ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ HUYỀN
NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG NHÂN GIỐNG LAN KIM
TUYẾN (Anoectochilus setaceus) BẰNG KĨ THUẬT NUÔI
CẤY MÔ – TẾ BÀO
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGÀNH: SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Tâm
Thái Nguyên, năm 2013
1
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài, em luôn nhận được sự sự giúp đỡ, chỉ bảo, đóng
góp ý kiến hết sức quý báu của thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học sư phạm – Đại học Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá
trình học tập và nghiên cứu đề tài.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS Nguyễn Thị Tâm, người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo để em hoàn thành đề tài.
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn KTV Trần Thị Hồng phòng thí nghiệm Công nghệ
Tế bào đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em tiến hành các thí nghiệm của đề tài.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè luôn quan tâm, ủng
hộ và tạo động lực cho em để em hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình làm đề tài không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được
1.2.4. Quy trình nhân giống in vitro ........................................................................... 10
1.2.5. Một số thành tựu trong nhân giống in vitro ..................................................... 11
Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 16
2.1. Vật liệu thực vật ..................................................................................................... 16
2.2. Hóa chất, thiết bị ..................................................................................................... 16
2.3. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 18
2.3.1. Phương pháp pha môi trường nuôi cấy ............................................................. 18
2.3.2.Thăm dò môi trường nuôi cấy .............................................................................. 19
2.4. Tính toán kết quả
................................................................................................. 20
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ............................................................. 21
3
3.1. Ảnh hưởng của BAP lên sự phát sinh chồi và tạo protocorm của lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus)
...........................................................................................21
3.2. Ảnh hưởng của kinetin lên sự phát sinh chồi và tạo protocorm của lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus) ...............................................................................................26
3.3. Thăm dò ảnh hưởng của α- NAA đến sự phát sinh rễ của lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus)
............................................................................................30
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................................35
ở lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) sau 8 tuần nuôi cấy .................................. 25
Hình 3.2. Ảnh hưởng của BAP tới sự phát sinh chồi và tạo protocorm ở lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus) sau 8 tuần nuôi cấy ............................................................. 26
Hình 3.3. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các nồng độ kinetin tới sự phát sinh chồi và tạo
protocorm ở lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) sau 8 tuần nuôi cấy ................ 29
Hình 3.4. Ảnh hưởng của kinetin tới sự phát sinh chồi và tạo protocorm ở lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus) sau 8 tuần nuôi cấy ............................................................... 30
Hình 3.5. Biểu đồ so sánh ảnh hưởng của các nồng độ α – NAA tới sự ra rễ của lan Kim
Tuyến (Anoectochilus setaceus)................................................................................... 34
Hình 3.6. Ảnh hưởng của α – NAA tới sự ra rễ ở lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus)
sau 8 tuần nuôi cấy
....................................................................................
6
34
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- CT:
Công thức
- ĐC:
Đối chứng
- KTST:
trong họ lan (Orchidaceae). Cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) không những
được dùng làm cảnh mà còn là một loài thảo dược có giá trị và tiềm năng rất lớn. Cây
dùng làm thuốc chữa bệnh, tăng cường sức khỏe, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng
khuẩn, chữa ung thư [31].
Những loài lan quý ở Việt Nam được các chuyên gia nghiên cứu về phong lan
đánh giá rất cao [23]. Song quá trình nuôi trồng lan ở nước ta lại mang tính chất cá nhân
lẻ tẻ. Nguồn giống chủ yếu từ khai thác lan rừng trong khi nguy cơ cạn kiệt nguồn lan
rừng đang được báo động bởi tình trạng khai thác lan bừa bãi như hiện nay. Vì thế để đáp
ứng nhu cầu thị trường cũng như để thương mại hóa ngành sản xuất lan thì cần phải có
một nền kĩ thuật cao mà trước hết phải có một công nghệ nhân giống thật hiện đại. Đó
chính là công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật. Công nghệ này đã trải qua hơn một trăm
năm hình thành và phát triển, đem lại giá trị to lớn cho loài người [8]. Ở Việt Nam kĩ
thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng từ giữa những
năm 80 của thế kỉ XX. Những kết quả bước đầu trong nghiên cứu và ứng dụng đã đạt
8
được kết quả khả quan đối với một số đối tượng cây trồng như: chuối, khoai tây, phong
lan, lúa… [4],[8].
