Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xưa đến nay, hoa Mai vàng đã trở thành sứ giả đại diện cho mùa xuân,
biểu tượng của ngày Tết cổ truyền của vùng đất phương Nam.
Sắc vàng tươi thắùm cùng tên gọi của hoa Mai được nhiều người tin sẽø mang
đến một năm mới đầy may mắn, hạnh phúc và thònh vượng. Bởi thế, cho dù ngày
xuân có rất nhiều loài hoa khoe hương, đua sắc nhưng hoa Mai vẫn giữa một vò trí
vô cùng quan trọng trong tâm hồn của người thưởng ngoạn.
Theo đà phát triển của cuộc sống, ngày nay ở các đô thò, những cây Mai trong
sân vườn dần được thay thế bằng những cây Mai được trồng vào chậu và tạo dáng
đẹp hơn, phục vụ đời sống tinh thần cho mọi người. Bên cạnh đó, việc lai tạo,
tuyển chọn và nhân giống hoa Mai cũng ngày càng được chú trọng. Song, cùng
với các phương pháp nhân giống, việc trồng và chăm sóc cho cây Mai ra hoa
đúng vào ngày Tết lại đòi hỏi những yêu cầu kỹ thuật khá cao mà không phải ai
cũng thực hiện tốt.
Từ những lý do trên, được sự đồng ý của bộ môn Công nghệ sinh học khoa
Môi trường và Công nghệ sinh học trường đại học Kỹ thuật công nghệ thành phố
Hồ Chí Minh tôi đã thực hiện khóa luận: “Kỹ thuật trồng, chăm sóc, nhân giống
và điều khiển Mai vàng ra hoa đúng thời điểm.”
Mục đích và nội dung của khóa luận
Trình bày những yêu cầu về kỹ thuật trồng, chăm sóc; qui trình nhân giống và
phương pháp điều khiển Mai vàng ra hoa đúng thời điểm thành một hệ thống từ
những kinh nghiệm thực tế của các nghệ nhân trồng Mai và một số tài liệu nhằm
tạo cơ sở cho việc nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu của công nghệ sinh
học vào một loài cây có giá trò cả về mặt kinh tế lẫn tinh thần.
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 1
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
Chương I: Khái quát chung về cây Mai
vàng
1.1. Phân loại thực vật
Hoa Mai thuộc:
thành chùm nhỏ ở nách lá. Cuống hoa ngắn. Số lượng cánh hoa có thể dao động
từ 5 – 9 cánh. Đài hoa có màu xanh nhạt bóng. Quả thuộc loại hạch quả, có màu
xanh, khi chín chuyển thành màu đen xếp quanh đế hoa.
1.3. Điều kiện sinh trưởng và phát triển
- Loại đất: Mai vàng là loài cây không kén đất trồng. Trong tự nhiên, nó có thể
sinh trưởng và phát triển ở nhiều vùng đất có tính chất khác nhau như: đất cát, đất
cát pha sét, đất thòt, đất phù sa,… Thế nhưng, điều kiện đất phù hợp để cây Mai
sinh trưởng và phát triển tốt là: giữ ẩm và thoát nước tốt, thoáng khí, pH thích
hợp,…
- Nhiệt độ: nhiệt độ thích hợp nhất cho Mai là 25
o
C - 35
o
C. Nếu nhiệt độ quá
cao lá Mai thường lão hóa nhanh. Ngược lại nếu nhiệt độ thấp hơn 10
o
C cây sinh
trưởng chậm.
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 3
Hình 1.2: Hoa mai Tứ Quý
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
- nh sáng: Mai là loài cây ưa nắng. Thời gian chiếu sáng phù hợp cho cây Mai
là từ 6 – 8 giờ/ngày. Nếu thiếu nắng cây sinh trưởng kém, thân cành yếu, ra hoa
ít, lá mỏng,…
- Nước: Mai vàng là loài cây rất ưa nước, song nó không phù hợp với điều kiện
ngập úng. pH thích hợp từ 5,5 – 7.
1.4. Sơ lược về các loài Mai vàng phổ biến ở nước ta
1.4.1. Mai vàng 5 cánh
- Mai sẻ: hoa có màu vàng nhạt, cánh tròn, phẳng; đường kính hoa từ 3 – 4 cm;
số lượng hoa trên một cành thường rất nhiều (Hình 1.3).
giống như mai Giảo ngoại trừ rìa cánh hoa không phẳng mà hơi dún (Hình 1.7).
Đặc biệt nụ hoa Mai Bến Tre có màu xanh đậm, bóng và tròn đều.
