SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
TẠO MÔI TRƢỜNG CHỮ
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI
1
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết việc dạy trẻ 5-6 tuổi làm quen chữ viết có ý nghĩa
vô cùng quan trọng và là một trong các điều kiện để chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi
bước vào lớp 1.
Thông qua môn học LQCV, trẻ được phát âm đúng 29 chữ cái tiếng
Việt, làm quen kĩ năng nghe, “đọc”, phát âm, lật dở sách, cách quan sát chữ
trong từ trọn vẹn, quan sát chữ từ trên xuống dưới và từ trái sang phải. Đồng
thời giúp trẻ phát triển khả năng ghi nhớ có chủ định, kỹ năng phối hợp tay,
mắt, tri giác từ trọn vẹn trong một câu truyện, bài thơ, bài hát, ca dao…, biết
miêu tả diễn đạt sự việc hoặc ý muốn của mình bằng câu ®Çy đủ. Mặc dù
chuyên đề LQVH và luyện chữ viết đã được thực hiện nhiều năm, xong qua
quá trình thực hiện chuyên đề tài này, là giáo viên dạy trẻ 5-6 tuổi, tôi thấy
việc tạo môi trường chữ phong phú xung quanh trẻ góp phần tích cực và có
hiệu quả cao trong việc ôn luyện củng cố chữ cái tiếng Việt cho trẻ. Năm học
2013-2014, cùng chương trình giáo dục mầm non mới, bộ môn chữ cái cũng có
sự thay đổi so với những năm trước đó là không dạy trẻ tô viết chữ cái mà chỉ
dạy trẻ nhận biết phát âm đúng 29 chữ cái Tiếng Việt, và làm quen các loại
chữ in hoa, in thường, viết thường.
Vì vậy, tôi đã tìm tòi nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp tạo môi
trường chữ phong phú xung quanh trẻ. Tôi đã mạnh dạn dùng phiếu điều tra
chế, giáo viên ngại thiết kế hoặc kỹ thuật vi tính chưa đáp ứng.
-Về phía trẻ.
+ Khả năng làm quen chữ in hoa và in thường còn hạn chế, còn nhiều bỡ ngỡ.
+ Trẻ chưa nhËn biÕt rõ mối quan hệ giữa từ và lời nói.
+ Trẻ hoạt động chưa chủ động, chưa tích cực, chưa tự nguyện hứng thú
tham gia vào các hoạt động khám phá có sự định hướng của cô.
- Về phía phụ huynh :
Đã hiểu rõ tầm quan trọng của việc dạy trẻ LQCV nhưng quá lo lắng và
thường đòi hỏi kiến thức quá cao với trẻ (Chương trình tập viết, đánh vần lớp
1) mà chưa nắm được trẻ 5 tuổi cần có kiến thức và kĩ năng như thế nào của
môn học LQCV.
Từ những nguyên nhân hiÖn tr¹ng nªu trên tôi đã mạnh dạn nghiên cứu
và đưa ra 1 số biện pháp tạo môi trường chữ xung quanh lớp học để khắc phục
hiện trạng từ phía giáo viên.
2. Giải pháp thay thế
Sau khi nghiên cứu rõ hiện trạng và các nguyên nhân khi tổ chức hoạt
động gãc cho trẻ cần tạo môi trường chữ cho trẻ bằng các giải pháp sau :
1.1. Lựa chọn tên góc chơi và các mẫu chữ phù hợp với trẻ.
1.2. Làm giàu vốn từ cho trẻ và tạo cơ hội cho trẻ tiếp xúc với chữ tiếng
Việt qua việc gắn tên vào các đồ dùng đồ chơi, các giá góc, qua các biểu bảng,
danh sách lớp.
1.3. Lôi cuốn, kích thích tò mò ham hiểu biết của trẻ vào chữ từ tại góc
sách (Thư viện).
1.4. Gây hứng thú để trẻ chủ động tích cực tham gia vào hoạt động công
nghệ thông tin nhằm ôn luyện củng cố chữ cái.
1.5.Tích cực làm tốt công tác tuyên truyền với phụ huynh về môn học
LQCV của trẻ 5-6 tuổi.
