Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
LỜI CẢM TẠ
Trong thời gian thực hiện đề tài tôi rất biết ơn khi nhận được sự hướng dẫn
tận tình và chi tiết từ giáo viên hướng dẫn, sự giúp đỡ của bạn bè. Nhờ đó đã
giúp tôi hoàn thành được chuyên đề kinh tế của mình cũng như có kiến thức
trong việc trình bày một đề tài nghiên cứu phù hợp với tiêu chuẩn của một đề tài
nghiên cứu khoa học.
Ngày 23 Tháng 06 Năm 2011
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
1
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Ngày 23 Tháng 06 Năm 2011
Sinh viên thực hiện
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
2
9
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH
DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam và tầm quan trọng của ngành
dệt may Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế - Xã hội ………
10
2. Phân tích thực trạng phát triển của ngành dệt may Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập WTO………………………………………………………..
11
3. Những thành quả mà ngành dệt may đạt được trong những năm qua…..
17
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH
DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
1. Những thuận lợi đối với ngành dệt may Việt Nam trong thời buổi hội
nhập WTO………………………………………………………………….
19
2. Những khó khăn, thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam từ việc
gia nhập WTO mang lại……………………………………………………
20
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
4
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
3. Khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên trường quốc tế..
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ năm 2001 - 2009....................12
Biểu đồ 2: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ
qua các tháng giai đoạn 2006 - 2010...................................................................14
Biểu đồ 3: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang EU
qua các tháng giai đoạn 2007 - 2010...................................................................15
Biểu đồ 4: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản qua các tháng
giai đoạn 2007 – 2010…………………………………………………………………..17
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
7
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài
Dệt may là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh và
ổn định trong nhiều năm qua, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
Kinh tế - Xã hội của Việt Nam. Trong cạnh tranh quốc tế, đây cũng là ngành
mà Việt Nam có thế mạnh – Việt Nam là một trong số 10 quốc gia có kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Với những ưu thế về nguồn
nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư lớn Việt Nam có thể đấy mạnh hoạt động
Nam cũng như phân tích năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên
trường quốc tế trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Qua đó, đề xuất những giải
pháp nhằm phát triển xuất khẩu hàng dệt may đồng thời khắc phục, vượt qua
những khó khăn thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam trong thời buổi
hội nhập WTO hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm phát
triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may trong những năm gần đây.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn của ngành dệt may Việt Nam khi xuất
khẩu sang những thị trường lớn trên thế giới trong thời buổi hội nhập WTO
hiện nay.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên trương
quốc tế.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam nhằm tăng
khả năng cạnh tranh của mặt hàng này khi xuất khẩu sang các thị trường lớn
trên thế giới.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trong phạm vi các doanh nghiệp may trên lãnh thổ
Việt Nam
3.2. Phạm vi thời gian
Số liệu dùng để phân tích và so sánh được thu thập từ năm 2001 đến những
tháng đầu năm 2011.
3.3. Phạm vi nội dung
Do giới hạn về mặt thời gian, chi phí và nhân lực nên đề tài chỉ tập trung
phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam, phân tích khả năng
NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN
NAY
1. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam và tầm quan trọng của ngành dệt
may Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế - Xã hội
Ngành công ngiệp dệt may là ngành công nghiệp truyền thống ở Việt Nam,
đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển Kinh tế - Xã hội, giải quyết được
nhiều việc làm cho người lao động, đặc biệt có thế mạnh trong xuất khẩu đem
lại nguồn thặng dư đáng kể cho nền kinh tế. Trong quá trình Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa hiện nay, ngành dệt may đang chứng tỏ là một ngành mũi nhọn
trong nền kinh tế được thể hiện qua kiêm ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong
những năm gần đây, thị trường luôn được rộng mở, lao động trong ngành ngày
càng tăng, giá trị đóng góp của ngành đối với nền kinh tế càng cao.
Ngành dệt may đãm bảo đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân và
nhu cầu đối với mặt hàng may mặt ngày càng được nâng cao. Do vậy phát triển
ngành dệt may là một triển vọng mang lại hiệu quả cao. Xu hướng chuyển dịch
các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động trong đó có ngành dệt may từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển diễn ra nạnh mẽ, xuất phát từ
đặc điểm của ngành dệt may là ngành có khả năng tạo nhiều việc làm cho
người lao động, lao động trong ngành dệt may lại không đòi hỏi phải có kỹ
thuật cao và có thể đào tạo tại chỗ, công việc có thể phù hợp với lao động nữ ở
khắp mọi vùng lãnh thổ đất nước, đặc biệt ngành dệt may đòi hỏi vốn đầu tư ít
nhưng khả năng sinh lãi khá cao. Vì vậy, sản xuất hàng dệt may thường phát
triển mạnh và có hiệu quả rất lớn đối với các nước đang phát triển.
