Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một trong những công nghệ quan
trọng của ngành Công nghệ sinh học hiện đại. Công nghệ nuôi cấy mô tế
bào thực vật đã được thực hiện ở nước ta từ những năm 1960 tại miền
Nam và đầu những năm 1970 tại miền Bắc. Tuy nhiên chỉ những cuối
năm 1980 trở lại đây, công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật mới phát
triển mạnh mẽ và được đưa vào ứng dụng. Trong đó kĩ thuật nuôi cấy mô
tế bào thực vật là một trong những kĩ thuât chính. Những thành công của
kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật đã chứng tỏ khả năng ứng dụng hiệu
quả trong nhiều lĩnh vực, trong đó có bảo tồn ex situ những nguồn gen
quý hiếm. Kĩ thuật nuôi cấy mô cho phép chúng ta nhân nhanh một lượng
lớn cây giống trong ống nghiệm mà chỉ cần số lượng mẫu ít (thậm chí chỉ
cần một chồi). Ngoài ra, kĩ thuật nhân nhanh trong ống nghiệm nhằm tạo
ra một quần thể cây con có chất lượng đồng đều về mặt di truyền.
Hiện nay, cây Ngưu tất được trồng và mọc chủ yếu ở Sapa, Tam
Đảo, Hà Nội... Do chúng được sử dụng khá phổ biến trong y học cổ truyền
với nhu cầu ngày càng tăng như: làm giảm cholesterol trong máu, hạ huyết
áp, hỗ trợ điều trị ung thư, chữa trị các bệnh về khớp…
Xuất phát từ cơ sở trên, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu phương pháp tạo đa chồi để nhân nhanh cây Ngưu tất
(Achyranthes bidentata blume) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào
thực vật” nhằm nhân giống và bảo tồn nguồn gen cây Ngưu tất trong
ống nghiệm.
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
1
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
Mục đích và yêu cầu
Mục đích
Nghiên cứu quy trình nhân nhanh và bảo tồn cây Ngưu tất trong ống
Đồng Bằng Bắc Bộ: Hưng Yên; Hà Nội; các trung tâm nghiên cứu cây
trồng và chế biến cây thuốc [29].
Ngưu tất ưa đất thịt pha cát, tơi xốp, nhiều mùn. Đất phù sa cao ráo,
thoát nước rất phù hợp với cây Ngưu tất [32].
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
3
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
Thành phần hóa học
Rễ chứa các Saponin, khi thủy phân cho các Sapogenin là axit
oleanolic. Rễ Ngưu tất có chứa axitd oleanolic 0,096%, saponin toàn phần
4,04% và axit oleanolic α -L-rhamnopyranosyl - β - D- galactopyranosid.
Rễ còn chứa ecdysteron và inokosteron. Hàm lượng ecdysteron khoảng
0,037%. Ngoài ra còn có ecdysteron, inokosteron, glucose, galactose,
rhamnoza, muối kali và một số thành phần khác như betain,
polysaccharide, emodin, physcion [31].
1.1.2. Giá trị cây Ngưu tất
Giá trị y học
Ngưu tất vị đắng, chua, tính bình, quy vào hai kinh can, thận. Tác
dụng hoạt huyết, thông kinh, hoạt lạc, mạnh gân cốt, lợi niệu trừ sỏi, hạ
huyết áp, giảm cholesterol trong máu, giải độc chống viêm [30].
Tác dụng dược lý:
- Chống viêm rõ rệt đối với giai đoạn cấp tính và mạn tính của
phản ứng viêm.
- Gây teo tuyến ức chuột cống đực non. Tác dụng gây teo tuyến ức là
một trong những đặc tính của thuốc ức chế miễn dịch.
- Rễ Ngưu tất có tác dụng làm giảm cholesterol máu ở thỏ đã gây
tăng cholesterol từ ngoài vào và gây ức chế sự tổng hợp cholesterol trong
cơ thể thỏ; gây hạ huyết áp rõ rệt trên mèo, mức độ hạ áp từ từ, thời gian
tác dụng kéo dài. Có độc tính thấp.