Với những giá trị rất lớn trong y học, hiện nay cây lan Kim Tuyến bị thu hái nhiều
tới mức cạn kiệt ngoài tự nhiên. Hiện nay lan Kim Tuyến được cấp báo thuộc nhóm IA
của nghị định 32/2006/CP, nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại [27] và là
nhóm thực vật rừng đang nguy cấp EN A1a,c,d trong sách đỏ Việt Nam [3].
Từ những thực tế trên đồng thời góp phần bảo tồn các loại lan rừng quý hiếm,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu môi trường nhân giống lan Kim
Tuyến (Anoectochilus setaceus) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm được môi trường thích hợp cho việc nhân giống lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus) trong ống nghiệm.
trong khi đó có loài hoa lan tỏa ra mùi khó chịu như thịt bị hỏng để hấp dẫn các loài côn
trùng [28].
1.1.2. Một vài nét giới thiệu về cây lan Kim Tuyến
1.1.2.1. Phân loại và phân bố của lan Kim Tuyến
Phân loại
Lan kim tuyến có tên khoa học là: Anoectochilus setaceus, ngoài ra còn có tên
khác là: Chrysobaphus roxburghi Wall., Anoectochilus roxburghii (Wall.) Wall. Ex Lindl
[26], hay Anoectochilus roxburglihayata [30].
10
Ở Việt Nam, lan Kim Tuyến được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: Cây Kim
Cương, lan Gấm, Kim Tuyến, Kim Tuyến Liên, Mộc Sơn Thạch Tùng, Thạch Tằm, Lá
Gấm [30] hay Kim Tuyến Tơ, Giải Thùy Tơ, Giải Thùy Roxburgh, Sứa Hồng, Lan Nhung
Sét, Hoa Hiệp Khai Thần Lan,… [28]; nhưng tên thường gọi là cây lan Kim Tuyến.
Lan Kim Tuyến thuộc Chi (genus):
Anoectochilus
Họ (familia):
Orchidaceae
Bộ (ordo):
Orchidales
Lớp (class):
1,0 - 4,0cm, trung bình là 2,2cm. Thân khí sinh thường mọng nước, nhẵn, không phủ
lông, thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt [12].
Rễ: được mọc ra từ các mấu trên thân rễ. Đôi khi rễ cũng được hình thành từ thân
khí sinh. Rễ thường đâm thẳng xuống đất. Thông thường mỗi mấu chỉ có một rễ, đôi khi
có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên thân rễ. Số lượng và kích thước rễ cũng
thay đổi tùy theo cá thể. Số rễ trên một cây từ 3-10, trung bình là 5,4. Chiều dài rễ thay
đổi từ 0,5cm - 8,0 cm. Rễ dài nhất trung bình là 6,7cm, ngắn nhất trung bình là 1,2cm.
Chiều dài trung bình của các rễ trên một cây là 3,8cm [12].
Lá: mọc cách, xoắn quanh thân cây, xòe trên mặt đất. Lá hình trứng, gần tròn ở
gốc, đầu lá hơi nhọn và có mũi ngắn, thường dài từ 3,0cm - 5,0cm, trung bình là 4,0cm,
và rộng từ 2,0-4,0cm, trung bình là 3,1cm. Lá có màu nâu đỏ ở bên trên và có lông phủ
mịn như nhung. Hệ gân có mạng lưới lông chim, thường có 5 gân gốc. Các gân này
thường có màu hồng ở mặt trên và nổi rất rõ. Đôi khi gân ở giữa có màu vàng nhạt. Mặt
dưới lá có màu nâu đỏ nhạt, nhẵn với 5 gân gốc nổi rõ. Các gân bên ở phía rìa lá nổi rõ,
gân ở giữa lá ở mặt dưới không rõ. Cuống lá dài 0,6cm - 1,2cm, thường nhẵn và có màu
trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá. Bẹ lá nổi rõ và nhẵn. Số lá trên một cây thay đổi từ
2 - 6 lá, thông thường là 4 lá. Kích thước của lá cũng thay đổi. Các lá trên một cây thường
có kích thước khác nhau rõ rệt [12].
