MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRONG TRƯỜNG MẦM NON
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan
trọng thúc đầy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Trong đó,
nhà giáo và quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt giữ vai trò quan trọng.
Trong lịch sử nước ta, “Tôn sư trọng đạo” đó là truyền thống quý báu của
dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến và kính trọng. Những năm
qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý ngày càng
đông đảo, phần lớn có ý thức đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ ngày càng nâng cao. Đội ngũ này đã đóng góp một phần quan trọng
trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần vào sự
nghiệp cách mạng của nước ta.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ nhà giáo còn có những bất cập và hạn chế.
Đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số nói chung và trường Mầm non chúng tôi nói riêng. Chất lượng chuyên môn
nghiệp vụ của một số giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu, còn truyền đạt lý thuyết
nhiều, ít chú ý đến năng lực sáng tạo, kỷ năng thực hành, năng lực tự học của học
sinh. Một số bộ phận nhà giáo còn có những biểu hiện không toàn tâm toàn ý phục
vụ sự nghiệp giáo dục. Thiếu gương mẫu trong đạo đức lối sống, nhân cách đạo
đức nghề nghiệp, chưa làm gương sáng cho học sinh noi theo.
1
Trước tình hình trên, đòi hỏi người cán bộ quản lý phải có giải pháp nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng nhu cầu trước mắt,
- Phương pháp hội thảo;
- Phương pháp tham khảo ý kiến của chuyên gia.
6. Nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về công tác nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên mầm non.
Tìm hiểu, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng của đội ngũ giáo viên
trường mầm non chúng tôi trong thời gian qua.
Phân tích kết quả nghiên cứu và rút ra một số giải pháp cơ bản góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non ở trường chúng tôi.
7. Dự báo những đóng góp của đề tài:
Nếu nghiên cứu thực trạng về đội ngũ giáo viên mầm non một cách nghiêm
túc, đưa ra các biện pháp có tính khả thi sẽ góp phần:
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, phụ huynh và toàn xã hội
biết được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non;
- Giúp giáo viên được bồi dưỡng một cách bài bản, phù hợp khả năng và
năng lực chuyên môn của bản thân, có trách nhiệm, có hứng thú, yêu nghề mến trẻ,
có sáng tạo trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
- Tránh được hiện tượng dạy thêm, học thêm và tránh được dư luận xã hội về
giáo viên mầm non như hiện nay;
3
- Tạo niềm tin cho phụ huynh có con nhỏ dưới 6 tuổi. Tạo sự tin tưởng của
xã hội về Ngành giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng;
- Giúp các nhà quản lý giáo dục biết được thực trạng của đội ngũ giáo viên
mầm non hiện nay để có những giải pháp khắc phục phù hợp, kịp thời.
8. Thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài:
Từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014.
ngày 22 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) và đội ngũ
Hiệu trưởng, Hiệu phó trường mầm non theo Chuẩn hiệu trưởng trường mầm non
(ban hành theo Thông tư số 17/2011/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đảm bảo chất lượng của đội ngũ tương xứng
với trình độ được đào tạo, bồi dưỡng.
Về chính sách đối với giáo viên, nhân viên: Các sở giáo dục và đào tạo tích
cực tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chế độ, chính sách về đào tạo, tuyển
dụng giáo viên, nhân viên (kế toán, văn phòng, y tế, nuôi dưỡng...) các trường mầm
non phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non. Nâng cao hiệu quả
hoạt động của các tổ chức chính trị, đoàn thể để cùng chăm lo bảo vệ lợi ích chính
đáng của giáo viên mầm non, đặc biệt là giáo viên mầm non ngoài biên chế trong
các trường công lập, dân lập, đảm bảo cho giáo viên mầm non được hưởng lương
theo ngạch bậc và nâng lương theo định kỳ.
Rà soát đội ngũ cán bộ quản lý, kịp thời bổ sung ở những nơi còn thiếu. Đảm
bảo cán bộ quản lý, chỉ đạo giáo dục mầm non các cấp có đủ năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, góp phần chỉ đạo triển khai có hiệu quả các nhiệm
vụ chính trị của ngành, thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững cấp học
giáo dục mầm non ở từng địa phương".