- Chế phẩm Solamin trong thành phần có Ngưu tất và một số dược
+ Tế bào là đơn vị cấu trúc chức năng cơ bản của cơ thể sống, là hình thức
nhỏ nhất của sự sống.
+ Tế bào chỉ được tạo ra từ tế bào trước đó.
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
5
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
- Người đầu tiên là Haberlandt (1898) đề xuất ra lý thuyết về tính toàn năng
của tế bào, ông cũng là người đầu tiên đưa ra các giả thuyết của Schleiden
và Schwann vào thực nghiệm. Ông đã đề xuất phương pháp nuôi cấy mô tế
bào thực vật để chứng minh tính toàn năng của tế bào.
Theo ông, mỗi tế bào bất kì của cơ thể sinh vật đều mang toàn bộ
lượng thông tin di truyền cần thiết và đủ của cả cơ thể sinh vật đó. Vì vậy,
khi gặp điều kiện thích hợp mỗi tế bào đều có thể phát triển thành một cơ
thể hoàn chỉnh. Haberlandt đã nuôi cấy mô cây một lá mầm nhưng chưa
thành công.
- Đến năm 1922, Robbins và Kotte đã thành công trong nuôi cấy
đầu rễ cây hòa thảo kéo dài 12 ngày trong môi trường lỏng gồm có muối
khoáng, glucose.
- Năm 1934, White (Mỹ) đã nuôi cấy thành công trong một thời gian
dài đầu rễ cây cà chua với môi trường lỏng chứa muối khoáng, glucose và
nước chiết nấm men. Sau đó ít lâu White đã chứng minh là có thể thay thế
nước chiết nấm men bằng hỗn hợp 3 loại vitamin nhóm B: Thiamin (B1),
Piridoxin (B6), axit nicotinic. Cùng năm, Gautheret thành công trong việc
nuôi cấy mô tách từ mô tượng tầng của cây Salic apraea và cây Populus
nigra. Mô nuôi cấy đã phân chia liên tục trong môi trường Knop bổ sung
glucose và cysteinhyochloride.
- Went và Thimann (1937) đã phát hiện ra chất sinh trưởng thực vật
đầu tiên là axit β-indolaxetic (IAA) tác động lên quá trình phân chia tế bào và
hình thành rễ.
- Năm 1938 Gautheret đã thành công trong việc duy trì sự sinh
- Năm 1994 là năm đánh dấu cây cà chua đầu tiên (cà chua
Flav’rSav’r) có mặt trên thị trường thực phẩm Hoa Kì. Cùng năm 1994
giống củ cải đường mang gen kháng bệnh virus biến nạp được đưa vào sản
xuất đại trà tại Na Uy.
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
7
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
Đến nay đã có hàng trăm loài cây được nuôi cấy mô thành công với
nhiều mục đích khác nhau như nhân nhanh, bảo tồn in vitro, nuôi cấy bao
phấn… Đặc biệt, nhờ kĩ thuật nuôi cấy mô và chuyển gen thông qua giai
đoạn mô sẹo và tái sinh tạo chồi mà nhiều giống cây trồng chuyển gen đã
được tạo ra (cà chua, lúa, đậu tương, khoai tây, bông, đu đủ…) [15].
1.2.2. Cơ sở khoa học của kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật
Cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cấy mô và tế bào thực vật đó
là tính toàn năng của tế bào do Haberlandt nêu ra vào năm 1902. Theo
quan điểm của sinh học hiện đại thì tính toàn năng của tế bào là mỗi tế
bào riêng rẽ đó phân hóa, sẽ mang toàn bộ thông tin di truyền cần thiết
và đủ của cơ thể sinh vật. Khi gặp điều kiện thích hợp, mỗi tế bào đều có
thể phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh.
Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật là
kết quả của quá trình phân hóa và phản phân hóa tế bào. Như vậy, kĩ thuật
nuôi cấy mô và tế bào thực vật là kĩ thuật điều khiển sự phát sinh hình thái
của tế bào thực vật (khi nuôi cấy tách rời trong điều kiện nhân tạo và vô
trùng) một cách định hướng. Đây là một điểm rất quan trọng bởi vì trên cơ
sở đơn vị mô, tế bào, các nhà sinh vật học thực hiện những kĩ thuật tiên tiến
cho việc lựa chọn, cải thiện và lai tạo giống cây trồng [1] [13].