Hình 1.7 : Hoa Mai Bến Tre
- Mai Huỳnh Tỷ: cành có rất nhiều mầm bên nhưng khả năng phân cành và
chống bệnh kém. Lá cứng, dày. Hoa có 24 cánh, xếp thành 3 tầng, màu vàng
chanh (Hình 1.8). Cấu trúc hoa đẹp. Cánh hoa tròn, rất phẳng, mòn. Đường kính
hoa khoảûng 3 cm. Tuy nhiên, Mai Huỳnh Tỷ dù có nhiều nụ nhưng số lượng hoa
khi nở trên cành lại ít. Vì vậy ngày nay không được nhiều người thưởng hoa lựa
chọn.
Hình 1.8: Hoa Mai Huỳnh Tỷ
- Mai 120 cánh: hoa được phát hiện ở Bến Tre. Cây có cành lá nhỏ, màu nâu
đen, bề mặt lá bóng, dễ nhận biết. Nụ hoa hình cầu, cuống hoa yếu và dễ rụng.
Kích thước hoa khoảng 3 cm, có từ 120 – 150 cánh, màu vàng sáng. Cánh phẳng,
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 6
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
tròn đều, mòn, xếp thành nhiều lớp như hoa cúc (Hình 1.9). Nhò và nhụy của hoa
thoái hoá do vậy không hình thành được trái và hạt.
Hình 1.9: Hoa Mai 120 cánh
1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Hiện nay, Mai vàng thương phẩm được trồng và sản xuất chủ yếu ở các tỉnh
như: Bình Đònh, Phú Yên, Thủ Đức – Tp Hồ Chí Minh, Bến Tre, Tiền Giang và
An Giang,… với diện tích ngày càng mở rộng. Trong đó, ngoại trừ Bình Đònh và
Phú Yên, hầu hết các tỉnh còn lại đều kinh doanh mai ghép nhiều cánh là chủ
yếu. Và giống mai thông dụng nhất lá Mai Tai Giảo có dáng bonsai.
Riêng Mai nguyên liệu thường được cung cấp từ các tỉnh ở đồng bằng sông
Cửu Long.
Ngoài thò trường tiêu thụ chính là thành phố Hồ Chí Minh, những năm gần đây
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 8
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
- Trong quá trình trồng phải đảm bảo bầu đất của cây còn nguyên vẹn. Trường
hợp bầu đất vỡ nát nên loại bỏ một số lá non và lá già, cành ngọn quá dài nhằm
ngăn sự mất cân bằng nước của cây.
- Độ nông sâu và độ lớn của hố trồng cần phù hợp với bầu đất và hạn chế việc
trồng cây quá sâu.
2.1.2. Trồng trong chậu
2.1.2.1. Chậu trồng
- Yêu cầu kỹ thuật quan trọng nhất khi chọn chậu là phải thoát nước thật tốt
(gần như hoàn toàn). Đáy chậu không được đọng nước. Đối với những gốc Mai
vừa bứng nếu chậu thoát nước kém, những vết thương ở rễ sẽ dễ nhiễm bệnh,
rễ tái sinh kém. Còn với cây Mai đã trưởng thành việc đáy chậu luôn đọng nước
vào mùa mưa sẽ làm cây Mai sinh trưởng kém và có khả năng chết.
- Trong trường hợp trồng trong chậâu ổn đònh, chậu phải hài hòa với dáng, thế
của cây. Bề rộng và độ sâu phù hợp vơí bầu rễ của cây. Kích thước chậu nên lớn
hơn bầu rễ.
- Trường hợp trồng trong chậu có tính chất tạm thời, nếu cây có cành, lá nên
chọn chậu có thể tích lớn hơn tán lá khoảng 3 lần. Nếu cây không có tán lá cần
dự đoán tán cây sau hai tháng và chọn chậu giống như trên. Không trồng cây nhỏ
vào chậu quá lớn vì cây khó phát triển và dễ chết.
2.1.2.2. Chất trồng
Trong tự nhiên, hêä rễ cây Mai có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống
nhưng trong điều kiện sinh thái của chậu trồng khả năng thích nghi của nó rất
kém.
Vì vậy, để rễ phát triển và hoạt động tốt, yêu cầu căn bản của chất trồng là:
- Thoáng khí, tơi xốp.
- Giữ ẩm vừa đủ nhưng không gây ngập úng.