1.1.2. Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về giáo dục trẻ em.
6
Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí minh về giáo dục trẻ em được hình thành
trong suốt quá trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam của
Người. Theo quan điểm của Người, trẻ em cũng như mọi tầng lớp nhân dân trong
xã hội phải có quyền được sống, quyền được tự do, học hành, quyền được hưởng
hạnh phúc, Quyền được hưởng thụ giáo dục là nhu cầu thiết yếu của mỗi con
người, như cơm ăn, áo mặc.
Trẻ em là một trong những đối tượng được Chủ Tịch Hồ Chí Minh quan tâm
và giáo dục nhiều nhất, liên tục nhất . Hồ Chí Minh xuất phát từ truyền thống nhân
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con
người. Vai trò và tác dụng của giáo dục Mầm non được thể hiện cụ thể ở những khía
cạnh sau đây:
- Trẻ em trong độ tuổi mầm non là thời kì phát triển đặc biệt của bộ não, nó
đặt nền móng cho việc học tập về sau cho mỗi con người (nghiên cứu mới đây của
một số nhà khoa học châu Mỹ-Latinh, công bố trong Hội thảo quốc tế về Giáo dục
mầm non tại Mê-hi-cô đã cho rằng thời kì mầm non bộ não của trẻ có thể phát triển
tới 80% sự hoàn thiện).
- Tuy không phải là trực tiếp, nhưng kết quả khả quan ở giáo dục mầm non
sẽ có ảnh hưởng tích cực, góp phần thực hiện một số mục tiêu có tính quốc gia và
tính toàn cầu về các lĩnh vực giáo dục - kinh tế - xã hội như: Nâng cao kết quả học
tập khi trẻ vào tiểu học, phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm, xóa đói giảm nghèo.
- Nếu ngay từ mầm non, trẻ được phòng ngừa, tăng cường khả năng đề
kháng đối với một số bệnh tật, khiếm khuyết thì sẽ giảm chi phí rất nhiều so với sau
này, nhất là có thể tránh cho trẻ phải chịu thiệt thòi suốt đời vì một di chứng nào đó
mà lẽ ra có thể can thiệp khi còn ấu thơ.
8
- Giúp cho trẻ em (nhất là tại các nước đang phát triển) có thể được hưởng
phúc lợi xã hội, giảm nguy cơ trẻ phải lâm vào hoàn cảnh sống cực kỳ nghèo khổ
hoặc bị tử vong với những căn bệnh có thể phòng ngừa được.
- Chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non là thực hiện cam kết quốc tế của hầu hết
các nước đối với Công ước về Quyền trẻ em (Việt Nam là một trong những nước
đầu tiên kí cam kết này).
1.1.3.2. Vai trò của giáo viên Mầm non
Nhà giáo là một chủ thể có vai trò quan trọng hàng đầu trong quan hệ giữa
người dạy và người học - mối quan hệ trọng tâm của giáo dục. Mục đích của nền
giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: Có đạo đức,
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên mầm non:
+ Tiêu chuẩn về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống: Nhận thức tư tưởng,
chính trị; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của nhà nước; gương mẫu thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ công chức, quy chế về tổ chức hoạt động của nhà
trường.
+ Tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ: Mức độ thực hiện nhiệm vụ được
giao, khối lượng, chất lượng, hiệu quả giảng dạy và công tác. Tinh thần học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tinh thần giảng dạy và trách nhiệm
trong công tác; Khả năng phát triển về chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động xã
hội...v.v.
- Căn cứ Điều lệ trường Mầm non ngày 07/4/2008 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về nhiệm vụ của giáo viên Mầm non, quy định trình độ chuẩn được đào tạo của
giáo viên Mầm non.
10
- Căn cứ Quyết định số 06/2006/QĐ-BNV ngày 21/3/2006 của Bộ trưởng Bộ
Nội vụ về Chức trách nhiệm vụ giáo viên mầm non.
- Căn cứ Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Xây dựng nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010”.
- Căn cứ Quyết định 239/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 9/2/2010
phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010- 2015.