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cấy in vitro
Mẫu nuôi cấy
Muashige (1974) ghi nhận sự quan trọng của việc lựa chọn mẫu cấy
thích hợp, điều quan trọng cho thấy một số nhân tố khi chọn lọc mẫu bao
C. Theo
Murashige (1974) nhiệt độ ảnh hưởng sâu sắc đến sự sinh trưởng và phát
triển trong quá trình nuôi cấy in vitro qua những tiến trình sinh lý như hô
hấp hay hình thành tế bào cơ quan.
Cường độ ánh sáng: Cường độ ánh sáng là một nhân tố quan trọng
trong quang hợp, ảnh hưởng đến khả năng nuôi cấy in vitro cây lá xanh.
Ảnh hưởng của ánh sáng có liên hệ đến các loài, có loài chịu ánh sáng cao,
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
9
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
có loài chịu ánh sáng thấp hay tối, có loài chịu ánh sáng trung bình. Việc
nuôi cấy in vitro tốt nhất trong điều kiện ánh sáng từ 1000-3000lux [12].
Môi trường nuôi cấy
Lựa chọn môi trường nuôi cấy thích hợp trong nuôi cấy mô tế bào là
rất cần thiết. Vì mỗi loại cây trồng khác nhau đều cần một hàm lượng chất
dinh dưỡng khác nhau. Mặt khác môi trường cũng thay đổi tùy thuộc vào
sự phân hóa cua mô cấy, tùy theo trường hợp duy trì mô ở trạng thái mô
sẹo, tạo rễ, tạo chồi hay tái sinh cây hoàn chỉnh. Việc lựa chọn môi trường
cần dựa vào tài liệu đã cho cùng đối tượng nuôi cấy hoặc thăm dò một số
môi trường đã cho để xác định môi trường cho mẫu nuôi cấy.
Chất kích thích sinh trưởng thực vật (KTSTTV)
Các chất kích thích sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong kĩ
thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật. Bằng cách cung cấp các chất kích thích
ở một mức hợp lý thì chúng ta có thể điều khiển được quá trình phát sinh
hình thái của mẫu nuôi cấy. Auxin và Cytokinin là hai nhóm chất kích thích
sinh trưởng được sử dụng phổ biến nhất hiện nay.
Auxin là chất kích thích sinh trưởng thực vật được sử dụng thường
xuyên trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật. Auxin kết hợp chặt chẽ với các
thành phần khác trong môi trường dinh dưỡng để kích thích sự tăng trưởng
của mô sẹo, huyền phù tế bào và điều hòa sự phát sinh hình thái, đặc biệt là
Hàm lượng của các loại Cytokinin có tác dụng kích thích từ rễ đến
sự hình thành chồi bất định, đồng thời ức chế mạnh mẽ sự tạo thành rễ của
chồi nuôi cấy. Trong các loại Cytokinin nói trên thì BAP và Kinetin là hai
loại hay được sử dụng nhiều nhất.
Ngoài hai nhóm Auxin và Cytokinin, trong nuôi cấy mô tế bào thực
vật người ta cũng sử dụng thêm Gibberellin để kích thích sự kéo dài tế bào,
qua đó làm tăng kích thước của chồi nuôi cấy. GA (Gibberellic axit) là loại
Gibberellin được sử dụng thường xuyên nhất. Tuy nhiên, GA vẫn mẫn cảm
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
11
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
với nhiệt độ, nó mất hoạt tính đến 90% sau khi hấp vô trùng. Vì vậy, muốn
sử dụng GA ta thường phải lọc qua màng lọc vô trùng, sau đó đưa vào môi
trường nuôi cấy [16].