Hoa quả: cụm hoa dài 10cm - 20 cm ở ngọn thân, mang 4-10 hoa mọc thưa. Lá
bắc hình trứng dài 6,0mm - 10mm, màu hồng. Các mảnh bao hoa dài khoảng 6,0 mm,
cánh môi màu trắng, dài đến 1,5cm. Ở mỗi bên gốc mang 6-8 dải hẹp, chẻ đầu đôi. Mùa
hoa tháng 10-12, mùa quả chín tháng 12-3 năm sau [12].
12
Hình 1.1 Hình ảnh cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus)
1.1.2.3. Một số ứng dụng của cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) trong y học
Theo Đông y, lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) có vị ngọt, hơi chát, tính
chẳng kém gì doping. Viện quân y Trung Quốc sử dụng Kim Tuyến (Anoectochilus
setaceus) cùng một số vị khác trong điều trị ung thư từ rất lâu rồi. Nhưng Kim Tuyến còn
có một tác dụng thần kì mà người Việt chưa biết đó là có khả năng tái tạo tế bào gan. Với
tác dụng này, lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) thực sự là thần dược, cỏ trường
sinh, quý hơn vàng ròng [30].
1.2. Kĩ thuật nuôi cấy in vitro trong công nghệ tế bào thực vật
Nhân giống in vitro (vi nhân giống) là quá trình sản xuất một lượng lớn cây hoàn
chỉnh từ các bộ phận, cơ quan như chồi, mắt ngủ, đoạn thân, lá… của cây mẹ ban đầu
thông qua kĩ thuật nôi cấy in vitro. Khái niệm nuôi cấy mô tế bào thực vật dùng để chỉ tất
cả các phương pháp nuôi cấy sử dụng nguyên liệu thực vật sạch (tế bào đơn, mô,…) trên
môi trường nhân tạo ở điều kiện vô trùng [4].
1.2.1. Cơ sơ khoa học của kĩ thuật in vitro
Cơ sở khoa học của kĩ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật là tính toàn năng của
tế bào thực vật. Thuật ngữ tính toàn năng của tế bào thực vật được Habertland (Đức) đề
xuất năm 1902. Đó là mọi tế bào thực vật đều có khả năng biểu hiện toàn bộ tiềm năng di
truyền và phát triển thành cây hoàn chỉnh trong điều kiện nuôi cấy phù hợp. Nhờ cơ chế
nguyên phân các tế bào đều được sinh sản từ một tế bào gốc ban đầu. Nên chúng mang
thông tin di truyền giống nhau, giống với tế bào mẹ ban đầu và đều có khả năng phát triển
thành một cây hoàn chỉnh [4].
1.2.2. Các hướng nghiên cứu ứng dụng và ưu thế của kĩ thuật nhân giống in vitro
Nhân giống in vitro (vi nhân giống) là một trong những ứng dụng chính của công
nghệ tế bào thực vật, sử dụng sự phát triển nhân tạo và nhân các đặc điểm sinh trưởng
hoặc các mô phân sinh trong cây. Theo các công trình nghiên cứu, chỉ có đỉnh sinh
trưởng của chồi mới đảm sự ổn định về di truyền, tiếp đến là đỉnh mô phân sinh với kích
thước nhỏ và kết hợp xử lí nhiệt làm sạch bệnh là nguyên liệu tốt cho nhân giống [20].
14
Kĩ thuật nhân nhanh giống được sử dụng nhằm mục đích: (1) Duy trì và nhân
Cây phát triển từ chồi nách,
-
Cây phát triển từ chồi mới phát sinh.
