LUẬN VĂN CÔNG NGHỆ SINH HỌC NHÂN GIỐNG LAN HỒ ĐIỆP PHALAENOPSIS SP BẰNG KỸ THUẬT NUÔI CẤY NGẬP CHÌM TẠM THỜI - Pdf 14

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Hiện nay Lan Hồ Điệp (Phalaenopsis sp.) nói chung với các loại Lan
khác nói riêng được xem là cây trồng đem lại nhiều hiệu quả kinh tế cao; do
đó đã có nhiều nhà vườn mạnh dạn đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ
lúa, hoa màu sang trồng Lan và đạt hiệu quả kinh tế cao gấp 2 - 3 lần so với
cây trồng khác. Lan Hồ Điệp là một trong những lồi Lan q đang rất được
ưa chuộng và đóng vai trò quan trọng trong ngành cơng nghiệp hoa cắt cành
cũng như cây cảnh trên thế giới. Chúng khơng chỉ đẹp về màu sắc, kiểu dáng
mà còn mang một vẻ đẹp sang trọng và trang nhã.
Tuy nhiên, số lượng sản xuất cây Lan hiện nay vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Ngun nhân do Lan Hồ Điệp là lồi
sinh trưởng chậm và là một lồi Lan rất khó nhân giống, thường cho hệ số
nhân thấp trong điều kiện vườn ươm. Để có được số lượng lớn cây giống
chất lượng tốt cung cấp cho thị trường sản xuất còn gặp nhiều khó khăn.
Hiện tại có một số trường Đại Học, Viện nghiên cứu có hướng phát triển
trên những kỹ thuật mới như: Bioreactor, Ni cấy quang tự dưỡng… nhưng
vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.
Trong những năm gần đây, phương pháp ni cấy đỉnh sinh trưởng
đối với cây Lan Hồ Điệp nhằm tạo cây giống sạch bệnh rất được quan tâm.
Tuy nhiên phương pháp này thực hiện khó thành cơng vì đỉnh sinh trưởng
q nhỏ nên khơng thể tái sinh hoặc chết đi qua các lần khử trùng. Lan Hồ
Điệp là loại Lan đơn thân, thân ngắn và mỗi cây cho một đỉnh sinh trưởng
nên để có nguồn mẫu in vitro cần phải có nhiều mẫu ban đầu làm tăng chi
phí q trình ni cấy. Vì vậy, hiện nay các nhà ni cấy mơ trong nước
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 08111100861
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
cũng như trên thế giới thường dùng phát hoa làm vật liệu ni cấy, phát hoa
Lan Hồ Điệp có chứa các mắt ngủ có thể tạo thành chồi. Do đó, phương
pháp ni cấy phát hoa in vitro để tạo chồi được xem là đặc trưng ở Lan Hồ

Điệp nhằm thiết lập nhân nhanh giống cây Lan Hồ Điệp Phalaenopsis sp.
bằng kỹ thuật ni cấy ngập chìm tạm thời TIS (Temporary Immersion
System).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nồng độ các khống đa lượng trong mơi trường MS
và ảnh hưởng của nồng độ và loại đường lên sự nhân nhanh PLB của Lan
Hồ Điệp. Qua đó khảo sát việc nhân nhanh PLB bằng hệ thống ni cấy
ngập chìm tạm thời Plantima của Đài Loan trên đối tượng Phalaenopsis
Dtps. Taida Salu.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học:
Hệ thống ni cấy ngập chìm tạm thời TIS thuộc dạng bioreator đơn
giản. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định việc áp dụng cơng nghệ TIS
trong vi nhân giống cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, chất lượng cây
giống tốt, nâng cao hệ số nhân chồi gấp 3 - 20 lần so với phương pháp nhân
truyền thống, rút ngắn được thời gian ni cấy trong phòng, góp phần làm
giảm giá thành sản phẩm cây giống.
Ý nghĩa thực tiễn:
Áp dụng hệ thống TIS trong vi nhân giống hoa Lan ở nước ta là một
cơng nghệ mới, nó sẽ mở ra triển vọng cho việc sản xuất cây giống theo qui
mơ cơng nghiệp, đáp ứng đủ lượng cây trồng với chất lượng cao cho sản
xuất trong nước và cho xuất khẩu.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 08111100863
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Cây Lan giống sản xuất bằng hệ thống TIS trong nước giúp người
nơng dân chủ động sản xuất, hạn chế nhập cây giống từ nước ngồi, góp
phần ngăn chặn được dịch bệnh lây lan từ nước ngồi qua con đường cây
giống.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp ni cấy PLB trong hệ thống ni cấy ngập