1.2.4. Các phương pháp nhân giống in vitro
Phương pháp nhân giống in vitro đã bổ sung cho các kĩ thuật nhân
giống vô tính cổ điển như giâm cành,chiết cành, ghép cành, tách dòng…
Nhân giống in vitro hay vi nhân giống trong ống nghiệm là một trong bốn
lĩnh vực ứng dụng chính của công nghệ tế bào thực vật (làm sạch virus,
nhân nhanh các giống cây quý, sản xuất và chuyển hóa sinh học các hợp
chất tự nhiên và cải biến về mặt di truyền các giống cây trồng) và đã mang
lại hiệu quả kinh tế lớn nhất [1].
Có ba phương thức để tạo cây in vitro:
a. Hoạt hóa chồi nách
Hoạt hóa chồi nách bằng cách phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn khi
nuôi cấy các đỉnh chồi hoặc đoạn thân mang mắt ngủ. Theo phương pháp
này thì sự hoạt hóa của chồi nách diễn ra theo hai cách:
- Cách 1: Cây phát triển trực tiếp từ chồi đỉnh hoặc chồi nách (xảy ra khi
nuôi cấy loài cây hai lá mầm như khoai tây, hoa cúc, cây thuốc lá,… )
- Cách 2: Tạo cụm chồi từ chồi đỉnh hoặc chồi nách (xảy ra với cây một
nồng độ thấp có thể gây sốc cho phản ứng, nếu nồng độ cao quá sẽ gây ức
chế hoặc gây độc [12].
Các bước chính trong nhân giống in vitro
Theo George (1993) quá trình nhân giống vô tính in vitro bao gồm
các bước sau:
Bước 1: Chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ
Trước khi tiến hành nhân giống in vitro cần chọn lọc cẩn thận cây mẹ
(cây cho nguồn mẫu nuôi cấy). Các cây này cần phải sạch bệnh, đặc biệt là
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
13
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
bệnh virus và đang ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển mạnh mẽ. Việc
trồng các cây mệ trong điều kiện môi trường thích hợp với chế độ chăm sóc
và phòng bệnh hợp lý sẽ làm giảm tỉ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và
sinh trưởng khi tra đưa mẫu vào nuôi cấy in vitro.
Bước 2: Nuôi cấy khởi động
Là giai đoạn khử trùng mẫu, giai đoạn này cần đảm bảo các yêu cầu
như tỷ lệ mẫu nhiễm thấp, tăng tỷ lệ mẫu tái sinh, mô tồn tại, sinh trưởng
và phát triển tốt. Khi lấy mẫu cần chọn đúng loại mô, đúng giai đoạn phát
triển tốt của cây. Quan trọng nhất là đỉnh chồi ngọn, đỉnh chồi nách, đỉnh
chồi hoa và sau đó là đoạn thân, mảnh lá.
Bước 3: Nhân nhanh
Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng
nhanh số lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo phôi vô
tính, tạo chồi bất định… Vấn đề là cần xác định được môi trường và điều
kiện ngoại cảnh thích hợp để có hiệu quả cao nhất. Theo nguyên tắc chung,
môi trường có nhiều Cytokinin sẽ kích thích tạo chồi (Auxin/Cytokinin < 1:
thì kích thích tạo chồi). Chế độ nuôi cấy thường là 25-27
o
C và 16h chiếu
- Hàm lượng Cytokinin (loại và nồng độ).
- Nhu cầu về nồng độ Cytokinin thay đổi theo từng giai đoạn nuôi
cấy, những mô cấy còn non thì cần ít Cytokinin hơn các mẫu đã trưởng
thành.
- Thông thường trong quá trình tạo chồi, người ta sử dụng Auxin
với nồng độ thấp phối hợp cùng Cytokinin ở nồng độ cao, tỷ lệ
Auxin/Cytokinin thường 1/10.
- Đôi khi nên để chồi ngọn phát triển trước khi tăng nồng độ
Cytokinin để cảm ứng sự tạo chồi bên.
- Trong trường hợp chồi bên không tăng trưởng được thì cần phải cắt
bỏ ngọn của chồi để các chồi bên phát triển.
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
15
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
- Không nên cảm ứng sự tạo thành mô sẹo với nồng độ Cytokinin
quá cao vì có thể tạo ra chồi bất định mang các đột biến.