Để các giải pháp có hiệu quả cô giáo cần chuẩn bị ngành học liệu cũng
như nội dung mỗi chủ đề dạy. Ngoài ra cần có biện pháp thích hợp nhằm kích
thích hướng trẻ vào các họat động sao cho trẻ tham gia một cách tự nguyện
Trẻ 2 nhóm lớp này đều nhanh nhẹn khỏe mạnh, hứng thú tham gia vào
các hoạt động.
Kết quả khảo sát chất lượng của 2 nhóm tương đương nhau.
2. Thiết kế:
Chọn 2 nhóm:
Nhóm thực nghiệm 5ª3: 20 cháu
Nhóm đối chứng 5A2:
20 cháu
Vì môn học chữ cái là môn mới đối với trẻ 5 tuổi, trẻ chưa được học bao
giờ mà có chăng chỉ là trẻ được làm quen bởi những người thân xung quanh.
Vì vậy tôi đã đo đầu vào của hai nhóm theo các tiêu chí:
- Tiêu chí 1: Nhận biết và phát âm 29 chữ cái tiếng Việt
- Tiêu chí 2: Khả năng phát hiện chữ cái trong từ
- Tiêu chí 3: Kỹ năng nhận biết và phát âm chữ in hoa, in thường, viết
hoa, viết thường.
- Tiêu chí 4: Khả năng nhËn biÕt vÒ mối quan hệ giữa từ và lời nói.
Kết quả đạt được như sau :
Bảng 1:
Các tiêu chí
4
Tổng
Số
trẻ
0đ
2đ
1đ
0đ
Thực
20
nghiệm
1
2
17
1
3
16
1
4
15
4
15
1,2đ
20
Nhìn vào bảng 1: Ta thấy sự chênh lệch điểm số trung bình của hai
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là tương nhau (1,1 ~1,2)
Sau thời gian thực hiện các biện pháp đối với nhóm thực nghiệm của lớp
mình tôi tiếp tục đo đầu ra của hai nhóm bằng các tiêu chí và đạt được các kết
quả như sau:
Bảng 2
Các tiêu chí
Nhóm
trẻ
Tổng
1
2
3
4
Số
(điểm
trẻ TX TT CXH TX TT CXH TX TT CXH TX TT CXH
TB)
2đ 1đ
0đ
2
0
7.6
Đối
chứng
10
4
6
11
5
4
12
3
5
10
thực nghiệm
7.6
Đối chứng
1,2
Dạy theo biện pháp
đang hiện hành
5.4
3. Quy trình nghiên cứu:
5
Nhóm đối chứng cô Liễu dạy theo biện pháp thông thường vẫn áp dụng
tại lớp 5A2, không sử dụng các biện pháp thực nghiệm.
*Nhóm thực nghiệm:
Thực hiện theo thiết kế hoạt động có sử dụng biện pháp thực nghiệm.
Thời gian tiến hành thực nghiệm theo kế hoạch hoạt động của trường đề ra
theo các chủ đề trong năm như sau:
Bảng 4
Tháng/năm
Tên chủ đề
Tên hoạt động
TGĐV
Tổ chức các góc có gắn chữ in hoa, in thường, viết
hoa, viết thường bằng các tuýp chữ gắn liền hình
ảnh minh họa qua: đồ chơi bằng con vật các loại
truyện thơ, album về các con vật..)
T1/2012
Tết Nguyên
Đán
- Tổ chức cho trẻ chơi các góc chơi có gắn các tuýp
chữ kèm hình ảnh minh họa về mâm quả ngày tết,
bánh mứt,…
TGTV
- Tổ chức trẻ chơi các góc chơi có gắn các tuýp chữ
kèm hình ảnh minh họa học vẽ các loại cây, cỏ,
hoa, quả…
Ngày hội 8/3
- Tổ chức cho trẻ chơi các góc có gắn các tuýp chữ và
hình ảnh minh họa theo CĐ ngày hội 8/3 : quà tặng
mẹ, bó hoa tặng cô, thơ “Bó hoa tặng cô”, truyện…
T8/2011
- Quê hương – học: Tiểu học, Bác Hồ, Cát Bi, Hải An, Hải
Đất nước – Bác Phòng…
Hồ - trường
Tiểu học
4. Đo lƣờng:
a. Trước tác động:
Việc tạo môi trường để tổ chức hoạt động góc chủ yếu giáo viên quan
tâm đến kỹ năng chơi như các độ tuổi khác. Chữ chỉ là trang trí và phục vụ cho
cô giáo và người kiểm tra hiểu các trò chơi, các cách chơi của cô (Cô Liễu lớp
5A2 vẫn tổ chức hoạt động diễn ra như thói quen cũ của lớp).
