóng phá sản hàng

* Gói lần 1 (Tổng thống Geogre W.Bush 2008)
Cuối năm 2007, nền kinh tế Mỹ đã có những dấu hiệu của sự suy thoái và
nhiều dự báo cho rằng năm 2008 sẽ là một năm thực sự đầy khó khăn và biến động
với Mỹ. Và thực tế điều đó đã xảy ra sớm hơn !
Đầu năm 2008, sự đi xuống của nền kinh tế dẵ buộc Chính phủ Mỹ phải đưa
ra gói kích vầu tổng hợp. Ngày 13/02/2008 Tổng thống Mỹ Grogre W.Bush đã ký
Đạo luật kích cầu kinh tế năm 2008 ( Economic Stimulus Act of 2008), đó là một
gói kích cầu trị giá 168 tỷ USD chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân.
Gói kích cầu lần này gồm một số nội dung chủ yếu:
-

Hoàn thuế cho các cá nhân nộp thuế ( khoảng 300 USD/người ở mức thu
nhập thấp);
Trợ cấp cho trẻ em dưới 17 tuổi (300 USD/ trẻ em);
Ưu đãi về thuế đối với các doanh nghiệp;
Ưu đãi cho phép khấu hao nhanh cho các doanh nghiệp;
Hỗ trợ cho người gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn.

Trước tình hình khủng hoảng tài chính ngày càng trầm trọng đã ép chính
quyền Bush phải thông qua Quốc Hội nhanh chóng thông qua gói giải cửu trị giá
700 tỷ USD vào ngày 03/10/2008 nhằm kích thích tiêu dùng người dân, qua đó vực
dậy nên kinh tế.
* Gói lần 2 (Tổng thống Barack Obama 2009)
Ngay tử khi chưa chính thức nhậm chức, Tổng thống đắc cử Obama đã đưa
ra gói kích cầu của mình để giúp Mỹ thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Ngày 17/2/2009,
Barack Obama đã đặt bút ký Đạo luật phục hồi và tái đầu tư đất nước Mỹ năm 2009
( American Recovery and Reinvestment Act of 2009), phê duyệt gói cứu trợ không
lồ, gói kích cầu lớn nhất lịch sử nước Mỹ trị giá 787 tỷ USD gồm những nội dung
chủ yếu:
- Cắt giảm thuế (288 tỷ USD): trọng tâm là giảm thuế thu nhập 400 USD

hợp hơn (Anh, Ý, Pháp, Đức …), còn một số nước thì mong muốn có những kích
cầu chung nhẹ hơn do kinh tế vẫn có thể tăng trưởng ( như Ba Lan, Slovakia,
Romania, Bulgaria).
Gói kích cầu của EU trị giá 200 tỷ EUR chiếm gần 1,5% GDP khối EU gồm
các giảm thuế và chi tiêu công. Có thể thấy rõ sự suy thoái của EU nghiêm trọng
hơn cả Mỹ bởi nên kinh tế EU dựa dẫm vào các ngân hàng quá nhiều, do đó gói cứu
trợ cũng sẽ chủ yếu quốc hưu hóa các ngân hàng bị phá sản.
Ngoài các biện pháp tổng thể, đối với một số nước có nguy cơ suy thoái nặng
đã đưa ra có gói cứu riêng cho mình:
-

Quốc hội Đức thông qua hai gói kích cầu trị giá 32 tỷ EUR và 60 tỷ EUR
từ tháng 11/2008
Cùng thời điểm, Chính Phủ Ý đưa ra gói 80 tỷ EUR
Tháng 12/2008, Pháp cũng công bố gói 26 tỷ EUR chủ yếu tập trung cho
cơ sở hạ tầng.
Chính phủ Hà Lan đưa ra gói 6 tỷ EUR
Gói kích thích kinh tế Anh trị giá 20 tỷ GBP

1.3 Giải pháp của Nhật Bản
Nền kinh tế thứ hai thế giới cũng là nền kinh tế lớn nhất châu Á đã sụt giảm
2,4% trong quý III/2008 – mức sụt giảm lớn nhất kể từ năm 2001. Nhằm khôi phục
tình hình kinh tế và tài chính khó khăn, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra các biện
pháp khẩn cấp và táo bạo nhằm hỗ trợ cuộc sống của người dân, cắt giảm thuế, hổ
trợ doanh nghiệp… Tổng gói kích cầu của nhật lên tới 43000 tỷ JPY đã được thông
qua vào ngày 19/12/2008, gồm các nội dung chủ yếu:
* Chính sách hỗ trợ tài chính:
-