15
Ở lan có sự phát triển qua giai đoạn dẻ hành (protocorm) cùng một lúc đỉnh sinh
trưởng tạo hàng loạt protocorm và các protocorm lại tiếp tục phân chia cho ra các
protocorm mới hay các chồi mới tạo cây hoàn chỉnh [4].
1.2.3.2. Tái sinh cây hoàn chỉnh từ các bộ phận khác của cây
Ngoài mô phân sinh và đỉnh sinh trưởng là bộ phận dễ nuôi cấy thành công các bộ
phận còn lại của một cơ thể thực vật đều có thể ứng dụng cho việc nhân giống in vitro [4]
như các đoạn thân, mảnh lá, cuống lá, các bộ phận của hoa, nhánh củ…
1.2.3.3. Nhân giống qua giai đoạn mô sẹo
Trong khuôn khổ của mục đích nhân giống vô tính, nếu tái sinh được cây hoàn
chỉnh trực tiếp từ mẫu cấy ban đầu thì không những nhanh chóng thu được cây mà các
cây cũng đồng nhất về mặt di truyền. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp mô nuôi cấy
không tái sinh cay ngay mà phát triển thành khối mô sẹo. Tế bào mô sẹo khi cấy nhiều lần
sẽ không ổn định về mặt di truyền. Thông qua mô sẹo có thể thu được những cá thể sạch
virút như trường hợp của Kehr và Sechaffer thu được ở tỏi.
Một phương hướng nhân giống vô tính nữa là tạo phôi soma từ tế bào mô sẹo. Cho
đến nay thành công ở hai đối tượng đó là: Cà rốt (Daucus carota) và thuốc lá (Nicotiana
tabacum) [4].
1.2.4. Quy trình nhân giống in vitro
Theo Đỗ Năng Vịnh (2002) quy trình nhân giống in vitro gồm 5 giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị vật liệu khởi đầu
Vì trong nuôi cấy cây con sẽ mang lại những đặc tính và tính trạng của cây mẹ ban
Đối với các cây khác như mía, hoa cúc, phong lan sau một năm có thể nhân lên 1.000.000
chồi từ cây mẹ ban đầu [20].
Giai đoạn 4: Tạo cây hoàn chỉnh
Các chồi được hình thành trong quá trình nuôi cấy có thể phát rễ tự sinh, nhưng
thông thường các chồi này phải chuyển sang một môi trường khác để ních thích tạo rễ. Ở
một số loài khác thì các chồi sẽ tạo rễ trước khi chuyển trực tiếp ra đất, thông thường giai
đoạn này cần 2-8 tuần [16].
Giai đoạn 5: Chuyển ra đất trồng
17
Đây là giai đoạn đầu cây được chuyển từ điều kiện vô trùng của phòng thì nghiệm
ra ngoài môi trường tự nhiên, giai đoạn này quyết định khả năng ứng dụng của quy trình
nhân giống in vitro. Đối với một số loài có thể chuyển cây ra đất khi cây chưa có rễ, nhưng
đối với đa số các loài cây trồng thì sau khi chồi đã tạo rễ và tạo cay hoàn chỉnh mới được
đưa ra vườn ươm. Qúa trình thích nghi với điều kiện bên ngoài của cây yêu cầu được chăm
sóc đặc biệt. Vì vậy khi chuyển từ môi trường bão hòa hơi nước sang vườn ươm với những
điều kiện khó khăn hơn nên vườn ươm cần phải đáp ứng các yêu cầu: che cây con bằng
nilon bao phủ, có hệ thống phun sương cung cấp độ ẩm và làm mát cây, giá thể trồng cây
có thể là đất mùn, hoặc các hỗn hợp nhân tạo không chứa đất, mùn cưa và bọt biển, giai
đoạn này thường đòi hỏi 4-16 tuần [20].
1.2.5. Một số thành tựu trong nhân giống in vitro
Nuôi cấy mô tế bào thực vật đã được hình thành và phát triển từ những năm 80 của
thế kỉ XX và đã được ứng dụng trong các lĩnh vực: Nhân giống vô tính in vitro, nuôi cấy
mô phân sinh hoặc đỉnh sinh trưởng để tạo cay sạch bệnh, bảo quản nguồn gen in vitro,
tạo phôi vô tính và hạt nhân tạo [23].