b. Sau tác động:
Ngoài việc tạo ra môi trường theo từng chủ đề, chủ điểm khác nhau và
việc quan tâm đến kỹ năng chơi; đối với trẻ 5-6 tuổi lớp tôi được học môn học
mới đó là LQCV, tôi tận dụng cơ hội cho trẻ ôn luyện củng cố các chữ đã học
theo từng giai đoạn tương ứng với từng chủ điểm.
MÔ TẢ THỰC NGHIỆM
* Biện pháp 1: Vì sao phải tạo môi trƣờng chữ trong lớp học?
Như chúng ta đã biết, đối với trẻ mầm non, lớp học chính là mái nhà thứ
hai của trẻ. Cảm giác đầu tiên khi bé bước vào cửa lớp, phản xạ tự nhiên của
bé là nhìn xung quanh xem có những gì và có đẹp không, đặc biệt những gì
mới la. Vì vậy, các mảng chính rong lớp học đó là mảng chủ điểm, các góc
hoạt động là đối tượng đầu tiên khi trẻ bước vào lớp. Để trẻ hứng thú với các
mảng hoạt động, tôi đã tập chung trẻ cùng tham gia thảo luận dưới dạng kể
chuyện sáng tạo. Cuối cùng cô và trẻ đi đến thống nhất chọn tên của từng góc
chơi mỗi khi chuyển chủ đếm mới. Các tuýp chữ, có tên gọi ngây thơ,ngộ
nghĩnh, gần gũi trẻ, và bắt buộc phải có hình ảnh minh họa cho các tiêu đề ấy.
Như vậy sẽ thu hút đươc sự chú ý của trẻ, từ đó mục đích ôn luyện chữ đã học,
cung cấp vốn từ cho trẻ đạt hiệu quả tối đa.
Ví dụ: Góc gia đình
Tôi thống nhất với trẻ đặt tên góc: “Tổ ấm gia đình”, “mái ấm
5A3”…Trẻ được làm quen với từ “tổ ấm”, và được biết từ “tổ ấm” có chữ cái
đầu tiên là chữ T và chữ đã học là chữ: ô, â….
Nhưng với chủ điểm ngành nghề, tôi và trẻ lại thỏa thuận nhất trí đưa ra
tên: “bé tập làm nội trợ, bé nấu ăn...”. Ở đây, trẻ được cung cấp thêm từ “nội
trợ” và từ “nấu ăn”. Trẻ được ghép hoặc chép từ, được biết chữ cái đầu tiên
của từ mới đó, biết thứ tự trong từ và trẻ ghép hoàn chỉnh các từ mới đó.
Như vậy, qua mỗi chủ điểm tôi lại cung cấp thêm cho trẻ nhớ và tự viết
được nhiều từ mới và ôn luyện nhiều chữ cái đã học.
* Ôn luyện củng cố chữ cái và làm giàu vốn từ cho trẻ qua việc gắn
tên, gắn kí hiệu vào các đồ dùng đồ chơi trong lớp và giá góc:
Như chúng ta đã biết, đặc điểm tâm lí trẻ mầm non là “dễ nhớ dễ quên”. Vì
vậy, các kiến thức mới cung cấp cho trẻ là chủ yếu. Xong, nếu không được
thường xuyên ôn luyện trẻ sẽ nhanh chóng quên ngay khi lĩnh hội kiến thức khác.
Mặt khác, khi trẻ hoạt động trẻ thường cất lộn xộn đồ chơi không ngăn nắp,
vì vậy giáo viên thường phải mất thời gian sắp xếp lại đồ chơi cho trẻ sau khi
chơi. Như vậy rất vất vả cho cô mà trẻ lại không có thói quen lao động tự phục
vụ. Đặc biệt không được làm quen với tên gọi các tờ, các chữ cái Tiếng Việt
ghép thành từ đó.