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 9
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
rất quan trọng trong hoạt động sống của cây Mai. Chế độ tưới không phù hợp có
thể là một trong những nguyên nhân làm cây Mai bò bệnh, suy yếâu và chết. Do
đó số lần và lượng nước tưới cho cây Mai trong ngày (đặc biệt là cây trồng trong
chậu) cần phải thật linh động sao cho phù hợp với từng điều kiện cụ thể của môi
trường: những ngày nhiều nắng, nhiều gió, nhiệt độ cao, độ ẩm không khí giảm,
sự thoát hơi nước của cây tăng cần phải tưới nhiều và ngược lại.
- Vào mùa nắng có thể tưới mai từ 2 – 3 lần 1 ngày. Mùa mưa có thể 2 ngày 1
lần hoặc không cần tưới nếu chậu trồng vẫn đảm bảo đủ độ ẩm.
- Bên cạnh đó, việc tưới nước cho cây mai cần tuân theo các nguyên tắc cơ bản
là:
+ Tưới khi cây cần nước: ở đa số thực vật nói chung và cây Mai vàng nói
riêng, khi có ánh nắng, khí khổng trên lá cây sẽ mở để thoát hơi nước và quang
hợp nên khi đó cây sẽ hút nước. Do vậy, để việc tưới nước đạt hiệu quả cao nhất
nên tưới thật đẫm cho cây sau 8 giờ sáng. Những lần sau (khoảng 11 – 15 giờ) có
thể tưới bổ sung và tưới giảm nhiệt.
+ Tưới đủ nước: vào những ngày nắng nóng kéo dài, cây thoát hơi nước nhiều
mà lượng nước cung cấp không đầy đủ, sự cân bằng nước sẽ bò phá hủy, sự sinh
trưởng của cây sẽ ngừng trệ, lá mau bò lão hoá và rụng ảnh hưởng đến sự ra
hoa vào những tháng cuối năm. Vì vậy, để tránh tình trạng trên cần cung cấp đầy
đủ nước cho cây Mai.
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 11
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
+ Cây bò suy yếu, ít lá cần lượng nước ít hơn so với cây phát triển tốt, có nhiều
lá. Riêng cây Mai vừa bứng, nhu cầu về nước không nhiều chỉ nên tưới vừa ẩm
bầu đất.
- Ngoài ra vào những buổi trưa nắng nóng, nhiệt độ quá cao, cây Mai sẽ ngừng
quang hợp nên tưới giảm nhiệt nhằm tạo ra khí hậu tiểu vùng với mục đích: tăng
độ ẩm môi trường và giảm nhiệt độ giúp cho cây quang tổng hợp tốt.
2.2.1.2. Phương pháp và kỹ thuật tưới:
Tưới phun mưa lên lá và vào mặt chậu là phương pháp thích hợp cho đa số các
2.2.2.3. Những nguyên tắc và yêu cầu kỹ thuật
- Nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây cần cân đối và hợp lý để cây sinh trưởng
và phát triển ổn đònh, bền vững.
- Không bón phân quá gần gốc cây và bón dư.
- Không nên bón quá nhiều phân trong một lần mà nên chia nhỏ lượng phân
bón thành nhiều lần, cây sẽ hấp thu tốt hơn và hạn chế tình trạng dư phân.
- Nếu cây Mai đang trong giai đoạn đâm chồi, có lá non khi bón không nên xới
đất.
- Những cây Mai sinh trưởng mạnh có nhiều cành lá cần lượng phân bón cao
hơn so với cây sinh trưởng kém ít cành lá.
- Bón phân khi cây có lá và lá đã trưởng thành, không bò sâu bệnh.
- Cần cung cấp đầy đủ nước cho cây sau khi bón.
2.2.2.4. Bón phân cho cây mai
Trong chu kỳ sinh trưởng và phát triển của cây mai có 3 thời kỳ quan trọng và
có ảnh hưởng lẫn nhau là:
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 13
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
- Thời kỳ 1: từ tháng 2 đến tháng 5 (âm lòch). Đây là giai đoạn phục hồi và sinh
trưởng mạnh của cây Mai. Thời kỳ này cây cần lượng dinh dưỡng lớn để phục hồi
và tạo cành, nhánh mới. Do đó cần cung cấp nhiều đạm cho cây. Và nên sử dụng
phân hữu cơ là chủ yếu hoặc có thể phối hợp với các loại phân hoáù học có hàm
lượng đạm cao.