-

6/3/2009 có thể coi la nỗ lực “vượt bậc” của thủ tướng Taro Aso. Giải pháp này đã
gây tranh cãi, nhiểu người tin rằng dù số tiền là quá lớn nhưng cũng không đủ lớn
để tạo được một làn sóng tâm lý cần thiết để đưa tiêu dùng nước Nhật tăng lại.
Trước nhiều sức ép, ngày 9/4/2009, Chình phủ Nhật Bản công bố gói kích
thích kinh tế kỷ lục 15.400 tỷ JPY, tương đương 3% GDP. Đến cuối tháng 4/2009,
nền kinh tế “chạm đáy” của Nhật đã có dấu hiệu phục hồi, tốc độ phục hồi hiện nay
đã bằng 170% GDP, thuộc loại cao nhất thế giới.
1.4 Trung Quốc với gói kích cầu khác biệt
Nền kinh tế lớn thứ ba thế giới củng không thể thoát được vòng xoáy của suy
thoái kinh tế toàn cầu. Ngày 9/11/2008, Chính phủ Trung Quốc cũng đã tung ra gói
kích cầu trị giá 4000 tỷ CNY (tương đương 586 tỷ USD), tương đương 13% GDP
và được thực hiện trong vòng 2 năm với 3 mục tiêu cơ bản: duy trì tăng trưởng, điều
chỉnh cơ cấu nền kinh tế và mở rộng nhu cầu nội địa song song với thúc đầy mở
rộng thị trường xuất khẩu ra bên ngoài. Nhưng biện pháp này được chia thành 10
nhóm giải pháp theo phương châm 16 chữ “ Ra tay phải nhanh, Ra đòn phải mạnh,
Biện pháp chuẩn xác, Công tác phải thực”và đặt trọng tâm mạnh vào doanh nghiệp
vừa và nhỏ, các doanh nghiệp tư nhân, đầu tư mạnh vào nông thôn để tạo việc làm.
10 nhóm giải pháp của Trung Quốc được Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện
Trung Quốc đề ra rất đồng bộ, kịp thời và có mục tiêu rõ ràng. Nội dung của gói
kích cầu gồm 10 nhóm giải pháp sau:
-

Nhanh chóng xây dựng những công trình an sinh an cư mang tính an
sinh;
Nhanh chóng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn;
Nhanh chòng xây dựng các dự án cơ sở hạ tấng lớn và quan trọng;
Đẩy nhanh các dự án về y tế chữa bệnh, văn hóa và giáo dục;
Tăng cường xây dựng môi trường sinh thái;
Nhanh chóng điều chỉnh kết cấu kinh tế và tự chủ sáng tạo;
5

các chuyên gia kinh tế bơi những thông tin cho biết nền kinh tế nước này về mặt kỹ
thuật đã không bị rơi vào suy thoái và tiến trinh hồi phục kinh tế của Hàn Quốc tốt
hơn nhiều so với dự đoán. Theo dự đoán của IMF vào tháng 5/2009, Hàn Quốc sẽ là
quốc gia thoát khỏi cuộc suy thoái kinh tế nhanh nhất trong 6 nền kinh tế phát triển
nhất châu Á (NIEs).
Ngày 03/11/2008, Chính phủ Hàn Quốc công bố kế hoách kích thích kinh tế
có gói trị giá ít nhất 14.000 tỷ KRW( khoảng 11 tỷ USD). Ngày 24/3/2009 Hàn
Quốc lại thông qua gói ngân sách bổ sung chưa từng có trong lịch sử trị gia tới
28.900 tỷ KRW ( khoảng 21 tỷ USD) nhằm ngăn chặn đà suy thoái, tạo việc làm
mới và kích thích kinh tế, đây là gói bô sung cao nhất trong khu vực. Theo Bộ kinh
tế Hàn Quốc, trong vòng 5 năm tới, họ sẽ đầu tư thêm 97.800 tỷ KRW (71,2 tỷ
USD) vào 3 lĩnh vực công nghiệp then chốt là công nghệ xanh, công nghệ cao và
ngành có giá trị gia tăng .
2. GÓI KÍCH CẦU PHỤC HỒI KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC TÁC ĐỘNG
CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU
2.1 Bài học kinh nghiệm với Việt Nam
* Hợp tác quốc tế cùng hành động để vượt qua cuộc khủng hoảng: cuộc
khủng hoảng xãy ra không chỉ riêng đối với quốc gia nào và cũng sẽ chẳng có quốc
6