8
Để khắc phục tình trạng này tôi xếp đồ dùng đồ chơi trên giá góc gọn, đẹp,
khoa học, sao cho trẻ dễ lấy dễ cất, các đồ dùng trên giá góc phải tuân theo một
trật tự nhất định. Khi gắn tên cho đồ chơi tôi thường đàm thoại với trẻ:
Ví dụ: Với đồ chơi: con thỏ, cái làn, ti vi….
Tôi hỏi đây là cái gì? Chúng mình nhìn xem có viết (hoặc ghép) từ con
“thỏ” cho chúng mình xem nhé. Chữ cái đầu tiên trong từ “con thỏ” là chữ gì,
sau đó đến chữ gì?....Cứ như vậy tôi cho trẻ tri giác trọn vẹn từ “con thỏ” và
cuộc sống, gặp những hình ảnh, băng zôn, các từ các chữ…Trên đường phố trẻ
sẽ tự tin hơn, mở rộng hiểu biết hơn về từ, chữ Tiếng Việt cho trẻ.
Qua các chủ điểm, mỗi khi thay đổi đò dùng đồ chơi, thay đổi các tiêu đề trên
giá đồ chơi, tôi lại giới thiệu cho trẻ đồ dùng đồ chơi mới, giới thiệu chữ mới, từ
mới. Kết hợp áp dụng thực tế bên ngoài xã hội, cùng với việc giới thiệu chữ cái
của cô, trẻ có thể đọc được nhiều từ trong sách báo và thực tế. Và tôi thấy rằng đó
thực sự là môi trường chữ cho trẻ vô cùng phong phú và có hiệu quả
9
* Tạo cơ hội để trẻ đƣợc tiếp xúc với nhiều chữ thông qua các biểu
bảng, danh sách lớp phân theo nhóm tổ (4 tổ) trong lớp học:
- Ngay từ đầu năm học, khi đã ổn định danh sách lớp, tôi tạo cơ hội để trẻ
tiếp xúc với chữ, từ, tên của mình, của bạn bằng cách: Viết các danh sách theo
4 tổ có kèm theo ký hiệu để trẻ biết tên của mình ở tổ nào, có những bạn nào
trong tổ của mình. Chữ của trẻ tôi thường viết ở dạng chữ viết thường và viết
hoa(vì đây là danh từ riêng). Trẻ được khắc sâu hình ảnh tên mình và có được
làm quen với chữ thường và viết hoa, trẻ có thể quan sát tập chép theo mẫu ở
vào giờ hoạt động góc và đón trả trẻ. Và trẻ sẽ nhận ra tên mình trong các ký
hiệu của sách vở tập tô, khăn, trực nhật…
- Với các bảng biểu, tôi nghĩ đây cũng là khoảng không gian không nhỏ
tác động đến trẻ. Vì vậy, tôi đã trang trí các biểu bảng có tên gọi bằng chữ cái
Tiếng Việt cơ bản để hàng ngày trẻ nhìn thấy, trẻ nhận mặt chữ, đọc tên và ghi
nhớ các từ trong bảng, biết đó là bảng gì, có chữ gì, từ gì .
Ví dụ: Bảng trực nhật, bảng theo dõi thời tiết, bảng điểm danh, bảng
thực đơn, bảng theo dõi sức khỏe…Hàng ngày trẻ được chọn ảnh cắm ảnh trực
nhật, điểm danh, biết hôm nay là thứ mấy, ngày bao nhiêu, thời tiết như thế
nào ?
*Biện pháp 2: Ôn tập cũng cố việc nhận viết chữ và cung cấp từ mới thông
qua tạo chữ ngoài môi trƣờn lớp học :
ảnh
ĐÓN TRẺ
ảnh
TẬP THỂ DỤC
ảnh
HOẠT ĐỘNG CHUNG
ảnh
HOẠT ĐỘNG GÓC
Hay tên chủ điểm viết dạng “ thế giới thực vật”, các tranh ảnh, cỏ, cây, hoa,
lá… có kèm theo từ, chữ … in thường để trẻ có thể tự đọc.
