skkn một số BIỆN PHÁP QUẢN lí HOẠT ĐỘNG dạy và học môn TIẾNG VIỆT lớp 2 PHÂN môn kể CHUYỆN - Pdf 35

TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 : PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN.
I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ở Tiểu học , môn Tiếng Việt và môn Toán là hai môn học trọng tâm được gọi là
hai môn “công cụ”. Môn Toán cung cấp cho học sinh: Những kiến thức cơ bản về số
học, hình học, đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn; học sinh biết tính toán,
đo lường, giải toán, vận dụng vào thực tiễn. Qua đó giúp phát triển tư duy, trí tuệ phát
triển các phẩm chất đạo đức cần thiết, đem lại niềm hứng thú, sự tự tin cho học sinh.
Môn tiếng việt có mục tiêu cũng không kém phần quan trọng.Việc dạy học Tiếng Việt
giúp hình thành và phát triển ở học sinh kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ( nghe, nói, đọc,
viết ) để học tập và giao tiếp trong môi trường hoạt động lứa tuổi.Thông qua việc dạy
và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện thao tác của tư duy,bên cạnh đó còn cung cấp
cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng việt, những hiểu biết sơ giản về xã hội,
tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài; đồng thời
còn bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu
đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi chỉ đề cập đến một khía cạnh nhỏ của việc
dạy học tiếng Việt, thông qua dạy học phân môn Kể chuyện.
Trong môn Tiếng Việt, phân môn kể chuyện cũng có một vị trí quan trọng. Kể
chuyện và nghe chuyện là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của trẻ
em.Từ thuở còn bé thơ, các em đã thích nghe kể chuyện. Bước vào tuổi học đường,
nhu cầu kể chuyện của các em ngày càng trở nên bứt thiết hơn. Phân môn kể chuyện
trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học đã đáp ứng yêu cầu trên của trẻ. Mặt khác,
việc kể chuyện không thể tách rời với nội dung được kể trong chuyện. Đó là những tác
phẩm văn học có giá trị của Việt Nam và thế giới được tuyển chọn để phù hợp với bản
tính hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng và tràn đầy cảm xúc của trẻ em. Nó đáp được nhu
cầu được giải trí, vui chơi, được xúc động và sáng tạo khám phá, được thấy cái tốt, lẽ
công bằng … Phân môn kể chuyện góp phần lớn trong việc bồi dưỡng tâm hồn, cảm
xúc, đem lại niềm vui, sự hứng thú, trau dổi vốn sống, vốn văn học, phát triển tư duy

Vì vậy việc giảng dạy phân môn kể chuyện lớp 2 trong nhà trường cần được quan
tâm nhiều hơn. Nhận thức rõ tầm quan trọng của phân môn này, với vai trò là một cán
bộ quản lí chuyên môn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Một số biện
pháp quản lí hoạt động dạy và học môn Tiếng Việt lớp 2: Phân môn kể chuyện ”.
Trang 2


II/. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
1/. Thuận lợi:
Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho tập thể giáo viên tự thể hiện và
phát huy khả năng trong giảng dạy và học tập.
Việc đổi mới chương trình và Sách giáo khoa Tiếng Việt trong đó có phân môn Kể
chuyện lớp 2 được tiến hành được nhiều năm. Học sinh đã được làm quen với cách
học mới từ lớp anh chị của mình nên dễ dàng tiếp nhận và thực hành dưới sự hướng
dẫn của giáo viên.
Mặt khác phân môn Kể chuyện lớp 2 nhìn chung có nội dung ngắn gọn, cụ thể có
định hướng rõ ràng, chủ yếu là thực hành nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (
nghe, nói, đọc, viết ) cho học sinh.
2/. Khó khăn:
Trường tôi còn có một số phụ huynh có quan điểm “ trăm sự nhờ thầy, nhờ cô”
giao khoán cho giáo viên chủ nhiệm. Điều này cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng
học tập của phân môn.
Mặt khác, trình độ giáo viên không đồng đều, việc tiếp nhận thông tin từ nguồn
sách giáo khoa, các tài liệu hỗ trợ giảng dạy cũng như việc đổi mới phương pháp trong
dạy học nói chung và dạy học phân môn kể chuyện nói riêng chưa đồng bộ nên hiệu
quả giảng dạy và học tập chưa cao.
3. Số liệu thống kê:
Chất lượng học tập phân môn kể chuyện lớp 2 năm học 2010 – 2011 ( thời điểm
đầu năm học, khoảng tháng 10):
Phân tích các tiết dạy mà tôi đã dự môn Kể chuyện lớp 2, trong đó học sinh làm