- Chỉ thị số 3398/CT-BGD ĐT “Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên các cơ sở giáo dục mầm
non... Đặc biệt chú trọng nội dung bồi dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học và
kiểm tra tự đánh giá”
1.2. Cơ sở thực tiễn:
1.2.1. Đặc điểm tình hình của địa phương:
của Đảng, thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên,
công chức; tuyên truyền các sự kiện chính trị lớn, các ngày lễ trọng đại của đất
nước, của địa phương; phổ biến tuyên truyền pháp luật, giáo dục định hướng chính
trị; lòng tự hào, tự tôn dân tộc và của đất nước; nâng cao nhận thức, ý thức chấp
hành pháp luật; tuyên truyền ý nghĩa của việc xây dựng nông thôn mới, giáo dục ý
thức tự giác chấp hành để thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa
bàn xã. Chi bộ mầm non xác định công tác giáo dục chính trị, tư tưởng không chỉ là
trách nhiệm của cấp ủy tổ chức cơ sở đảng, của cơ quan đơn vị mà còn phải đòi hỏi
ý thức tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, không ngừng tự học, rèn
luyện nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng gắn với thực hiện chuyên môn,
nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Về văn hoá - giáo dục:
12
Các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao luôn bám sát chủ trường,
chính sách của địa phương, ban văn hoá thông tin phối hợp với Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, hội phụ nữ tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể
thao chào mừng các ngày lễ lớn trong năm, mừng Đảng mừng xuân, tham gia các
môn thể thao do cấp huyện tổ chức như: Kéo co, cầu lông, bóng đá, bóng chuyề n...
Tổ chức tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá thôn
xóm, năm 2013 tổng số gia đình văn hoá đạt 75 %.
Sự nghiệp giáo dục đã được Đảng bộ và nhân dân quan tâm, phong trào dạy
tốt, học tốt ở các trường không ngừng được nâng lên, giữ vững phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ em năm tuổi (trường chúng tôi đã hoàn thành phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ em năm tuổi năm 2011, năm 2012, năm 2013 và năm 2014), giữ
vững đạt chuẩn phổ cập tiểu học và Trung học cơ sở. Hiêṇ nay ở xã có trường Tiểu
học và trường Mầm non đươ ̣c công nhâ ̣n đạt chuẩ n Quốc gia mức độ I. Trường
Mầ m non chúng tôi đươ ̣c đánh giá có chấ t lươ ̣ng dạy học tốt, là trường có cơ sở vâ ̣t
đạt chỉ tiêu cấp trên giao, không có quân nhân nào đào ngũ, bỏ ngũ, làm tốt công
tác chính sách hậu phương quân đội.
Nhìn chung những kết quả đạt được về phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, an ninh - quốc phòng của Đảng bộ và nhân dân đã chứng tỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng bộ xã đã không ngừng được nâng cao, đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân luôn đươ ̣c quan tâm. Sự phát triển đồng đều, toàn diện trên tất cả các mặt
đã khẳng định được sự hoạt động đồng bộ, sự đóng góp to lớn của các chi bộ cho
phong trào xây dựng nông thôn mói hiện nay.
1.2.2. Đặc điểm của trường Mầm non chúng tôi :
Trường Mầm non chúng tôi là một trường mầm non thuộc vùng nông thôn
được thành lập từ năm 1971. Qua 42 năm xây dựng và phát triển, với phương châm
nhà trường là nội lực cơ bản, Đảng bộ, nhân dân và chính quyền địa phương là
14
động lực tích cực để trường tồn tại và phát triển cho đến ngày nay. Trường được
xây trên diện tích 6393 m2, từ năm 2007 đến nay trường trở thành trường mầm non
có qui mô lớn tập trung tại một điểm. Có 10 lớp và số học sinh có tại thời điểm này
lên đến 341 học sinh. Đây là thời kì ổn định của nhà trường về qui mô và số lượng,
chất lượng giáo dục hằng năm được nâng lên, trường có 07 năm được công nhận
trường tiên tiến cấp cơ sở, được UBND huyện công nhận tập thể lao động tiên tiến.
Trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia và chuyển sang trường công lập vào
năm học 2010 – 2011.