* Ngoài ra tôi cho trẻ một mảng hoạt động để hàng ngày trẻ tập ghi số điện
thoại, chép tên và địa chỉ của cá nhân mình… Từ đó trẻ ghi nhớ các từ, chữ,
tên, địa chỉ của mình, biết mình tên là gì, nhà ở đâu?…
* Góc thiên nhiên ngoài trời:
Đây là nơi mà trẻ tiếp xúc mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm trong ngày.
Tạo môi trường chữ có kèm hình ảnh cho trẻ không những giúp trẻ hiểu biết về
thế giới các loài cây, loài hoa, biết các giai đoạn phát riển của cây, hiện tượng
thử nghiệm khoa học… mà còn có thể ghi chép “ hiện tượng” mà trẻ theo dõi
hàng ngày.
Ví dụ 1: Tôi gắn tiêu đề cho góc: “ vườn ươm cây cảnh” và tôi làm các biển
cắm có chữ ghi tên cây có kèm hình ảnh.
(hình)
Cây hoa cúc
Cho trẻ tri giác chữ, từ dưới mỗi hình ảnh trong biển cắm,, tôi đều yêu cầu trẻ
rồi đến chữ h rồi đến chữ e… Trong suốt quá trình hoạt động tích cực như vậy,
bản thân trẻ lại một lần nữa khắc sâu hình ảnh chữ cái và từ.
Ví dụ 2: Cô tổ chức cho trẻ cùng làm album và truyện tranh chữ to theo
chủ điểm. Nếu là chủ điểm “thế giới thực vật”, cô và trẻ sưu tầm tập album về
các con: mèo, chó, gà, vịt… Tôi yêu cầu trẻ sưu tầm chữ trong họa báo cắt và
ghép từ “ con mèo”, con chó”,…dán dưới hình ảnh các con tương ứng. Một
điều tôi luôn lưu ý nhắc trẻ là phải ghép lần lượt từ trái sang phải, hét chữ này
đến chữ khác trong từ, hết từ này chuyển sang từ khác bên cạnh phía phải.
Trẻ được tham gia hoạt động tích cực như vậy, trẻ rất hứng thú và biết trân
trọng những sản phẩm mình tạo ra. Đặc biệt các chữ, các từ mà trẻ tự tay sưu
tầm, cắt, dán đó thực tế cho thấy trẻ nhớ chữ, nhớ từ rất lâu.
* Giải pháp 4: Ôn luyện củng cố chữ, vốn từ cái thông qua việc làm
quen công nghệ thông tin:
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức của trẻ, đồng thời thực hiện mục tiêu nhiệm
vụ năm học của nhà trường giao. Đó là việc ứng dụng công nghệ thông tin,
giáo án điện tử vào giảng dạy. Qua việc khai thác trò chơi kidsmart và happy
kids:
+ Tôi lấy ý tưởng từ ngôi nhà sách của Bailey’s trong chương trình
kidsmart, tôi cho trẻ được ôn luyện chữ bằng cách tìm tranh có chứa chữ cái cô
vừa dạy, tự in và gạch chân chữ vừa tìm được.
+ Cũng từ ý tưởng trong ngôi nhà sách của Bailey’s, tôi tổ chức cho trẻ ôn
luyện chữ đã học thông qua trò chơi” Đuổi hình bắt chữ”. Tôi thiết kế các
hình ảnh ngộ nghĩnh phù hợp với các chủ điểm, có các chữ minh họa cho các
hình ảnh, yêu cầu khi chơi trẻ oải tìm đúng chữ với hình ảnh.
Ví dụ: hình ảnh hoa hồng (chủ điểm thế giới thực vật), trẻ phải ghi nhớ hình
ảnh hoa hồng có 7 chữ cái, bắt đầu là chữ h, sau đó là… theo quan sát của trẻ.
Trẻ chơi nhiều lần trẻ càng nhớ lâu từ, chữ đã học.