gia nào có thệ tự mình vượt qua tất cả tác động của cuộc suy thoái, bởi tác động của
nó là không biên giới, nó luôn lan rộng và kết dính mọi quốc gia bằng thứ keo “suy
thoái chung”. Những bài học từ việc bỏ qua những bất đồng để có thể cùng hợp tác
phát triển giữa Nhật Bản và Trung Quốc, ASEAN cùng nhau quyết tâm vượt khủng
hoảng, sự thành công của hội nghị G20 tổ chức tại Anh ( 2- 3/4/2009) và tại Mỹ
(11/2008),… sẽ giúp Việt Nam hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc đoàn kết cùng
nhau chống khủng hoảng và hiểu hơn về vị trí của mình trong quan hệ quốc tế.
* Từ những thực tế trên thế giới, từ những gói kích cầu của các nước, nhìn
chung chúng ta có thể chia các biện pháp kích cầu thành các nhóm:

-

Thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu (vốn, thị trường, tỷ giá, thuế, cơ cấu …)
Kích cầu đầu tư và tiêu dùng.
Thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ.
Thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Nâng cao chất lượng dự báo trên từng lĩnh vực, tạo điều kiện cho đầu tư,
kinh doanh phát triển.

* Kích cầu ban đầu – 1 tỷ USD liệu có “đủ đô”?
Tại phiên họp 1/2009, Chính phủ đã quyết định sự dụng 17.000 tỷ đồng từ dự
trữ ngoại hối để kích thích sản xuất thông qua việc giảm 4% lãi suất vay ngân hàng
cho các doanh nghiệp. Chương trình hỗ trợ lại suất này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp
7


dễ dáng đầu tư, tiếp cận với các ngân hàng với chi phí hợp lý, tạo điều kiện cho các
tổ chực tín dụng mở rộng hoạt động huy động vốn và cung ứng vốn. Quyết định
trên gồm một số nội dung:
-

Thời gian hỗ trợ tối đa là 8 tháng đối với các khoản tín dụng được ký kết
và giải ngân trong khoảng thời gian từ 1/2 đến 31/12/2009.
Mức hỗ trợ lãi suất cho khách hàng vay là 4%/năm. Khi thu lãi vay, các
NHTM giảm trừ số tiền lãi phải trả cho khách hàng vay.
Các ngành, lĩnh vực không thuộc đối tượng hỗ trợ lãi suất:
• Khai thác mỏ
• Hoạt động tài chính
• Quãn lý Nhà nước, an ninh quốc phòng
• Giáo dục đào tạo

nguồn vốn. Tại thời điểm hiện nay, theo tôi cần đầu tư theo trọng điểm và dồn sức

8


cho lĩnh vực đó, sau đó nhân rộng mô hình cho các lĩnh vực khác, sẽ hiệu quả hơn
là đầu tư, hỗ trợ tràn lan, thiếu trọng tâm như hiện nay.”
* Chính thức công bố gói kích cầu trị giá 8 tỷ USD
Đến ngày 12/05/2009 Bộ kế hoạch và Đầu tư đã chính thức công bố gói kích
cầu trị giá 8 tỷ USD, được chia thành 8 phần có giá trị khác nhau, bào gốm những
khoản sử dụng cho năm 2009 và một số khoản chi cho năm 2010.
Nội dung gói kích cầu 8 tỷ USD của Việt Nam
Đơn vị: tỷ đồng
T
T

Danh mục

Giá trị

1

Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng

17.000

2

Tạm hoàn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước năm
2009


(4.2) Vốn trái phiếu Chính phủ

7.700

5

Phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ 2009

20.000

6

Thực hiện chính sách miễn, giảm thuế

28.000

7

Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

17.000

8

Các khoản chi kích cầu khác nhắm ngăn chặn suy giảm kinh tế,
đảm bảo anh sinh xã hội

7.200


“trúng”
3. ĐÁNH GIÁ GÓI KÍCH CẦU CỦA VIỆT NAM
3.1 Hiệu quả tích cực của gói kích cầu

Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài
trợ cho Việt Nam (tháng 12/2009), khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho nền
kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong năm 2009, đặc biệt vào quý I năm 2009.
Trong quý này, GDP chỉ tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2008. Tuy nhiên, những dấu
hiệu phục hồi ủa nền kinh tế thể hiện rõ trong quý II. Kết quả là GDP tăng 4,5%
trong quý II và 5,8% trong quý III, nâng tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm
2009 lên 4,6% so với cùng kỳ năm 2008.
Theo Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam của Tổng cục Thống kê,
Việt nam đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu tốt hơn nhiều nước khác.
Cụ thể: GDP tăng 5,3% trong năm 2009 trong đó quý IV đã đạt mức 6,9%. Lạm
phát đã giảm từ 19,9% năm 2008 xuống còn 6,5% năm 2009. Quý I/2010 nền kinh
tế Việt Nam vẫn tiếp tục đà phục hồi của những quý cuối năm 2009 với tốc độ tăng
tổng sản phẩm trong nước đạt 5,83%, gấp gần 1,9 lần tốc độ tăng trong quý I/2009.
GDP quý II tăng 6,2-6,4%, tạo nên mức tăng trưởng kinh tế 6 tháng đạt khoảng
6,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tóm lại, không thể phủ nhận rằng gói kích cầu thứ nhất đã có những tác
động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam năm 2009, đã bắt đầu có những tín hiệu lạc
quan, góp phần đưa Việt Nam sớm thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế.
3.2 Tác động tiêu cực của gói kích cầu
Bên cạnh những dấu hiệu khả quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tiềm ẩn
nhiều nguy cơ. Xuất khẩu năm 2009 giảm, thâm hụt thương mại lên đến 12 tỷ USD,
giá trị đồng Việt Nam suy giảm mạnh. Có thể thấy rằng trong thời gian qua chính
sách kích cầu của Chính phủ chưa thật sự tác động mạnh đến hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp (đặc biệt là các DN vừa và nhỏ) bởi còn có một số
hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này. Sau đây là 10 vấn đề của gói kích cầu thứ
nhất:

khoản hỗ trợ 17.000 tỉ đồng được phân bổ làm ba phần, trong đó một phần đúng là
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh được nhận, một phần khác do chính các ngân
hàng được hưởng, và phần còn lại là mất mát vô ích (dead weight loss).
Vấn đề thứ năm, gói kích cầu có thể tạo ra cạnh tranh không lành mạnh, bất
bình đẳng giữa các DN. Chính sách hỗ trợ lãi suất 4% có thể tạo ra sự bất bình
đẳng, cạnh tranh không lành mạnh giữa các Doanh nghiệp do khả năng tiếp cận
nguồn vốn được hỗ trợ lãi suất của các Doanh nghiệp không đồng đều. Báo cáo của
NHNN cho thấy, tính đến cuối năm 2009, chỉ có khoảng trên 20% trong tổng số
doanh nghiệp, tức khoảng 78.000 trong tổng số khoảng 390.000 doanh nghiệp tiếp
cận được vốn hỗ trợ. Lý do là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là doanh
nghiệp nhỏ thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và đáp ứng các
yêu cầu về thủ tục để được nhận vốn.
Vấn đề thứ sáu, Gói hỗ trợ lãi suất 4% có thể dẫn đến sự suy giảm khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam do chi phí vốn không được tính đúng và
đầy đủ. Mặt khác, các hỗ trợ về thuế, một hình thức bảo hộ sản xuất trong nước
cũng là một nguyên nhân làm suy giảm khả năng cạnh tranh của DN trong nước so
với các DN nước ngoài.
Vấn đề thứ bảy, dòng vốn kích cầu có thể bị lái vào đầu cơ bong bóng chứng
khoán hoặc bất động sản, điều này có thể là một nguy cơ dễ xảy ra, cũng bởi do tình
trạng bất cân xứng về thông tin và cũng có thể là bởi chính hành vi trục lợi có thể
11


xảy ra ở ngay tại các tổ chức tài chính, do thiếu sự giám sát chặt chẽ. Thị trường
chứng khoán Việt Nam năm 2009 tăng trưởng khá ngoạn mục, với mức tăng bình
quân cả năm vào khoảng 40%. Từ đầu năm 2010 đến nay, mặc dù nền kinh tế Việt
Nam đã có những dấu hiệu tăng trưởng khả quan, thị trường chứng khoán khá trầm
lắng. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do gói kích cầu thứ nhất
đã kết thúc, dòng tiền vào thị trường chứng khoán sụt giảm.
Vấn đề thứ tám, chính sách kích cầu không trực tiếp giúp giải quyết khó

người tiêu dùng có thể rất khác so với tính toán của các nhà làm chính sách. Bên
cạnh chính sách giảm và hoàn 90% thuế VAT cho doanh nghiệp, Chính phủ còn
giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp trong quý 4/2008 và cả năm 2009, đồng thời
giãn thuế trong thời gian 9 tháng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh chính
sách giảm và hoàn 90% thuế VAT cho doanh nghiệp, Chính phủ còn giảm 30% thuế
thu nhập doanh nghiệp trong quý 4/2008 và cả năm 2009, đồng thời giãn thuế trong
thời gian 9 tháng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặc dù chính sách này không
12