Năm học 2013 - 2014, trường có 20 giáo viên trực tiếp giảng dạy, 100% giáo
viên có trình độ đạt chuẩn, trong đó có 19 đồng chí có trình độ trên chuẩn, chiếm tỉ
lệ 95%. Trường có tổ chức Chi bộ Đảng gồm 13 đảng viên, chi bộ liên tục đạt cơ
sở đảng trong sạch vững mạnh và giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo trong toàn bộ hoạt
động của nhà trường. Các tổ chức Công đoàn; Đoàn thanh niên; Hội cha mẹ học
sinh đều hoạt động tích cực, góp phần cùng nhà trường hoàn thành nhiệm vụ.
Nhà trường tiếp tục đẩy mạnh và phát huy có hiệu quả cuộc vận động “Hai
không” với bốn nội dung, các cuộc vận động lớn của Ngành, tích cực “Học tập và
hứng thú cho trẻ khi tham gia hoạt động...
Trường đã chuyển vào công lập nhưng giáo viên ngoài biên chế còn nhiều
(8/20 chiếm tỷ lệ: 40%) mức lương thấp, công việc, áp lực nhiều nên nhiều giáo
viên còn khó khăn vất vả, chưa thực sự yên tâm công tác.
1.2.3.1. Nguyên nhân của những hạn chế
Do trình độ nhận thức chưa toàn diện về giáo dục mầm non của xã hội hiện
nay, do sự thiếu hiểu biết của một số bộ phận người dân thuần túy là nông nghiệp
nông thôn.
16
Do suy thoái kinh tế toàn cầu, do điều kiện, hoàn cảnh của người dân còn
gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc tiếp thu,, cập nhật các thông tin nuôi dạy con theo
khoa học còn hạn chế.
Lãnh đạo địa phương tuy đã quan tâm song do nguồn kinh phí của địa
phương hạn hẹp nên chưa mạnh dạn đầu tư cho giáo dục mầm non.
Giáo viên không có thời gian tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, kỷ năng sống cũng như kỷ năng, năng lực tổ chức các hoạt
động giáo dục trẻ.
Giáo viên trẻ, nhiệt tình, có trình độ trên chuẩn cao song trình độ chuyên
môn áp dụng thực tế chưa đáp ứng với nhu cầu của trẻ, còn lúng túng trước nhận
thức chưa toàn diện của xã hội, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp, hình thức tổ
chức chăm sóc - giáo dục các cháu.
Để khắc phục những nguyên nhân dẫn đến khó khăn, tồn tại trên, chúng tôi
đã tiến hành khảo sát ngay từ đầu năm học.
1.2.3.2. Kết quả khảo sát thực trạng trước khi thực hiện đề tài tại đơn vị tôi
có:
- 100% người dân thuần nông; Tỷ lệ sinh con thứ 3 cao; Tỷ lệ huy động trẻ 5
tuổi ra lớp 100%; trẻ 4 tuổi ra lớp 86,7 %; trẻ 3 tuổi ra lớp 59,0 %; trẻ 2 tuổi ra lớp
sự nghiệp phát triển giáo dục của xã trong tình hình mới;
Căn cứ thực tế công tác giáo dục của địa phương, cấp uỷ xây dựng nghị quyết
lãnh đạo; chính quyền, cơ quan quản lý giáo dục, trường học xây dựng kế hoạch,
chương trình hành động, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, đề ra giải pháp cụ thể, sát
với tình hình theo hướng đổi mới, nâng cao chất lượng, phát triển toàn diện, bền
vững;
18
Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân (hội Cựu chiến binh, Phụ nữ,
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Nông dân, Công đoàn), các tổ chức kinh
tế, xã hội, Ban đại diện cha mẹ học sinh, hội Khuyến học, hội Cựu giáo chức,...