Kĩ thuật nuôi cấy mô đã được trên 600 công ty lớn trên thế giới áp dụng để nhập
khoảng 500 triệu cây giống trong một năm ở các giống cây trồng khác nhau. Dự kiến trên
thị trường cây giống, kĩ thuật nuôi cấy mô thu được khoảng 15 tỉ USD/năm và tốc độ tăng
kháng sâu đục thân [23].
Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho nhũng loài cây ăn
quả nhiệt đới phát triển. Hiện nay, nươc ta có rất nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả
dược mở rộng, phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu, nhu cầu công nghiệp chế biến nước hoa
quả. Bằng công nghệ nuôi cấy mô –tế bào thực vật đã co nhiều công trình được công bố
trên các đối tượng khác nhau như: đu đủ, dứa, mía….
Bùi Thị Tường Thu và cộng sự (2003), đã tiến hành vi nhân giống cây đu đủ (
Carica papaya linn) từ chồi đỉnh sinh trưởng của cây trưởng thành kích thước 1,0cm –
1,5cm được khử trùng và cấy trên môi trường MS cơ bản có bổ sung các chất kích thích
sinh trưởng BAP, IAA, NAA, IBA, Nước dừa. Kết quả đã đưa được quy trình nuôi cấy in
vitro là 30 ngày. Cây con sinh trưởng và phát triển bình thường ngoài môi trường tự nhiên
[22]. Lâm Ngọc Phương và cộng sự (2003) đã tiến hành nhân giống dưa hấu tam bội [14].
19
Trên đối tượng cây cảnh và cây hoa cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và
có nhiều công trình công bố. Hoàng Thị Giang và cộng sự (2010) nghiên cứu nhân giống
in vitro và nuôi trồng giống lan Hài P. hangianum perner Gurss (Hài Hằng). Kết quả
nghiên cứu cho thấy, môi trường nhân nhanh protocorm và tạo chồi là môi trường RE có
bổ sung nước dừa 150ml/l và chuối chín 100g/l cho hệ số nhân cao nhất (4,3 lần). Bổ
sung α-NAA 0,4mg/l - 0,6mg/l vào môi trường cho khả năng ra rễ tốt nhất [5].
Phùng Văn Phê và cộng sự (2010) nghiên cứu kỹ thuật nhân nhanh chồi in vitro lan
Kim tuyến Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl. Tác giả kết luận, môi trường cơ bản là
phù hợp nhất để nhân nhanh chồi lan Kim tuyến in vitro. Thể chồi 8 tuần tuổi từ phôi hạt
chín và chồi từ thể chồi cao từ 2-3cm là phù hợp nhất để nhân nhanh trong môi trường
thích hợp KC, bổ sung BAP 0,5mg/l + Kinetin 0,3mg/l + NAA 0,3mg/l + nước dừa
100ml/l + dịch chiết khoai tây 100g/l + saccharose 20g/l + agar 7,0g/l + than hoạt tính
0,5g/l [13]. Nguyễn Quang Thạch và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu xây dựng
quy trình nhân giống và nuôi trồng phong lan Phalaenopsis (lan Hồ Điệp). Giống lan Hồ
cứu cũng thấy rằng, cần thiết nuôi cấy tế bào soma trong điều kiện có chiếu sáng trên môi
trường bán rắn và lỏng [24].
21
Chương 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu là giống lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus) (sạch, trong
ống nghiệm) do phòng Công nghệ tế bào thực vật – Viện Công nghệ sinh học (Institute of
Biotechnology, IBT) (Hoàng Quốc Việt- Cầu Giấy- Hà Nội) cung cấp. Giống lan Kim
Tuyến (Anoectochilus setaceus) là các chồi in vitro có kích thước tương đối đều nhau
đang trong giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng.
