Đề tài khoa học lớp Đại học Luật Tên đề tài Vai trò của khoa học công nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA LUẬT



ÑEÀ TAØI KHOA HOÏC
Lớp Đại học Luật từ xa

Tên đề tài: Vai trò của khoa học, công nghệ đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Tấn Tài
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Trường
Mã số sinh viên: 154111088
Tên lớp: DX11L50

19 tháng 9 năm 2014


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

- DCCS: Dân chủ cơ sở
- CNH: Công nghiệp hóa.
- HĐH: Hiện đại hóa.
- HĐND: Hội đồng nhân dân.
- UBND: Ủy ban nhân dân.


Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi, trên cơ sở kế thừa các công trình


2

3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài……………………………………………

2

II. NỘI DUNG……………………………………………………………………

3

Chương 1. Thực trạng khoa học, công nghệ của Việt Nam………………………

3

1.1. Những thành tựu…………………………………………………………….

3

1.2. Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu……………………………………

5

Chương 2. Bối cảnh, cơ hội và thách thức……………………………………….

9

2.1. Bối cảnh quốc tế…………………………………………………………….

9


20

4.3. Các hướng công nghệ trọng điểm …………………………………………..

21

III. KẾT LUẬN ………………………………………………………………….

26

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………..

27

MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ
(KH&CN) cùng với phát triển Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền
tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước.
Mặc dù nước ta còn nghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, đặc biệt là sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cả
nước, tiềm lực KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng
kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, trình độ KH&CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so
với các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới còn
hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. KH&CN nước
ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát triển mạnh mẽ

Đây là những lý luận hết sức quan trọng, nhằm định hướng các bước đi cơ
bản để Việt Nam có hướng thay đổi nền giáo dục theo hướng hiện đại, xây dựng
con người mới đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử cụ thể.
- Phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩ duy vật.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
- Phương pháp Logic.

NỘI DUNG


CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
1.1. Những thành tựu
1.1.1. Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua,
chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở
lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16
nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong đó, có khoảng 34
nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN thuộc khu vực nhà
nước. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất nước.
Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ
được tri thức, công nghệ hiện đại trong một số ngành và lĩnh vực.
Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CN với
trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó
có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 30
trường ngoài công lập. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu,
các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăng
cường và nâng cấp. Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa

truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc.
1.1.3. Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN được tổ chức từ trung ương đến địa
phương đã đẩy mạnh phát triển KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương.


Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án
KH&CN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế tuyển chọn tổ
chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên
tắc dân chủ, công khai. Hoạt động của các tổ chức KH&CN đã mở rộng từ nghiên
cứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN. Quyền tự chủ của các tổ chức, cá
nhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăng cường. Quyền tự chủ về hợp
tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN được mở rộng.
Vốn huy động cho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kể
nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN. Đã cải tiến một bước
việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian.
Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN từng bước được
hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các
bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
1.1.4. Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân
dân ngày càng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích
cực của các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến học, khuyến tài đã đưa KH&CN
đến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức nông,
lâm, ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của khoa học ngày
càng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước. KH&CN của người dân trong thời gian
qua đã tăng lên rõ rệt.
1.2. Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
1.2.1. Những yếu kém



các nước trong khu vực. Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng
tính hành chính.
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào,
chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn. Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt
chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Công tác đánh giá nghiệm thu kết quả
nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế. Cơ chế quản lý các tổ chức
KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ
quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính
năng động, sáng tạo. Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không
phù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán
bộ. Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, phát huy
khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật. Chưa có
những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách
thu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không
khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN. Cơ chế quản lý
tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, chưa
huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế tự chủ về tài
chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nên
hiệu quả còn hạn chế.
Thị trường KH&CN chậm phát triển. Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu
thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian,
môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu
quyền sở hữu trí tuệ.


trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến cơ sở hạ tầng KH&CN lạc hậu,
hiệu quả đầu tư thấp. Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độ
cao ở các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, đặc biệt là cán bộ KH&CN đầu ngành, các
"tổng công trình sư".
Cơ chế quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học
và công nghệ: Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của
Nhà nước, độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
làm cho các doanh nghiệp nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quan tâm đến ứng dụng
các kết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ. Thiếu cơ chế, chính sách
hữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất - kinh doanh và khuyến khích
doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN. Hệ thống tài chính, tiền tệ
kém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồn
vốn để đầu tư cho KH&CN.
CHƯƠNG 2
BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM.
2.1. Bối cảnh quốc tế
a) Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày
càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo
trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người.
Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v..., xã hội loài người đang
trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền
kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ
hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.


Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng
đầu. Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi thế

càng mở rộng; đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác quốc tế
được cải thiện.
Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướng
đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào
năm 2020; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết thực hiện các thoả thuận
trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tích cực chuẩn
bị tham gia WTO; tăng cường đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh
tế tập thể, khuyến khích khu vực dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp
vừa và nhỏ; đẩy mạnh cải cách hành chính, v.v...
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã xác định
mục tiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,
nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại;
nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực
kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường
quốc tế được nâng cao.
Trong bối cảnh đó, KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa học
cho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước; đóng góp thiết thực vào việc
nâng cao hiệu quả và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
2.3. Cơ hội và thách thức
a) Cơ hội


Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển KH&CN, Đại hội IX
của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa dạng
hoá quan hệ quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức khoa học, công

trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh tế,
thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v... phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tình trạng này nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội
nhập khu vực và quốc tế.
Trước những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách
đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện
pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy cơ tụt hậu kinh tế
và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồncông nghệ nhập
là khó tránh khỏi.
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
3.1. Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ
Quan điểm chủ đạo về phát triển KH&CN đã được chỉ rõ trong các văn kiện
của Đảng và Nhà nước, như: Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, Luật KH&CN,
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX
mới đây. Những quan điểm này cần được cụ thể hoá và phát triển phù hợp với bối
cảnh mới trong nước và quốc tế trong giai đoạn từ nay đến năm 2010.
a) Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và
động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước


Để KH&CN nhanh chóng phát huy được vai trò là nền tảng và động lực
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nhà nước cần có chính sách quan tâm đặc biệt
đến phát triển KH&CN: coi đầu tư cho KH&CN là đầu tư phát triển; ưu tiên đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực; tạo động lực vật
chất và tinh thần mạnh mẽ cho cá nhân hoạt động KH&CN, trọng dụng và tôn
vinh nhân tài.
b) Phát triển kinh tế - xã hội dựa vào khoa học và công nghệ, phát triển khoa
học và công nghệ định hướng vào các mục tiêu kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng và an ninh

đ) Tập trung đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, đồng
thời đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động khoa học và công nghệ.
Nhà nước tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp đồng bộ giữa
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật với đầu tư đào tạo nhân lực
KH&CN, thực hiện dứt điểm các công trình để sớm phát huy hiệu quả đầu tư. Quan
điểm này phải được quán triệt ngay trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển
KH&CN 5 năm và hàng năm trên cơ sở định hướng KH&CN trọng điểm được đề
ra trong Chiến lược phát triển KH&CN. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá
nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài tham gia nghiên cứu,
ứng dụng và đầu tư phát triển KH&CN.
3.2. Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ
Chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2010 tập trung thực hiện 3 nhóm
mục tiêu chủ yếu.


a) Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình công nghiệp hoá rút
ngắn, phát triển bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập thành công
vào nền kinh tế thế giới
Khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn tập
trungnghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá trình CNH rút ngắn và
xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng luận cứ
khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, các giải pháp phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền
kinh tế khu vực và thế giới; giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn
khác do cuộc sống đặt ra.
b) Góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và
năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, đảm bảo quốc phòng và an ninh
Đến 2010, KH&CN phải góp phần quyết định vào việc tạo ra sự chuyển biến
rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả ở một số ngành kinh tế quan trọng
Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi kỹ thuật tiến bộ trong ngành