trong công tác phối hợp, động viên các lực lượng xã hội tham gia thực hiện nhiệm
vụ phát triển giáo dục và công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định,
quy chế về giảng dạy, học tập, thi tuyển, quản lý tài chính, tài sản…Tranh thủ sự
giúp đỡ của Phòng Giáo dục và Đào tạo, các ngành của huyện và các trường Tiểu
học, Trung học cơ sở đóng trên địa bàn xã. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục,
huy động mọi nguồn lực phát triển giáo dục - đào tạo; đảm bảo công bằng và
hướng tới xã hội học tập;
Kịp thời tuyên truyền phản ánh, cổ vũ động viên khuyến khích đối với các tổ
chức, cá nhân có thành tích; đánh giá, tổng kết, nhân rộng các mô hình, điển hình
tốt trong sự nghiệp phát triển giáo dục của địa phương. Thực hiện tốt chế độ khen
thưởng theo quy định. Đẩy mạnh hoạt động khuyến học, khuyến tài, khen thưởng
kịp thời cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh có thành tích cao trong các kỳ thi
giáo viên giỏi.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm đối với cán bộ, giáo
viên vi phạm quy chế chuyên môn, vi phạm chính sách, pháp luật, mất đoàn kết nội
bộ; không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2.2.2. Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lòng say mê nghề nghiệp cho
trong giai đoạn hiện nay.
Hưởng ứng cuộc vận động “Hai không” với 4 nội dung trọng tâm do Bộ Giáo
dục và Đào tạo phát động, trước hết cần phải chuẩn bị những nội dung để cho giáo
viên biết mình cần phải làm gì. Vấn đề thứ nhất là vấn đề dạy học như thế nào để
phát huy tính tích cực ở trẻ, vì vậy đòi hỏi giáo viên lên lớp phải tận tụy, phải
chuẩn bị đồ dùng dạy học thật đầy đủ và chu đáo, áp dụng đổi mới hình thức, đổi
mới phương pháp dạy học một cách hợp lý. Vấn đề thứ hai đó là chúng ta chăm sóc
20
giáo dục trẻ với mục tiêu phát triển toàn diện nên tất cả các nội dung phải được cân
bằng, như vậy kết quả mới thực chất. Một vấn đề nữa là việc “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được cụ thể hóa bằng các buổi nói chuyện về
Bác Hồ, thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Người trong tập thể giáo viên, từ
đó giúp giáo viên thấm nhuần tư tưởng của Người. Việc học tập tư tưởng chính trị
là việc làm thường xuyên thông qua các cuộc họp hội đồng, chi bộ, công đoàn từ đó
giúp giáo viên có lập trường tư tưởng tốt, xây dựng khối đoàn kết nhất trí cao.
Bồi dưỡng giáo viên trở thành những tuyên truyền viên để tuyên truyền giáo
dục mầm non cho cha mẹ trẻ và cộng đồng về nuôi dạy con theo khoa học. Làm tốt
công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tuyên truyền để huy động trẻ ra
lớp đạt chỉ tiêu.
2.2.3. Nâng cao ý thức trách nhiệm nghề nghiệp:
Để nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên, chúng tôi đã tạo điều
kiện cho giáo viên nghiên cứu luật giáo dục; điều lệ trường mầm non; chuẩn nghề
nghiệp giáo viên mầm non; Hướng dẫn giáo viên tự đánh giá theo qui định chuẩn
nghề nghiệp giáo viên mầm non (theo quyết định 02/2008/QĐ-BGD-ĐT), để giáo
viên thấy được mình còn thiếu những vấn đề gì so với chuẩn và động viên giáo
viên tự học, tự bồi dưỡng phấn đấu đạt chuẩn.
Để công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non có hiệu quả, chúng tôi đầu tư về
thời gian, hỗ trợ kinh phí học tập, động viên giáo viên tích cực tự học, tự bồi
những gì đã tiếp thu được qua lý thuyết.
Tạo điều kiện cho tất cả giáo viên được tham gia dạy mời đồng nghiệp dự
giờ và tạo điều kiện cho tất cả giáo viên được dự giờ đồng nghiệp, được đánh giá,
nhận xét, bổ sung và đúc rút kinh nghiệm qua các tiết dạy mẫu, dạy thể nghiệm,
dạy thao giảng. Qua đó tạo điều kiện cho giáo viên được cọ xát nhiều hơn, giúp
giáo viên tự tin, chủ động và sáng tạo trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo
dục trẻ.