2.2. Hóa chất và thiết bị
Hóa chất
Các chất kích thích sinh trưởng thuộc nhóm auxin và xitokinin, đường glucose,
agar, than hoạt tính, ngoài ra có bổ sung thêm nước dừa, chuối, khoai tây.
Các thí nghiệm được tiến hành trên môi trường cơ bản PM (Phytamax).
Bảng 2.1. Thành phần cơ bản của môi trường PM
STT
Thành phần
Nồng độ
Na2MoO4.2H2O
0,125
2
KH2PO4
85,5
PM4
3
KNO3
950,0
13
FeSO4.7H2O
27,8
4
MgSO4.7H2O
90,35
KI
0,415
16
Pyridoxine HCl
0,50
8
MnSO4.4H2O
8,45
17
Nicotinic acid
0,50
22
9
ZnSO4.7H2O
-
Cân điện tử của Đức và một số dụng cụ liên quan khác
2.3. Phương pháp nghiên cứu
MÉu gièng
T¹o protocorm
T¹o ®a chåi
T¹o ®a chåi
T¹o rÔ
C©y hoµn chØnh
§a c©y ra m«i trêng tù nhiªn
H×nh 2.1. S¬ ®å thÝ nghiÖm nhân giống lan Kim Tuyến (Anoectochilus setaceus)
2.3.1. Phương pháp pha môi trường nuôi cấy
*Nguyên tắc:
Pha môi trường đặc với thành phần, nồng độ và các chất phù hợp. Môi trường cơ bản
là PM, có đầy đủ muối khoáng, các chất hữu cơ, vitamin…Tất cả các hóa chất phải được
23
tan đều, không kết tủa. Môi trường có bổ sung chất độn là thạch làm giá đỡ không quá rắn
hay quá mềm để khi cấy mẫu được dễ dàng. Khử trùng môi trường theo phương pháp
thanh trùng Pasteur [4].
*Các bước pha môi trường nuôi cấy:
Sau khi xác định công thức môi trường cần pha, tính thể tích hóa chất cần sử dụng
Để tìm ra môi trường nuôi cấy tối ưu cho nhân chồi và ra rễ ở lan Kim Tuyến,
chúng tôi đã bố trí thí nghiệm thăm dò môi trường nuôi cấy. Tất cả các công thức (CT)
môi trường nuôi cấy đều sử dụng nền môi trường PM + 30g đường glucose + 8,5g thạch
agar + 1g than hoạt tính + 100ml nước dừa + 40g khoai tây + 40g chuối và bổ sung các
chất kích thích sinh trưởng (KTST) (NAA, BAP, kinetin).
1. Môi trường nhân chồi: Các chồi giống được cấy lên môi trường nhân chồi bổ sung
BAP hoặc kinetin với các nồng độ: 0,5mg/l – 0,7mg/l – 0,9 mg/l - 1mg/l. Mỗi CT
thí nghiệm được tiến hành trên 30 mô, lặp lại 3 lần. Kết quả được đánh giá sau 4 –
6 – 8 tuần nuôi cấy.
2. Môi trường tạo rễ ( Môi trường tạo cây hoàn chỉnh): Sử dụng chất kích thích sinh
trưởng α-NAA nồng độ gồm: 0,1mg/l – 0,3mg/l – 0,5mg/l. Mỗi CT thí nghiệm
được tiến hành trên 30 mô, lặp lại 3 lần. Theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của
cây thông qua sự phát sinh rễ, lá, kích thước rễ, kích thước lá sau 4 – 6 – 8 tuần
nuôi cấy.
2.4. Tính toán ra kết quả
Các số liệu về tỉ lệ sống, tỉ lệ tạo chồi, tỉ lệ tạo protocorm, số chồi trung bình/1 mô,
chiều cao trung bình của chồi, số rễ/cây, chiều dài trung bình của rễ, số lá/cây… thu thập
sau thời gian 4 – 6 – 8 tuần nuôi cấy, xử lí số liệu bằng chương trình Excel [10].
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của BAP tới sự tạo chồi và protocorm của lan Kim Tuyến
(Anoectochilus setaceus) trong ống nghiệm
25