- Thời kỳ 2: từ tháng 6 đến tháng 9. Từ cuối tháng 5, lá cây Mai đã thành thục
và sung mãn, nụ hoa bắt đầu phân hoá và hình thành. Vậy nên nhu cầu về lân
của cây trong giai đoạn này rất cao. Nếu bón thừa đạm thiếu lân trong giai đoạn
này những mầm ở nách lá sẽ phát triển thành chồi mới số lượng nụ hoa hình
thành không nhiều, hoa nở muộn và chất lượng không cao. Đồng thời khả năng
chống chòu của cây sẽ thấp, cây dễ bò bệnh.
- Thời kỳ 3: từ tháng 10 đến tết Nguyên Đán. Đây là giai đoạn hình thành hoa.
Cuối tháng 9 bộ lá cây Mai đã lão hóa và hầu như ngừng sinh trưởng. Nó bắt đầu
lão hóa của lá mai mà
chọn lựa loại phân và số
lần phun thích hợp.
2.2.3. Phòng trừ sinh vật hại
2.2.3.1. Sâu hại
Sâu là một trong những đối tượng gây hại cho cây Mai, nhất là trong giai đoạn
Mai ra lá non, đọt non. Nó làm gián đoạn sự phát triển thân và cành của cây Mai.
Trên cây Mai thường có thể có nhiều loại sâu như : sâu tơ, sâu lông, sâu cuốn
lá, sâu đục thân,… Nhưng phổ biến nhất là sâu tơ và sâu đục thân.
a) Sâu tơ (Delias aglaia)
- Thuộc Bộ Cánh Vẩy: Lepidoptera
- Họ Bướm phấn: Pieridae
Đặc điểm hình thái:
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 15
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
- Sâu trưởng thành là loài bướm phấn đen đốm trắng, dài khoảng 20 – 25 mm,
sải cánh rộng 60 – 70 mm. Thân và cánh màu đen, trên cánh có nhiều đốm màu
trắng, ở cánh sau có hai đốm màu vàng hình bầu dục.
- Trứng hình thoi, màu vàng, bề mặt có các vân sọc.
- Sâu non thân màu xanh trong, đầu màu nâu đen, dài 25 – 28 mm. (Hình 2.4)
Hình 2.4: Sâu tơ hại lá Mai
Tác hại: sâu non gặm nhấm làm khuyết lá. Khi lớn chúng nhả tơ kéo vài lá
non lại với nhau, rồi nằm bên trong cắn phá diện tích quang hợp của lá giảm.
Biện pháp phòng trừ: loại bỏ các ngọn bò sâu hoặc bắt sâu. Nếu mật độ sâu
cao, sử dụng các loại thuốc: Delfin, Abamectin, Regent, Biocin,… để tiêu diệt.
b) Sâu đục thân
Đây là loại sâu rất nguy hiểm đối với Mai và rất khó phát hiện vì chúng sống
ở trong thân hoặc cành cây, dùng lõi và nhựa cây làm thức ăn.
Tác hại: những cành Mai có sâu đục thân thường sinh trưởng kém. Nếu không
thành có màu vàng ngà (Hình 2.7).
Hình 2.6: Bọ tró trưởng thành Hình 2.7: u trùng bọ tró
Đặc điểm sinh thái và tác hại:
Bọ trưởng thành và ấu trùng thường sống tập trung ở đọt non, gân lá non. Khi
những lá bò hại chuyển sang giai đoạn bánh tẻ và già, thức ăn không còn phù hợp,
chúng lại di chuyển sang những lá non khác để chích hút và gây hại. Bọ tró
thường phát triển và gây hại mạnh vào mùa nắng nóng, khô hạn.
Bọ tró thường tấn công vào phần lá non và đỉnh sinh trưởng, làm lá non bò
thương tổn nặng: bò biến dạng, xoăn, nhỏ và mau rụng (Hình 2.8). Cây kiệt sức.
Hình 2.8: Bọ tró hại lá Mai
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 18
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
c) Nhện đỏ (Tetranychus sp.)
Đặc điểm hình thái: Nhện đỏ có kích thước rất nhỏ (khoảng 0,3 – 0,4 mm),
hình bầu dục, có 8 chân, di chuyển nhanh. Nhện non có màu vàng nhạt, khi lớn
chúng chuyển dần sang màu hồng và đỏ sậm (Hình 2.9)
Hình 2.9: Nhện đỏ trưởng thành
Đặc điểm sinh thái: nhện đỏ thường phát triển mạnh trong điều kiện thời tiết
nóng và khô. Nhện non và nhện trưởng thành đều sống tập trung ở mặt dưới các
lá già, chích hút nhựa. Đôi khi nhện còn tập trung ở các mắt lá.