22
2.2.4.1. Xác định nội dung, chương trình và lên kế hoạch bồi dưỡng
Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để đổi mới phương pháp dạy học cần
phải triển khai một cách hợp lý, xây dựng hệ thống kế hoạch chương trình, nội
dung bồi dưỡng bao gồm chính trị tư tưởng, kiến thức văn hóa, chuyên môn nghiệp
vụ, năng lực sư phạm và các kiến thức bổ trợ khác để bổ sung kiến thức, tăng vốn
hiểu biết cho giáo viên, hình thành năng lực truyền đạt kiến thức, giúp cho giáo
viên tư duy, sáng tạo có thói quen tự học, tự bồi dưỡng. Nội dung bồi dưỡng phải
kết hợp kiến thức cơ bản với thực hành, rèn luyện kỹ năng tay nghề, năng lực sư
phạm và tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên vào thời điểm thích hợp. Kế hoạch bồi
dưỡng của trường chúng tôi trong năm qua bao gồm:
- Động viên, khuyến khích giáo viên học tin học vào tháng 6/2013(vào dịp hè).
- Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, nhận thức cho giáo viên vào tháng 8, tháng
11/2013.
- Bồi dưỡng phương pháp giảng dạy: Tháng 9, tháng 10/2013 kết hợp bồi
dưỡng qua chuyên đề, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng qua các đợt thao giảng
trong cả năm học.
- Bồi dưỡng thiết kế bài giảng bằng giáo án điện tử vào tháng 9/2013
- Bồi dưỡng kỷ năng làm đồ dùng, đồ chơi vào tháng 11, tháng 12/2013
- Tổ chức thao giảng 4 đợt 20/10, 20/11, 22/12, 08/03 hàng năm.
- Bồi dưỡng giáo viên yếu; phát hiện và bồi dưỡng giáo viên có năng lực
dạy. Bồi dưỡng qua chuyên đề là biện pháp tích cực có hiệu quả cao trong việc
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, muốn tổ chức tốt ban giám hiệu phải nghiên
cứu và có kế hoạch bồi dưỡng theo từng thời điểm trong năm thích hợp và tổ chức
thực hiện các chuyên đề: Hướng dẫn xây dựng kế hoạch năm học, tháng, tuần và
24
hằng ngày theo chương trình và từng độ tuổi phù hợp; Đổi mới phương pháp, hình
thức tổ chức các hoạt động cho trẻ; Hướng dẫn thực hiện bộ chuẩn trẻ 5 tuổi; sử
dụng biểu đồ phát triển trẻ em; vệ sinh an toàn thực phẩm; Kỷ năng sống…. trong
quá trình thực hiện phải có kiểm tra đánh giá, sơ kết, tổng kết, tổ chức thi giáo viên
giỏi để rút kinh nghiệm, tổ chức triển khai lần lượt từng chuyên đề đến giáo viên,
khi tổ chức chuyên đề nào thì phải xây dựng kế hoạch chỉ đạo cụ thể..Và chúng tôi
lưu ý các vấn đề sau:
Triển khai toàn trường: Việc triển khai thực hiện khi có Hiệu phó phụ trách
chuyên môn giỏi hướng dẫn, nếu triển khai không chuyên sâu về chuyên môn thì
khi thực hiện sẽ có những bước đi không đúng hướng.
Thể hiện chuyên đề: Về lý thuyết tôi Hiệu phó phụ trách chuyên môn trực tiếp
lên lớp. Sau đó chọn giáo viên giỏi, soạn bài kỹ, có sự giúp đỡ của phó hiệu trưởng
phụ trách chuyên môn. Trước khi dạy thể nghiệm phải tổ chức dạy thử, dạy thể
nghiệm xong, tổ chức rút kinh nghiệm để đánh giá xếp loại tiết dạy. Cũng có những
chuyên đề, tôi để cho giáo viên tự soạn bài và tổ chức cho đồng nghiệp dự giờ, sau
đó tổ chức thảo luận, đánh giá từ giáo án đến các bước lên lớp chổ nào được, chổ
nào chưa được.
Triển khai đại trà: Ban giám hiệu và tổ trưởng dự giờ góp ý từng tiết dạy cho
từng giáo viên trong tổ, tổ chức cho giáo viên dự giờ, thăm lớp lẫn nhau, cách làm
này vừa khắc sâu nội dung chuyên đề vừa khơi dậy được tiềm năng đội ngũ để
người biết trước giúp đỡ người chưa biết và người chưa biết cần cố gắng học tập để
vươn lên cùng tiến bộ.
2.2.4.5. Bồi dưỡng thông qua sinh hoạt cụm chuyên môn liên trường.