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Đến nay, hầu hết các giống Lan đã được nhân giống nhanh bằng
phương pháp ni cấy mơ như: Dendrobium, Cattleya, Phalaenopsis, Ngọc
Điểm và ngay cả Lan Hài nổi tiếng của Việt Nam.
1.1.2. Các bước nhân giống in vitro
Nhân giống vơ tính các cây trồng in vitro gồm các giai đoạn sau:
- Chọn lựa và khử trùng mẫu cấy.
- Tạo thể nhân giống in vitro.
- Nhân giống in vitro.
- Tái sinh cây in vitro hồn chỉnh.
- Chuyển cây con in vitro ra vườn ươm.
1.1.3. Các kỹ thuật ni cấy in vitro
1.1.3.1. Ni cấy nốt đơn thân
Sử dụng mẫu cấy là chồi ngọn hoặc chồi bên có mang một đoạn thân
ngắn. Chồi này được kích thích tăng trưởng, ra rễ tạo cây ngun vẹn, nhiều
chồi và lá được hình thành. Tiếp tục cấy chuyền trên mơi trường dinh dưỡng
thích hợp đến khi đủ số lượng chồi cần thiết để chúng được cảm ứng ra rễ
trở thành cây con hồn chỉnh và được chuyển ra trồng trong đất.
1.1.3.2. Ni cấy chồi bên
Về ngun tắc, phương pháp này giống như phương pháp ni cấy nốt
đơn thân. Nhưng khác nhau là trong phương pháp ni cấy nốt đơn thân có
sự kéo dài chồi, thân và thường khơng cần đến cytokinin để phát triển. Còn
phương pháp nhân chồi bên, chồi được cơ lập trên mơi trường dinh dưỡng
và các chồi bên từ nách lá phát triển dưới tác dụng của cytokinin nồng độ
cao. Vai trò của cytokinin lúc này là hạn chế ưu tính ngọn để cho các chồi
bên có thể phát triển.
1.1.3.3. Ni cấy đỉnh sinh trưởng
Chồi ngọn được rửa sạch và khử trùng bằng cồn, hypochlorite
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 08111100866
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh

Tế bào thực vật được xử lý bằng hố lý để tách lớp vỏ cenlulose,
nhưng vẫn còn giữ chức năng của tế bào. Trong mơi trường thích hợp,
protoplast có thể phân chia tế bào hay tái sinh thành cây (Nguyễn Đức
Lượng, 2002).
Với cách ni cấy này, ta có thể áp dụng để chuyển gene vào tế bào
trần hay tạo cây đa bội bằng cách dung hợp hai tế bào trần với nhau.
1.1.4. Ưu và nhược điểm của kỹ thuật nhân giống in vitro
1.1.4.1. Ưu điểm
Thuận lợi của phương pháp vi nhân giống trên mơi trường bán rắn so
với phương pháp nhân giống truyền thống (giâm, chiết, ghép ) là:
- Những cây nhân giống in vitro đồng nhất về di truyền.
- Có khả năng tái sinh cây con từ các vùng mơ và cơ quan khác nhau
của cây như: trục thân, lóng thân, phiến lá, cuống lá, hoa, chồi phát hoa, hạt
phấn… mà ngồi tự nhiên khơng thể thực hiện được.
- Hệ số nhân cao, sản xuất được số lượng lớn cây giống trong một
thời gian ngắn nhằm đáp ứng nhu cầu thương mại.
- Được ni cấy trong điều kiện vơ trùng, cây khỏe mạnh, sạch virus
thơng qua xử lý nhiệt hay ni cấy đỉnh sinh trưởng.
- Sản xuất quanh năm và chủ động kiểm sốt được các yếu tố ngoại
cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm…
- Tạo cây có khả năng ra hoa, tạo quả sớm.
- Tạo dòng tồn cây cái (cây chà là) hoặc tồn cây đực (cây măng
tây) theo mong muốn.
- Dễ dàng tạo giống cây trồng mới bằng phương pháp chuyển gen.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 08111100868
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Ngồi ra, phương pháp vi nhân giống còn giảm được nhiều cơng sức
chăm sóc, nguồn mẫu dự trữ lâu dài và chiếm ít khơng gian so với phương
pháp nhân giống truyền thống.
1.1.4.2. Nhược điểm