Triệu chứng và tác hại:
- Nhện trưởng thành và nhện non đều ăn biểu bì và chích hút dòch của lá từ khi
lá bước vào giai đoạn trưởng thành trở đi, làm lá trở nên nâu rám (Hình 2.10), đôi
khi lại tạo thành đốm lá trắng vàng ở mặt trên của lá; còn ở mặt dưới của lá có
những vết trắng lấm tấm giống bụi cám và đôi khi lá có thể phồng lên như bánh
tráng (Hình 2.11).
- Mật độ nhện cao có thể làm lá vàng khô, dễ rụng, cây sinh trưởng kém, ảnh
- Chất lượng nguồn nước xấu tích tụ trong chậu hoặc đất lâu ngày
Biện pháp khắc phục: cần tìm hiểu rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc
phục phù hợp.
b) Bệnh đốm lá
Tác nhân: do nấm Pestalotia palmarum
Triệu chứng và tác hại:
- Đầu tiên mô bệnh chỉ là một chấm nhỏ li ti, sau đó nó lan nhanh ra cả lá. Viền
vết bệnh có màu nâu đậm, chỗ tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khoẻ có quầng màu
vàng nhạt (Hình 2.13).
- Bệnh thường xuất hiện trên những lá già rồi lan dần đến lá non, đọt non. Bệnh
nặng lá bò vàng rồi cháy lỗ chỗ, nhất là bìa lá, làm lá biến dạng. Ở nhánh non bò
bệnh, lá rụng, đọt cháy khô, cây chậm phát triển.
Hình 2.13: Bệnh đốm lá trên cây Mai
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 21
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
Biện pháp phòng trừ
- Trồng với mật độ vừa phải để cây Mai được thông thoáng.
- Vệ sinh vườn bằng cách cắt tỉa thu gom lá bò bệnh tiêu hủy để tránh lây lan.
- Bón phân cân đối, tăng cường bón thêm phân hữu cơ và kali giúp cây kháng
bệnh.
- Dùng thuốc hoá học Viben C phun ướt đều cả hai mặt lá.
c) Bệnh cháy lá
Tác nhân: do nấm Pestalotia funerea
Triệu chứng và tác hại: bệnh xuất hiện đầu tiên ở chóp và mép lá tạo thành
vệt màu nâu hình dạng bất đònh và lan dần vào lá (Hình 2.14). Khi bò bệnh lá
hoạt động kém và khô rụng sớm.
Hình 2.14: Bệnh cháy lá trên cây Mai
Điều kiện phát sinh bệnh: bệnh thường phát sinh ở những cây phát triển yếu,
Điều kiện phát sinh bệnh: bệnh thường gây hại nặng vào mùa mưa.
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 23
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
Triệu chứng và tác hại:
- Bệnh hại chủ yếu trên lá, đôi khi có trên cành non. Vết bệnh là những đốm
nhỏ màu nâu đỏ, xung quanh có viền màu nhạt thường tập trung thành một quần
thể (Hình 2.16). Bệnh thể hiện ở cả mặt trên và mặt dưới của lá mai.
Hình 2.16: Bệnh rỉ sắt trên lá Mai
- Nếu bệnh gây hại nặng mà không có biện pháp chữa trò kòp thời sẽ làm cho bộ
lá của cây Mai mất dần màu xanh vốn có và chuyển dần sang màu vàng, ảnh
hưởng đến quá trình tổng hợp của cây.
Biện pháp phòng trừ:
- Loại bỏ các cành lá bệnh, tập trung tiêu huỷ. Bón lân và kali nhằm tăng sức
chống bệnh cho cây.
- Khi cây bò bệnh nặng có thể phun một trong những loại thuốc sau: Derosal,
Score, Anvil,…
f) Bệnh thán thư
Nguyên nhân: do Collectotrichum sp.
Điều kiện phát triển bệnh: Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao.
Trong mùa mưa bệnh thường phát sinh gây hại nặng chủ yếu trên lá non và lá
bánh tẻ.
Triệu chứng và tác hại:
- Lá bò thối nhũn tại một điểm trên bề mặt và lan dần ra toàn lá. Vết bệnh có
màu nâu và không có hình dạng nhất đònh (Hình 2.17).
SVTH: Nguyễn Thò Tuyếùt Nhung 24
Khoá luận tốt nghiệp GVHD: CN Bùi Văn Thế Vinh
- Bệnh nặng sẽ làm lá bò khô và rụng hàng loạt.
Hình 2.17: Bệnh thán thư trên lá Mai