- Trong một số trường hợp có thể kích thích sự tạo thành chồi bên
bằng cách cấy vào môi trường lỏng. Môi trường lỏng này cần lắc hay
không lắc tùy thuộc vào cây được làm thí nghiệm.
- Khi cấy chuyển nhiều lần tốc độ sinh trưởng sinh khối bị thay đổi.
Hiện nay nhân nhanh bằng phương pháp nhân chồi bên được áp
dụng cho nhiều loài thực vật, quy trình nhân chồi thường được thực hiện
theo các bước như sau [5].
Sơ đồ tổng quát nhân nhanh trong phòng thí nghiệm
1.2.6. Ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật
Nuôi cấy mô tế bào thực vật bao gồm một loạt các kỹ thuật khác
nhau và có khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực bao gồm [12].
Kỹ thuật Ứng dụng
Nuôi cấy hạt giống
Mô sẹo - Tạo phôi vô tính.
- Nuôi cấy tế bào đơn và tách tế bào trần.
- Tạo cây có biến dị soma.
Tế bào - Tạo đột biến ỏe mức độ tế bào.
- Tạo tế bào trần để lai vô tính.
- Biến nạp gen.
- Nuôi cấy tế bào đơn.
Đỉnh chồi
(Đỉnh sinh trưởng)
- Tạo và nhân nhanh dòng đồng nhất về di
truyền.
- Làm sạch virus.
- Nghiên cứu sinh lý phát triển.
Phân hóa phôi vô tính
(Somatic
embryogenesis)
- Là đường hướng tái sinh chủ yếu ứng dụng:
+ Nhân nhanh
+ Sản xuất hạt nhân tạo
- Cung cấp vật liệu để tạo các protoplast có khả
năng tạo phôi.
- Cho phép cơ khí hóa quá trình nuôi cấy và sử
dụng bioreactor.
Đột biến soma - Phân lập các biến dị có ích ở kiểu hình lý
tưởng song cũng thiếu một số tính trạng mong
muốn.
- Phân lập các biến dị có ích để sản xuất các hợp
chất sơ cấp và thứ cấp.
- Phân lập các biến dị có ích với khả năng kháng
bệnh, chống chịu ngoại cảnh tốt hơn.
cho những khu vực trồng Trầm hương thuận lợi. Hơn thế nữa, việc sử dụng
cây giống có nguồn gốc từ nuôi cấy mô có chất lượng cao sẽ giúp cho
người trồng rừng Trầm hương tốt và đồng nhất về kiểu gen [6] [7].
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh và cs (2003) đã nuôi cấy cây Lõi thọ
(Gmelina arborea Roxb) bằng phương pháp quang tự dưỡng. Đặc diểm
chính của phương pháp này là không sử dụng đường, vitamin và hạn chế sử
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
19
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
dụng các chất kích thích sinh trưởng thực vật trong môi trường nhân giống.
Đồng thời tạo điều kiện tối đa cho cây trong bình nuôi cấy sử dụng khí CO
2
có sẵn trong không khí làm nguồn cacbon chính cho quá trình tăng trưởng
và phát triển của cây. Cây Lõi thọ đã phát triển rất tốt trong điều kiện
quang tự dưỡng [10].
Viện nghiên cứu và bảo tồn nguồn gen ở VQG Bạch Mã đã nghiên cứu
thành công và bảo tồn một số loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng như:
- Hoàng Đàn giả (Dacrydyum elatum (Roxb) Wallich ex Hooker) là đối
tượng quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam, phân bố trên các đỉnh núi cao ở
VQG Bạch Mã.
- Cây Hồi hoa nhỏ (Illicium parvifolium Merr) là loài thực vật quý
hiếm có trong sách đỏ Việt Nam, thuộc dạng nguy cấp. Đây là loài có giá
trị trong sản xuất tinh dầu hồi, đã có chương trình khoanh vùng bảo vệ
nghiêm ngặt những khu vực có sự phân bố của cây này theo hướng bảo tồn
in situ ở VQG Bạch Mã [4].