trong năm 2006 sản lượng nhập khẩu hoa Lan từ các nước lên tới 155 tỉ sản
phẩm, giá trị kim ngạch nhập khẩu đạt gần 90 tỉ EUR (Nguồn: AIPH/Union
Fluer: International Statistics Flowers an Plants 2007).
Hoa Lan hiện nay đang là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, mang lại
nguồn lợi kinh tế cho nhiều quốc gia Châu Á. Thái Lan là nước xuất khẩu
chủ yếu là hoa Lan nhiệt đới, đặc biệt là Dendrobium, phổ biến nhất là
Dendrobium sonia và Jumbo White. Ngồi ra cũng còn một số lồi nổi tiếng
khác như Aranda, Mokara, Vanda và Oncidium. Hơn 80% Dendrodium trên
thị trường thế giới là từ Thái Lan. Chỉ với loại hoa Lan chủ lực là
Dendrobium, Thái Lan đạt doanh thu mỗi năm gần 600 triệu USD từ giá trị
xuất khẩu loại hoa này.
Trong khi đó, Đài Loan là nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất
khẩu hoa Lan Hồ Điệp bằng qui trình cơng nghệ cao, giá trị doanh thu từ
xuất khẩu loại hoa này hàng năm khoảng 43 triệu USD. Trên thị trường thế
giới, sản phẩm chủ yếu của hoa Lan Hồ Điệp là hoa chậu, sản phẩm này có
giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với Lan Hồ Điệp cắt cành.
Hàng năm, Đài Loan sản xuất được 36 triệu cành Phalaenopsis. Trong
đó, 12 triệu cành hoa Lan được xuất khẩu ra các nước như: 3 triệu cành đến
Nhật Bản; 3 triệu cành đến Trung Quốc; 2,5 triệu cành tới Hoa Kỳ và 3,5
triệu cành cho các quốc gia khác. Vào tháng 6/2004, Hoa Kỳ đã cấp giấy
phép xuất khẩu Phalaenopsis cho Đài Loan trên thị trường Hoa Kỳ (Nguồn:
The world’s fascination with potted orchid- Floraculture Itn.htm).
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008610
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
1.2.2. Tình hình sản xuất hoa Lan ở Việt Nam
Tại Việt Nam ngành sản xuất kinh doanh hoa kiểng nói chung và Lan
nói riêng trong vòng 10 năm trở lại đây rất phát triển với nhiều chủng loại.
Diện tích trồng hoa ở Việt Nam hiện nay là 2.500 ha nhưng hoa Lan
chỉ chiếm 5- 6%. Nước ta bắt đầu sản xuất và thương mại hoa Lan tập trung
khoảng 6 năm trở lại đây nhưng tốc độ phát triển khá nhanh. Chỉ riêng TP.