16

44,4

2/2

36

22

61,1

14

38,9
Trang 3


2/3

34

20

58,8

14

41,2


64,7

12

35,3

2/7

36

24

66,7

12

33,3

TC

249

155

62,2

94

37,8


sướng, hả hê, lúc lại buồn rầu, lo lắng.
Như vậy, kể chuyện mang tính tổng hợp. Nó sử dụng các hiểu biết về kĩ
năng dùng từ đặt câu, kĩ năng nghe và kĩ năng nói Tiếng Việt, kĩ năng trình bày
trước mọi người. Nói cách khác, đó là khả năng vận dụng những hiểu biết về
ngôn ngữ, lí thuyết sản sinh lời nói và sự hiểu biết về văn học, . . . vào việc kể
chuyện. Trong giờ kể chuyện, hầu như học sinh được phát huy tối đa khả năng
nói và nghe của mình . Do vậy, học sinh được rèn luyện kĩ năng kể chuyện, kĩ
năng giao tiếp bằng lời của mình để diễn đạt lưu loát, ứng xử nhanh nhẹn.
1.2 Các thể loại truyệntrong sách Tiếng Việt lớp 2:
Trong cấu trúc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2, các câu chuyện được phân
bố như sau:

Thể loại truyện

Số

Tên truyện

lượng
Thần thoại
Truyền thuyết

2

+ Sơn Tinh, thủy Tinh
+ Chuyện quả bầu
+ Sự tích cây vú sữa
+ Hai anh em

Cổ tích và cổ tích mới

 Chiếc bút mực
 Mẫu giáy vụn
 Người mẹ hiền

Sinh hoạt

10

 Người thấy cũ
 Người làm đồ chơi
 Bông hoa niềm vui
 Sáng kiến của bé Hà
 Con chó nhà hàng xóm
 Những quả đào
 Bạn của Nai Nhỏ

Đồng thoại

3

 Chim Sơn Ca và Bông Cúc Trắng
 Bác sĩ Sói
 Tôm Càng và Cá Con

2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài:
2.1 Những hình thức kể chuyện ở lớp 2:
Có 3 hình thức rèn luyện kĩ năng kể chuyện trong tiết kể chuyện. Đó là:

Trang 6


Mọi thủ thuật kể chuyện sẽ chỉ có hiệu quả nếu người kể nắm vững nội dung và đặc
điểm nghệ thuật của truyện, thực sự thâm nhập vào truyện mình kể để tái hiện lại câu
Trang 7