+ Hay với các giờ dạy trẻ tô chữ: tôi tận dụng chương trình happy kids
bằng cách cho trẻ thực hành tự điều khiển chuột trên máy tính để quan sát thao
tác tô chữ trên máy với 3 kiểu chữ (in hoa, in thường, viết thường). Trẻ được
1,2
5.4
1.2
Thực nghiệm
20
1,1
7.6
6.5
Nhóm
Kết quả trên chứng minh rằng trước thực nghiệm, 2 nhóm trước thực nghiệm
là tương đương. Sau tác động kiểm chứng chênh lệch. Kết quả điểm trung bình
nhóm thực nghiệm cao hơn điểm trung bình của nhóm đối chứng ( 6.5 > 1.2)
Với kết quả này chúng tỏ những biện pháp mà tôi hướng dẫn trẻ 5-6 tuổi qua
môi trường hoạt động góc có thể chấp nhận được. Do vậy giả thiết khoa học
mà tôi đưa ra ban đầu là đúng và được chứng minh
V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1/ Kết luận
Qua việc tạo môi trường chữ cho trẻ, tôi nhận thấy việc tạo môi trường
chữ cho trẻ vô cùng quan trọng. Nó vừa hợp với chương trình đổi mới hiện
nay, vừa phát huy được tính tích cực tò mò khám phá của trẻ mà lại mang lại
hiệu quả cao. Khi tổ chức cần lưu ý một số vấn đề:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng 1 số tài liệu:
- Quá trình đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục theo hướng
tích hợp chủ đề (nhà xuất bản giáo dục)
- Tham khảo mẫu viết đề tài…
- Tuyển chọn TC, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề 5-6t, nhà xuất
bản HN 2006.
- Sách thiếu nhi và GD trẻ em lứa tuổi mầm non (NXB Đại học sư phạm Hà
Nội 2003).
- Giúp trẻ hứng thú và phát triển trí tuệ trong hoạt động tạo hình – NXB
Giáo dục.
14
VII. PHỤ LỤC
1. Mẫu phiếu điều tra
PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN
Họ tên:…………………………………………….................
Trình độ đào tạo:…………………. Số năm công tác:………
Nơi ở hiện nay:………………………………………………
Để ôn luyện củng cố chữ cái Tiếng Việt cho trẻ 5 – 6 tuổi, xin chị vui lòng
trả lời những câu hỏi sau:
(Đánh dấu x vào ý đúng)
- Câu 1: Theo chị việc ôn luyện củng cố chữ cho trẻ có tầm quan trọng
như thế nào đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 – 6 tuổi:
+ Rất quan trọng
+ Quan trọng
+ Không quan trọng.
- Câu 2: Theo chị việc ôn luyện củng cố chữ cho trẻ 5 – 6 tuổi trong môi
trường HĐ góc có ảnh hưởng đến việc dạy trẻ LQCV hay không?
Hoàng Ngọc Quỳnh Anh
Trần Thảo Linh
2
Vũ Huyền Chi
Khúc Trang Linh
3
Hoàng Trung Dũng
Phạm Vũ Đức Long
4
Vũ Thành Đạt
Hoàng Anh Minh
5
Trần Tiến Đạt
Nguyễn Chí Nam
6
Vũ Thị Khánh Huyền
Trần Minh Phúc
12
Phạm Thị Thanh Huyền
Lâm Ngọc Phúc
13
Nguyễn Thành Hưng
Nguyễn Hà Phương
14
Phạm Duy Khánh
Vũ Minh Phương
15
Trần Quốc Khánh
Phạm Đức QuangVinh
16
- Quy định mức độ chưa xuất hiện (CXH) là 0 điểm, thỉnh thoảng (TT) là 1
điểm, thường xuyên (TX) là 2 điểm.
Ví dụ:
16
- Để tính điểm tổng trung bình : Lấy số điểm trẻ đạt được theo quy định
cộng tổng cả 3 mức độ lại chia trung bình cho 20 trẻ.
Ví dụ: bảng 1 nhóm thực nghiệm
- CXH: 6 trẻ x 0 điểm = 0 điểm
- TT: 14trẻ x 1 điểm = 14 điểm
- TX: 4 trẻ x 2 điểm = 8 điểm
Tổng 3 mức độ = 22 điểm . Lấy 22 điểm chia trung bình cho 20 trẻ ta được
điểm tổng trung bình là 1,1điểm.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Hải Phòng, ngày 06 /01/2014
Ngƣời viết
Hoàng Thị Thu Hà
17
MỤC LỤC
Nội dung
Stt
Trang
6
VI. Tài liệu
13
7
VII. Phụ lục
14
18