TS. Dương Tấn Nhựt cùng các cộng sự ở Phân Viện Sinh Học Đà Lạt
đã nhân giống thành cơng Hồng Hài - lồi Lan hài duy nhất trên thế giới có
hương thơm, được Tổ chức Bảo vệ động thực vật hoang dã thế giới đưa vào
danh mục thực vật cần bảo vệ bởi chúng chỉ phân bố hẹp ở Việt Nam, khó
sống và khó sinh sản.
Theo TS. Dương Tấn Nhựt, Thành phố Đà Lạt là cỗ máy điều hòa
khổng lồ cho phép sản xuất địa Lan trong thiên nhiên theo hướng cơng
nghiệp với chi phí sản xuất chỉ bằng 1/10 so với các quốc gia phải trồng Lan
trong nhà kính, có hệ thống điều hòa nhiệt độ.
Lan Đà Lạt đã và đang mở rộng thị trường ra nhiều châu lục, trong đó
có những thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan Nhiều doanh
nghiệp trong và ngồi nước đang tiến hành khảo sát lập trang trại sản xuất
hoa Lan quy mơ lớn bởi tiềm năng, triển vọng đầu tư tại Đà Lạt là rất lớn so
với Trung Quốc và các nước ASEAN khác.
1.3. Giới thiệu về Lan Hồ Điệp
1.3.1. Nguồn gốc và phân bố
Lan Hồ Điệp là giống Lan có tên gọi Phalaenopsis. Tên gọi này bắt
nguồn từ tiếng Hi Lạp trong đó Phalaina có nghĩa là “con bướm” và Opsis
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008612
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
có nghĩa là “giống như”. Lan Hồ Điệp là lồi lan có hoa giống bươm bướm
phất phơ rất đẹp.
Lan Hồ Điệp được khám phá năm 1750, đầu tiên được ơng Rumphius
đặt tên là Angraecum album. Năm 1753 Linne đổi tên thành Epidendrum
amabile; và năm 1825 Blume một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần
nữa là Phalaenopsis amabilis và tên đó được dùng cho đến ngày nay.
Lan Hồ Điệp có chừng 44 loại ngun giống, mọc trên dãy Himalaya
đến suốt châu Á và sang cả Úc châu. Lan Hồ Điệp phân bố chủ yếu ở:
Malaysia, Indonesia, Philipin, phía Đơng Ấn Độ và miền Bắc Australia. Lan
Hồ Điệp có thể mọc ở khí hậu nhiệt đới và đồi núi cao 2000m nên vừa chịu

1.3.2. Phân loại khoa học
Giới Plantae (Thực vật)
Ngành Magnoliophyta (Ngọc Lan)
Lớp Liliopsida (Hành)
Phân lớp Liliidae (Hành)
Bộ Orchidales (Lan)
Họ Orchidaceae (Lan)
Chi Phalaenopsis (Lan Hồ Điệp)
Lồi Phalaenopsis sp.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008615
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
1.3.3. Đặc điểm hình thái
Lan Hồ Điệp là loại Lan đơn thân, ngắn, mập, lá to, dày mọc sát nhau.
Đây là giống gồm các lồi có hoa lớn và đẹp. Phát hoa mọc từ nách lá, dài,
cánh hoa phẳng, mơi hoa cong, dẹp, có 2 râu dài; trụ hoa hình bán nguyệt
với 2 phân khối u lên chứa đầy phấn hoa.
Lan Hồ Điệp là Lan có màu sắc hoa phong phú từ trắng, hồng, đỏ,
vàng, tím và có lồi có sự phối màu tự nhiên như có đốm hay sọc Thời kỳ
nở hoa thay đổi theo từng lồi, hoa lâu tàn khoảng 2 - 4 tuần.
Lan Hồ Điệp là một loại Lan đại chúng được xếp vào bậc nhất với hoa
to, hình dáng đẹp đẽ, nhiều màu, có hoa quanh năm. Nếu trồng đúng cách
Lan Hồ Điệp có thể sống rất lâu; có cây sống được trên 18 năm, sau đó ra
hoa ở ngọn rồi mới chết.
Lan Hồ Điệp rất đa dạng về di truyền nhưng chúng cũng có những đặc
tính chung về cấu tạo của cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008616
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Hình 1.4. Sự đa dạng và phong phú về màu sắc, hình dáng Lan Hồ Điệp
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008617
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh

+ Quả:
Quả của Lan Hồ Điệp thuộc dạng quả nang, mở bằng các khe nứt dọc
theo hai bên đường của giá nỗn. Quả Lan chứa vơ số các hạt nhỏ li ti, tùy
vào giống và lồi mà quả có thể chứa vào trăm đến vài ngàn hạt. Hạt cần trải
qua 130 - 150 ngày để trưởng thành, hạt mở sau 90 ngày. Hạt nhỏ được gió
mang xa như hạt bụi, phần lớn hạt bị chết vì chứa phơi chưa phân hóa.
Theo Bernard (1999), hạt Lan muốn nảy mầm phải nhiễm nấm
Rhizoctonia vì loại nấm này có tác dụng khởi phát sự tái lập phân bào. Trong
thực nghiệm, người ta có thể đánh thức các “phơi sơ khai” (protocorm) khi
sử dụng sốc thẩm thấu bằng cách ni cấy hạt trên mơi trường chứa sucrose
(Bùi Trang Việt, 2002).
+ Keiki:
Keiki chỉ một cây con mọc từ một mấu trên cuống hoa. Một số lồi có
hoa nhỏ như Phalaenopsis lueddemaniana thường tạo keiki trên cuống hoa.
Hiện tượng này được Williams mơ tả lần đầu tiên vào năm 1894 (Williams
và Williams, 1894).
Keiki còn có thể được hình thành ở nhiều lồi Phalaenopsis và một số
loại thuộc các chi lai. Chẳng hạn trong The Genus Phalaenopsis
(Sweet,1980) có trình bày rõ khả năng phát triển cây con từ đốt phát hoa
Phalaenopsis kunstleri ở Kew Gardens. Keiki còn có thể hình thành từ rễ ở
các lồi Philippin Phalaenopsis stuartiana (Williams và Williams, 1894) và
Phalaenopsis schilleriana (Davis và Steiner, 1952). Các cây Phalaenopsis
dưới điều kiện ni trồng khơng thuận lợi sẽ tạo ra keiki trên cuống hoa, đặc
biệt khi đỉnh đã bị cắt bỏ.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008619
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Hình 1.5. Keiki của Lan Hồ Điệp
1.3.4. Điều kiện sinh thái của Lan Hồ Điệp
1.3.4.1. Nhiệt độ
Lan Hồ Điệp là loại Lan có thể phát triển ở nhiệt độ tối thiểu 22

phát triển tốt hơn.
Trồng Hồ Điệp trong nhà kính cần có hệ thống làm mát, ánh sáng
nhân tạo thích hợp để Lan phát triển tốt; còn trồng trong nhà thì cần để Lan
ở gần cửa sổ có ánh nắng hoặc khơng cũng được.
1.3.4.4. Độ thơng thống
So với các lồi Lan khác, sự thơng thống rất cần thiết cho Lan Hồ
Điệp. Lan Hồ Điệp hay bị bệnh thối nhũn lá (phỏng lá), sự thơng thống
giúp lá cây mau khơ sau khi tưới và bộ rễ khơng bị úng nước nên hạn chế
bệnh rất nhiều. Ở nước ta vào mùa mưa Lan Hồ Điệp tăng trưởng mạnh,
nhưng những giọt mưa nặng hạt có thể làm thối đọt cây; do đó để ngăn ngừa
tình trạng trên Lan cần phải được che chắn cẩn thận. Cần cung cấp đủ nước
cho cây tránh sự héo rũ, nhăn lá vào mùa gió nhiều và mùa nắng.
1.3.4.5. Nhu cầu nước tưới
Lan Hồ điệp là cây đơn thân nên khơng có giả hành để dự trữ dinh
dưỡng và nước, hơn nữa nước thường tập trung ở lá vì Lan Hồ Điệp có lá
lớn, diện tích tiếp xúc nhiều nên rất dễ thốt hơi nước và chúng khơng có
mùa nghỉ vì thế phải cung cấp cho cây một lượng nước đầy đủ.
Tránh để Lan q khơ vào mùa nắng có thể tưới 3 lần/ngày: sáng,
trưa, chiều. Chú ý khi tưới nước vào buổi trưa phải tưới thật đẫm để tránh
nắng sẽ làm sốc cây Lan. Mùa mưa thì tuỳ theo điều kiện thời tiết mà tưới
nước cho phù hợp, có thể khoảng 10 ngày tưới một lần. Nên tưới vào buổi
sáng để lá cây sẽ khơ, tránh nước đọng vào ngọn, lá non dễ bị thối và cây sẽ
chết.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008621
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
1.3.4.6. Dinh dưỡng
Lan Hồ Điệp cần dinh dưỡng thường xun, quanh năm vì khơng có
mùa nghỉ. Khi tưới phân khơng nên tưới với nồng độ cao và đừng tưới lên
ngọn cây, nhất là lúc lá non mới nhú ra từ đỉnh sinh trưởng. Tùy từng độ tuổi
của cây mà ta có lượng phân cần bón với tỷ lệ NPK thích hợp. Ngồi việc