chuyện một cách trung thực, không làm sai lạc ý nghĩa, nội dung của câu chuyện. Vì
vậy việc rèn luyện kĩ năng kể chuyện không thể tách rời với việc thông hiểu nội dung
của chuyện.
Ở lớp 2, chương trình đã tích hợp nội dung đọc hiểu của phân môn Tập đọc và kể
chuyện làm một. Vì vậy, tiết dạy kể chuyện được sắp xếp sau bài dạy tập đọc đầu tuần
để các em nhớ nội dung câu truyện vừa đọc. Hệ thống câu hỏi tìm hiểu bài trong phân
môn Tập đọc và trong phân môn Kể chuyện đều hướng đến mục đích giúp học sinh
thông hiểu câu chuyện. Khi kể chuyện, người kể không chỉ tái hiện lại đúng diễn biến
của truyện hoàn toàn khách quan mà còn bộc lộ những cảm xúc chân thực và khả năng
sáng tạo của bản thân khi kể câu chuyện. Có thể rèn luyện kĩ năng kể chuyện chân
thực qua một số hình thức tập luyện chủ yếu sau:
+ Kể chuyện bằng lời của mình:
Yêu cầu của biện pháp này là kể không lặp lại nguyên văn từng từ ngữ trong
truyện như đọc. Học sinh có thể dùng từ, đặt câu theo cách khác, diễn đạt rõ thêm một
vài ý qua sự tưởng tưởng của mình.
Ví dụ: Kể lại cuộc gặp gỡ giữa bé Hà và thầy giáo (Truyện Bím tóc đuôi sam)
bằng lời của em.
+ Kể chuyện phân vai:
Phân vai dựng lại câu chuyện là một biện pháp kể chuyện được thực hiện từ lớp
1, nội dung của biện pháp này là phân cho mỗi học sinh mỗi vai để kể lại câu chuyện.
Yêu cầu của vai kể là mỗi em phải nói kịp thời, đúng vai, đúng lời nhân vật mà mình
đóng vai. Đối với học sinh khá, giỏi, yêu cầu các vai phải phối hợp nhịp nhàng, các em
phải thực sự nhập vai, hiểu nhân vật, nói lời nhân vật một cách biểu cảm, biết kết hợp
lời nói với cử chỉ, điệu bộ.
Ví dụ: Dựng lại câu chuyện (Người mẹ hiền) theo vai: người dẫn chuyện, Minh,

sức hấp dẫn cho giờ kể chuyện.
Ví dụ: Sắp xếp lại thứ tự các tranh sau theo đúng nội dung câu chuyện : Bóp nát
quả cam . Dựa vào các tranh đã sắp xếp lại, kể từng đoạn câu chuyện.
Với nội dung kể chuyện theo tranh, học sinh phải quan sát khi thực hiện bài tập.
Bằng cách quan sát cá nhân, học sinh sẽ nhận ra được nhiều chi tiết trong tranh để kể,
góp phần tăng cường vai trò cá thể hoá hoạt động của người học.
2.3 Những điểm cần lưu ý khi dạy kể chuyện lớp 2:

Trang 9


- Tạo điều kiện cho học sinh ở mọi trình độ đều được tham gia một cách tự giác
vào quá trình rèn luyện kĩ năng kể chuyện. Động viên khích lệ học sinh yếu kém cùng
tham gia rèn luyện, để các em có cơ hội đạt được thành công ở nhiều mức độ. Để đạt
được điều này, khâu chuẩn bị cho bài học mới đóng vai trò rất quan trọng. Trong phần
củng cố, dặn dò ở mỗi tiết kể chuyện, giáo viên cần dành thời gian hướng dẫn, gợi ý
những việc cần làm ở nhà để học sinh biết mà chuẩn bị bài mới cho cụ thể.
- Trên lớp để tạo điều kiện cho 100% học sinh được tham gia, giáo viên nên chú
trọng hình thức thực hành theo nhóm (dựa vào nội dung câu chuyện, số lượng nhân vật
trong truyện để chia nhóm và yêu cầu số lượt kể) trước khi học sinh trình bày trước
lớp. Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập để các em có thể phát huy
tính tích cực, sáng tạo trong quá trình kể chuyện. Tuỳ theo mức độ của từng bài tập mà
chọn học sinh có trình độ tương đương để trình bày nhằm mang lại thành công cho
mỗi học sinh.
- Khuyến khích học sinh kể tự nhiên, hồn nhiên bằng giọng điệu, cảm xúc của
chính mình. Khi nhận xét lời bạn kể, chú trọng theo hướng động viên, khích lệ là
chính. Riêng lời nhận xét của giáo viên cần nêu đúng ưu, khuyết điểm trong lời kể của
học sinh nhưng thật tế nhị sao cho các em không cảm thấy quá nặng nề, mất niềm tin
vào bản thân.
2.4 Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy và học:

- Đảm bảo đủ các điều kiện vật chất, trang thiết bị dạy học tối thiểu. Có kế hoạch
tu sửa, mua sắm bổ sung nhằm hoàn thiện để phục vụ tốt nhu cầu dạy và học của giáo
viên và học sinh. Thường xuyên kiểm tra việc sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy.
2.4.3 Quản lý việc dự giờ học tập kinh nghiệm:
Ban giám hiệu cần có kế hoạch xây dựng tổ chức chuyên đề phân môn Kể
chuyện nói riêng và các môn học khác nói chung thích hợp với tình hình của trường
mình và dự giờ thăm lớp giáo viên để nắm bắt mức độ giảng dạy , thực hiện các
chuyên đề đó . Sau mỗi chuyên đề cần đánh giá sâu và rút kinh nghiệm một cách triệt
để . Từ đó có kế hoạch bồi dưỡng và rèn luyện tay nghề cho giáo viên trong trường.
Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho giáo viên được dự giờ học tập kinh nghiệm lẫn nhau
thông qua các buổi hội giảng, chuyên đề môn học. Qua đó nhân điển hình gương mẫu
giáo viên có thành tích tốt trong giảng dạy và giáo dục học sinh.
2.4.4 Quản lý việc thực hiện phương pháp dạy học:
Phương pháp dạy học là những phương thức hoạt động phối hợp giữa giáo viên
và học sinh nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập.
Trang 11


Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình áp dụng các phương pháp dạy học
hiện đại vào tiết học trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy
học truyền thống nhằm thay đổi cách thức phương pháp dạy học là làm cho học sinh
tích cực, chủ động, sáng tạo, thay đổi thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc.
Vì vậy hiệu trưởng tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội cho giáo viên thực hiện, phát
huy các phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cho môn học kể chuyện nhằm đẩy
mạnh phong trào đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường để phát huy tính tích
cực của học sinh .
2.4.5 Quản lí việc tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập trên lớp:
Dạy học “tích cực” là phải đảm bảo cho người học thực sự là chủ thể của hoạt
động là sản phẩm của chính mình. Về bản chất, dạy học là một hoạt động xã hội có
chủ đích, có kế hoạch và vì thế nó có tính quá trình, tính hệ thống, bao gồm nhiều

của giáo viên, người quản lí phần nào biết được tình hình thực hiện việc đánh giá kết
quả học phân môn kể chuyện của học sinh ở mức độ nào.
Để nắm được hiệu quả giảng dạy, tôi tiến hành dự giờ giáo viên và khảo sát lớp 2
dạy môn kể chuyện (kể chuyện lớp 2). Sau đó gặp gỡ học sinh trao đổi thăm dò ý kiến
của học sinh. Phân tích số phiếu điều tra, kết quả như sau:
1. Em có thường xuyên đọc, xem sách truyện thiếu nhi không?
a. Đọc thường xuyên (60%)

b. Ít đọc (40%)

c. Không đọc

2. Em có thích học phân môn kể chuyện không?
a. Có (100%)

b. Không

3. Các câu chuyện ở sách Tiếng Việt 2, em có thích đọc không?
a. Có (100%)

b. Không

4. Em có thích tham gia vào các hoạt động trong giờ kể chuyện ở lớp không?
a. Có (100%)

b. Không

5. Em có được thầy (cô) thường xuyên mời kể chuyện trước lớp không
a. Được mời thường xuyên (80%)



b. Ít chú ý nghe (20%)

c. Không thích nghe

Quan sát hoạt động học của học sinh trong suốt quá trình dạy của giáo viên, tôi
thống kê như sau:

Lớp

TSHS
khảo sát

Số học sinh thực hành
kể được từng đoạn câu

Số học sinh thực hành
Tỉ lệ %

chuyện

phân vai dựng lại câu

Tỉ lệ %

chuyện

2/1

36


100

2/4

37

35

94,6

35

94,6

2/5

36

34

94,4

33

91,7

2/6

34


97,2

Bảng: Hiệu quả giảng dạy của giáo viên thông qua các tiết dạy kể chuyện
Từ kết quả trên cho thấy việc hiểu nội dung bài kể chuyện và thực hành kĩ năng
nghe và nói của học sinh được nâng cao, số lượng học sinh tham gia nhiều thông qua
việc giáo viên tạo nhóm, chia nhỏ nội dung và động viên, khuyến khích học sinh hoạt
động. Giáo viên không còn e ngại khi lên tiết dạy kể chuyện cho đồng nghiệp dự giờ
còn học sinh thì rất thích học tiết kể chuyện.
Với những kinh như trên đã trình bày có thể áp dụng rộng rãi vào việc quản lý
hoạt động dạy và học trong nhà trường, với từng lớp học và từng trình độ học sinh cụ
thể để tất cả trẻ em đều học được và ngày càng ham học hơn. Vì thế cần kế thừa và
phát huy hơn nữa trong mỗi giáo viên tinh thần sáng tạo,đổi mới phương pháp dạy học
để chất lượng giáo dục ngày càng đi lên.
Trang 14


IV/. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Là một giáo viên với vai trò là cán bộ quản lí nhà trường trên lĩnh vực chuyên
môn, tôi đã rút kết cho mình những bài học sau:
Thường xuyên giữ mối quan hệ mật thiết giữa Ban giám hiệu nhà trường và giáo
viên để kịp thời nắm bắt tình hình, nhu cầu, nguyện vọng của giáo viêntrong quá trình
thực hiện nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy.
Tổ chức nhiều chuyên đề nhất là chuyên đề ứng dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy nhằm nâng thu hút học sinh trong học tập. Động viên khuyến khích giáo
viên áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học.
Cần nắm vững mục tiêu và nội dung chương trình môn Tiếng Việt tiểu học nói
chung và lớp 2 nói riêng, cụ thể là phân môn kể chuyện. Nắm mức độ chuẩn kiến thức,
kĩ năng cần đạt để chủ động hướng dẫn học sinh theo chuẩn đó.
Lập kế hoạch bài học: Đối với mỗi bài học, trước khi lên lớp, giáo viên phải tiến

đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập. Đó cũng là hành trang cho học sinh
học tiếp ở các lớp 3,4,5,.... Một giờ dạy có thành công hay không là ở chỗ những mục
tiêu học tập có đạt được hay không. Để đạt được mục tiêu học tập, việc xác định mục
tiêu dạy học ở mỗi bài phải chính xác, rõ ràng, cụ thể. Điều này tùy thuộc vào trình độ
tri thức, vào tầm hiểu biết của mỗi người giáo viên. Vì vậy, việc tự rèn luyện, tự bồi
dưỡng cho mình những kiến thức khoa học cơ bản và nghiệp vụ chuyên môn là việc
làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Bên cạnh đó, giáo viên phải luôn
tạo ra sự hứng thú, sự ham học, tìm tòi cho mỗi học sinh trong giờ học thông qua việc
làm thường xuyên tạo ra tình huống giao tiếp, nhu cầu giao tiếp với bạn bè, với thầy cô
để trao đổi, tranh luận, chia sẽ thông tin của bài học. Phương pháp học dù có tác động
nhưng không phải là yếu tố quuyết định; khi học sinh có ý thức học, sẽ có thể chọn và
vận dụng các phương pháp học để việc học tập trở nên chủ động hơn, thành công hơn.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần quan tâm đến các đối tượng học sinh
( đặc biệt là học sinh yếu, học sinh có nhiều khó khăn trong học tập) sao cho mỗi em
điều đạt được kết quả nhất định, nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, sự tiến bộ sau mỗi
tiết học với từng học sinh. Lao động của người thầy là lao động của người làm công
tác khoa học, nghệ thuật – lao động sáng tạo nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị. Mỗi học
sinh thành đạt nên người, mỗi nhân tài của đất nước hôm nay và mai sau, trong đó đều
có công sức đóng góp của bao nhiêu thế hệ thầy cô giáo chân chính. Hy vọng chất
lượng dạy và học ở phân môn Kể chuyện thực sự ngày một nâng cao.
VII/. TÀI LIỆU KHAM KHẢO:

Trang 16


1). Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học của Nguyễn Thị
Xuân Yến – Trường Đại Sư Phạm Huế 12/2004.
2). Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt lớp 2 của nhà xuất bản giáo
dục, xuất bản năm 2003.
3). Làm chủ phương pháp giảng dạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status