- Cây Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L) được sử dụng như
là một vị thuốc trong việc phòng và chữa trị một số loại ung thư. Cây Trinh
nữ hoàng cung có củ giống củ hành, chùm hoa giống chùm hoa cây láng
trắng, thường được trồng làm cảnh hoặc làm thuốc. Trong lĩnh vực làm
thuốc, người ta dùng lá cây Trinh nữ hoàng cung thái nhỏ rồi sao vàng sắc
công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật . Sau thời gian 15 ngày nuôi cấy
và 12 ngày thích nghi với điều kiện môi trường bên ngoài có 66,7% cây
đã thích nghi với môi trường tự nhiên [22].
- Các nhà khoa học Ấn Độ đã xây dựng thành công quy trình tái
sinh một số giống tre quý như: Dendrocalamus asper (tre Mạnh tông),
Bambusa multiplex (cây Hóp) thông qua nuôi cấy hạt hoặc chồi bên [27].
- Năm 2003, Bedir E và cs đã nhân giống in vitro thành công giống
Hydrastis canadensis, một loài thực vật có nguy cơ tuyệt chủng ở miền Bắc
nước Mỹ [18].
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
21
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
- Gần đây các tác giả Balaraju và cs (2008) cũng đã nhân giống và tái
sinh in vitro thành công cây thuốc Vitex agnuscastus bằng kỹ thuật nuôi cấy
mô tế bào thực vật từ mô phân sinh đỉnh trên môi trường 1/2 MS có bổ sung
0,1mg/l IBA [17].
- Các tác giả Nishritha B và cs (2008) đã nhân giống in vitro thành
công loài Asparagus racemosus Willd, đem lại nhiều giá trị kinh tế lớn. Cùng
năm đó Mukherjee và cs cũng đã nhân giống in vitro loài Aloe vera sp [26].
- Bên cạnh đó tác giả Park SU và cs (2009) cũng đã tái sinh thành
công loài Rehmannia glutinosa L quý hiếm đang bị khai thác quá mức [27].
- Ngoài ra vẫn còn nhiều loại cây dược liệu quý hiếm khác cũng đã
được nhân nhanh và bảo tồn nguồn gen trong ống nghiệm như: Lawsonia
inermis Linn, Saussurea lappa… [19]
1.3.2. Phương pháp bảo tồn thực vật quý hiếm
Hai phương pháp bảo tồn cơ bản được áp dụng là: in situ và ex situ.
Bảo tồn in situ
Đây là biện pháp bảo tồn huữ hiệu nhất, đặc biệt với những loài cây
bản địa có sự phân bố tập chung và có khả năng tái sinh tự nhiên. Bảo tồn
in situ được đề xuất cho hầu hết các loại cây rừng nhiệt đới ở nước ta, bởi
hoại của động vật hoặc con người hoặc do bị tạp giao với các quần thể
ngoại lai khác [19] [21].
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
23
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
Nguyễn Trần Dinh Lớp CNSH 07-02
24
Khóa Luận Tốt Nghiệp Viện Đại Học Mở Hà Nội
PHẦN 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Giống cây Ngưu tất do Trung tâm nuôi cây mô thực vật Thanh Hóa
cung cấp.
Dụng cụ, hóa chất:
Dụng cụ nghiên cứu là các dụng cụ như panh, dao, kéo, box cấy vô
trùng, đèn UV, cân kĩ thuật, cân phân tích, tủ sấy, hệ thống giàn đèn, nồi
hấp tiệt trùng, máy đo pH, máy khuấy từ…
Hóa chất: Môi trường cơ bản MS sử dụng trong nghiên cứu gồm các
muối đa lượng, muối vi lượng, các chất hữu cơ và vitamin theo Murashige
và Skoog (1962) [24], đường saccharose, agar, các chất kích thích sinh
trưởng như BAP, IAA, NAA, Kinetin, IBA,…
Nuôi cấy trong điều kiện nhiệt độ 25-27
o
C, chế độ chiếu sáng 12/12h
với cường độ chiếu sáng là 2000lux.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: Phòng Công nghệ tế bào thực vật
và Trại Thực nghiệm sinh học - Viện Công nghệ sinh học, Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện từ 5/2010 - 5/2011, theo đơn
đặt hàng của Trung tâm nuôi cấy mô thực vật Thanh Hóa, Sở Khoa học và