trực tiếp giải quyết được vấn đề cơ bản của doanh nghiệp là thiếu đầu ra cho sản
phẩm nhưng đây vẫn là một chính sách được cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh
vì nhờ nó doanh nghiệp giảm được chi phí.
- Về chính sách tiền tệ:
Ngân hàng Nhà nước đã chủ động tăng tỷ giá USD/VND và hạ lãi
suất cơ bản. Đây là những chính sách rất đúng hướng, vừa góp phần
giảm chi phí vốn vay cho doanh nghiệp vừa giúp cải thiện cán cân
ngoại thương.
• Ngân hàng Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh
nghiệp cho đến hết năm 2009. Bản chất của việc bù 4% lãi suất là sử
dụng công cụ tài khóa để thực hiện chính sách tiền tệ. Số tiền dùng để
bù 4% lãi suất là từ ngân sách, được Ngân hàng Nhà nước triển khai
thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Có thể nhìn thấy một số
hạn chế tiềm tàng đối với chính sách này. Thứ nhất, chính sách này
không trực tiếp giúp giải quyết khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp
hiện nay là thiếu nhu cầu thị trường. Thứ hai, chính sách này có thể
không đến được những đối tượng cần hỗ trợ, thậm chí có thể hỗ trợ
nhầm đối tượng do tình trạng bất cân xứng về thông tin giữa Ngân
hàng Nhà nước với ngân hàng thương mại và giữa ngân hàng thương
mại với doanh nghiệp.

Nam, có hiểu biết chút ít ỏi về kinh tế, em cũng muốn tìm hiểu rõ hơn về cuộc
khủng hoảng tài chính 2008 “nổi tiếng”, về các bài học kích cầu của các nước trên
thế giới, và từ đó tìm hiểu sâu hơn và nhận thức đúng hơn về gói kích cầu của Việt
Nam. Từ đó để cho chùng ta thấy rõ hơn mặt tiêu cực bên trong mặt tích cực, không
phải gói kích cầu nào cũng hoàn hảo, thậm chí lại xuất hiện nhưng “hệ quả không
lường trước” làm cho gói kích cầu đảo chiều.
Mọi thứ đều không thể hoàn hảo, và bài tiểu luận của em chắc chắn cũng sẽ
như vậy. Những thông tin trong bài tiểu luận này có thể sẽ không chuẩn xác 100%,
những câu văn đôi khi mắc lỗi chính tả, nhưng em tin mình đã có những ngày làm
việc thật sự, từ việc đọc sách, tìm thông tin, đến việc sắp xếp, tổng hợp để có thể
hoàn thành bài tiểu luận “Bàn về các giải pháp chống khủng hoảng tài chính 2008
của một số nước trên thế giới và đánh giá gói kích cầu của Việt Nam.”.
Em luôn mong nhận được những ý kiến chân thành của thầy.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

14


A. Sách và giáo trình tham khảo
1. TS. Nguyễn Đức Hưởng, Khủng hoảng tài chính toàn cầu – Thách

thức với Việt Nam, Nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2010.
2. TS. Phạm Văn Hà, Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2009, Trung

tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Quốc gia Hà Nội, ngày 28/4/2010
3. PGS.TS. Nguyễn Văn Công (chủ biên), Giáo trình Nguyên lý kinh tế

vĩ mô, Nhà xuất bản Giáo dục

11. Bài báo Thận trọng với gói kích cầu 1 tỉ USD, theo Sài Gòn tiếp thị,

ngày 5/12/2008, http://www.vnmedia.vn
12. Theo Lê Châu, bài báo Công bố chi tiết về gói kích cầu 8 tỷ USD,

ngày 14/05/2009, http://vneconomy.vn

15


13. PV Đoàn Trần (thực hiện), bài báo Gói kích cầu 8 tỷ USD được đánh

giá rất “thức thời”, ngày 04/05/2009, http://dantri.com.vn
14. PV Hà Minh, bài báo Gói kích cầu thứ nhất - Khó đánh giá đúng và

đủ, ngày 28 tháng 10 năm 2009, http://www.baokinhteht.com.vn
15. PV Lê Châu, bài báo Hiệu quả gói kích cầu: Quốc hội đánh giá thế
nào, ngày 04/05/2009, http://vneconomy.vn
16. TS. Vũ Thành Tự Anh, PV Tú Uyên, bài báo “Không nên quá kỳ

vọng vào gói kích cầu”, ngày 23/02/2009, http://vneconomy.vn

16


Mục lục

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status