Cắt bỏ lá bệnh và dọn sạch các lá rụng, có thể phun thuốc zineb 0,2%
truban, banor hoặc benlat 0,1% để phun xịt.
+ Bệnh đốm tròn:
Đốm bệnh hình tròn màu đen, ở cả hai mặt lá lõm xuống, khi bệnh
nặng tồn bộ lá trải đều những đốm đen khơ và chết, bệnh sinh sản nhanh.
Có thể dùng Truban, Banort, Zineb 0,2 % hoặc Benlat 1,2 % phun xịt.
+ Bệnh mốc:
Do khuẩn mốc xâm nhập vào lá gây ra. Bệnh thường phát sinh ở mặt
lưng của lá, với những đốm màu vàng cam hay dạng mốc sết trên lá. Bệnh
thường phát sinh vào mùa hè nóng bức và khi trồng Lan khơng thơng gió.
Cắt bỏ những lá bị bệnh nặng, tưới nước kịp thời và hong khơ lá. Trị
bằng Benlat 0,1% hoặc bất cứ loại thuốc nào có chứa Benomyl.
+ Nhện đỏ:
Sống tập trung ở dưới lá bánh tẻ và lá già, hút nhựa làm lá vàng, cháy
khơ xơ xác. Dùng Cascade 5EC, Comite 73EC, phun kỹ mặt dưới lá khi
nhện mới xuất hiện và kết hợp các biện pháp phòng trị bọ trĩ và rệp.
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008623
Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S. Trònh Thò Lan Anh
Hình 1.6. Nhện đỏ hại Lan
1.3.4.8. Chậu, giá thể và cách trồng
Cách trồng tốt nhất cho các loại Lan Hồ Điệp là chậu thật thống, có
nhiều lỗ có thể sử dụng chậu đất nung có nhiều lỗ hay chậu nhựa cũng được.
Chậu phải thật sạch khơng có rêu bám trên thành chậu. Thơng thường các
nhà vườn trồng Lan với số lượng lớn (vài ngàn cây) thường dùng than, dớn,
xơ dừa, mút làm giá thể để trồng Lan Hồ Điệp. Có rất nhiều cách trồng
Lan Hồ Điệp tùy theo từng vùng; nhưng có điểm chung là than, mút nằm
dưới đáy chậu, còn xơ dừa hay dớn sẽ nằm trên miệng chậu. Cách trồng này
giúp cây thốt nước tốt vào mùa mưa, khơng bị thối rễ và phát triển tốt.
Trong thời gian khoảng 2 năm ta thay chậu một lần, nếu cây lớn q nhanh
có thể thay chậu sớm hơn.

cho các nước khác với cả Mỹ để trồng ra hoa.
Hàng ngàn các giống được lai và tạo dòng rất có giá trị trên thị
trường. Các nhà nhân giống đã gieo hạt được rất nhiều giống Lan Hồ Điệp
có chất lượng hoa và cây giống rất có giá trị như các tính trạng qui định màu
sắc hoa, và cấu trúc hoa, nhiều nhánh, nhiều vòi hoa, và gần đây là các giống
có hương thơm. Cuộc chạy đua diễn ra hầu hết tại Đài Loan, điều này dẫn
SVTH: Ưng Thò Mỹ Tiên MSSV: 081111008625

Trích đoạn Cách bố trí thí nghiệm PLBs từ cuống lá cầy chuyền sang cùng loại môi trường sau 4 tuần e.PLBs không cấy chuyền phát triển thành cây sau 14 tuần. Giống số 1– Dtps Taida Salu B Giống số 2– Dtps Taida Firebird a1 MS + 0 mg/l NAAb1 MS + 0 mg/l NAA Thí nghiệm 3.2: Khảo sát ảnh hưởng của tần suất ngập lên sự nhân PLB trong hệ thống Plantima. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 4.1 Kết luận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status