một số lĩnh vực công nghệ trọng điểm, một số ngành khoa học có thế mạnh của
Việt Nam. Hoàn thành xây dựng giai đoạn I, hai khu công nghệ cao tại Hoà Lạc và
thành phố Hồ Chí Minh; đưa vào sử dụng và khai thác có hiệu quả các phòng thí
nghiệm trọng điểm quốc gia đã được phê duyệt; nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật
một số tổ chức dịch vụ KH&CN quan trọng về thông tin KH&CN, tiêu chuẩn - đo
lường - chất lượng. Hình thành mạng lưới các tổ chức KH&CN đủ năng lực hội
nhập quốc tế, gắn kết chặt chẽ với giáo dục - đào tạo, sản xuất - kinh doanh.
Hình thành cơ chế quản lý quản lý khoa học và công nghệ tiến bộ, tương hợp
quốc tế: Đổi mới căn bản cơ chế quản lý KH&CN theo hướng phù hợp với cơ chế


thị trường, đặc thù của hoạt động KH&CN và hội nhập quốc tế; tạo động lực phát
huy sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN; nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN.
Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ: Đến năm 2010, KH&CN nước ta
đủ năng lực tiếp thu, làm chủ và sử dụng có hiệu quả công nghệ hiện đại nhập từ
nước ngoài; có khả năng nghiên cứu và ứng dụng một số công nghệ hiện đại, nhất
là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ
tự động hoá, cơ - điện tử; tiếp cận trình độ thế giới trong một số lĩnh vực khoa học
Việt Nam có thế mạnh.
CHƯƠNG 4
NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
4.1. Các nhiệm vụ trọng tâm nghiên cứu trong khoa học xã hội và nhân văn
a) Nghiên cứu lý luận và thực tiễn con đường phát triển của Việt Nam
Tiếp tục nghiên cứu làm rõ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với
điều kiện của đất nước, con người, xã hội Việt Nam và thích ứng với những thay
đổi hiện nay của bối cảnh quốc tế. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá
trình công nghiệp hoá rút ngắn; các giải pháp đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH và
phát triển bền vững đất nước.
b) Nghiên cứu những vấn đề kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội,
quốc phòng, an ninh

thủ tối đa thời cơ và lợi thế, phòng ngừa và giảm thiểu các bất lợi, rủi ro, tập trung
mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục nghiên cứu chủ
nghĩa tư bản hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự tác động về chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hoá, quân sự của chủ nghĩa tư bản hiện đại, các chủ thể mới trong quan


hệ quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược phát triển của Việt Nam nhằm
định rõ vị thế, vai trò, bước đi, chính sách hội nhập của Việt Nam vào các thể chế
toàn cầu và khu vực.
4.2. Các nhiệm vụ trọng tâm nghiên cứu trong khoa học tự nhiên
Nhà nước quan tâm phát triển nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên,
đặc biệt là nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng. Trong giai đoạn đến năm
2010, các nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên cần được tiến hành có trọng
điểm theo một số hướng chủ yếu sau đây:
a) Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng nhằm hỗ trợ cho quá trình lựa
chọn, tiếp thu, thích nghi và cải tiến các công nghệ tiên tiến nhập từ nước ngoài vào
Việt Nam và tiến tới sáng tạo các công nghệ đặc thù của Việt Nam, nhất là trong
các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến,
công nghệ tự động hoá, cơ - điện tử.
b) Nghiên cứu làm rõ giá trị sử dụng của các loại tài nguyên của nước ta, làm
cơ sở xây dựng phương án và lựa chọn công nghệ khai thác có hiệu quả. Chú trọng
nghiên cứu tiềm năng về đa dạng sinh học và các loại tài nguyên quý đang có nguy
cơ cạn kiệt do khai thác quá mức và do môi trường suy thoái.
c) Nghiên cứu bản chất, quy luật của tự nhiên và những tác động của chúng
đến đời sống kinh tế - xã hội nước ta, trong đó chú ý các yếu tố khí tượng và tự
nhiên ở các vùng sinh thái, phục vụ dự báo phòng tránh thiên tai (bão lụt, cháy
rừng, trượt lở đất, nứt đất, xói lở bờ sông, bờ biển, bồi lấp các cửa sông, cửa đầm,
hạn hán, v.v...).
d) Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về Biển Đông phục vụ cho dự báo các
nguồn lợi biển, phục vụ xây dựng các công trình trên biển và khai thác tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status