Công nghiệp dệt may có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của nhiều
ngành công nghiệp khác. Ngành công nghiệp dệt may phát triển sẽ cần đến một
khối lượng lớn nguyên liệu mà những nguyên liệu này lại là sản phẩm của các
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
11
USD và khoảng 9,1 tỷ USD vào năm 2008. Đáng chú ý, vào năm 2009 dưới tác
động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng
ngành dệt may Việt Nam vẫn đạt giá trị xuất khẩu gần 7.5 tỷ USD.
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
12
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
(Đơn vị: tỷ USD)
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ năm 2001 đến 2009
Xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ có mức tăng trưởng cao nhất, đặc biệt
giá trị xuất khẩu hàng dệt may việt Nam vào Hoa Kỳ đạt mức 3,8 tỷ USD vào
năm 2007, tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng giá trị xuất khẩu hàng
dệt may của Việt Nam cũng tăng tương ứng. Từ mức xấp xỉ 34,6% vào năm
2002 lên gần 50,7% vào năm 2007. Các thị trường chủ yếu khác là EU và Nhật
Bản: Thị trường EU có mức tăng khá ổn định đạt 1,5 tỷ USD vào năm 2007;
trong khi đó xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản lại diễn biến phức tạo hơn,
mặc dù vẫn thể hiện xu hướng tăng giá trị xuất khẩu vào năm 2001 là 620 triệu
USD, giảm xuống còn 514 triệu USD vào năm 2003 và tăng liên tục lên 800
triệu USD vào năm 2007. Chỉ riêng 3 thị trường này chiếm tỷ trọng cao trong
giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Việc mở rộng thị trường cũng
góp phần tạo điều kiện cho ngành dệt may không ngừng lớn mạnh.
Năm 2010, ngành dệt may đạt kiêm ngạch xuất khẩu 11,2 tỷ USD, tăng
23,2% so với năm 2009, trong bối cảnh số lượng đơn hàng xuất khẩu cũng như
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
2.2. Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang các thị trường lớn
trên thế giới
- Số liệu thống kê của cục hải quan trong nhiều năm qua cho thấy, Hoa Kỳ
vẫn là thị trường lớn dẫn đầu về thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
Xuất khẩu của nhóm hàng này sang Hoa Kỳ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng
kiêm ngạch xuất khẩu của cả nước
(Đơn vị: triệu USD)
Nguồn: Báo điện tử Tạp Chí Kinh Doanh
Biểu đồ 2: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ qua các tháng
giai đoạn 2006 – 2010
Qua biểu đồ 2: “Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Hoa Kỳ qua các
tháng trong giai đoạn 2006 -2010” ta thấy giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam vào thị trường Mỹ tăng cao, liên tục và ổn định qua các năm trong giai đoạn
2006 – 2010, đặc biệt tăng nhanh vào các năm 2009 và 2010. Giá trị xuất khẩu có
sự khác biệt giữa các tháng trong năm, các tháng có giá trị xuất khẩu cao trong
năm là từ tháng 5 đến tháng 8. Nhìn chung giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
15
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Nam sang thị trường Hoa Kỳ là cao, có xu hướng sẽ tăng cao vào các năm tiếp
theo.
Nam vào thị trường EU những năm trong giai đoạn 2007 - 2010 còn thấp và
thể hiện sự bất ổn định, những năm gần đây có sự sụt giảm thể hiện giá trị xuất
khẩu ở những năm sau còn thấp hơn so với năm trước đó, cụ thể là có một số
tháng của đầu năm 2010 vẫn thấp hơn so với năm 2009 trong các tháng cùng
kỳ, đây và vấn đề lo ngại đối với ngành dệt may Việt Nam đặc biệt trong thời
buổi hội nhập hiện nay khi vấn đề cạnh tranh đối với mặt hàng này càng trở
nên gay gắt, báo hiệu xu hướng có khả năng sụt giảm giá trị xuất khẩu ở thị
trường tiềm năng này nếu như ngành dệt may Việt Nam không thay đổi chiến
lược chiếm lĩnh thị trường tốt hơn.
- Nhật Bản là thị trường xuất khẩu dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam. Hàng
năm Nhật Bản có nhu cầu nhập khẩu khoảng 25 tỷ USD hàng dệt may, xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này chiếm khoảng 2,8%.
Trong thời gian tới xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang nhật Bản sẽ phải
cạnh tranh gay gắt với hàng dệt may từ các nước ASEAN do mức thuế quan
áp dụng đối với hàng dệt may từ các nước này đã được giảm xuống 0% trong
khuôn khổ Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Nhật Bản.
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
17
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
(Đơn vị: triệu USD)
Nguồn: Báo điện tử Tạp Chí Kinh Doanh
Biểu đồ 4: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản
qua các tháng giai đoạn 2007 – 2010
khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
may chỉ giảm 0,6% so với năm 2008, năm 2010 có ngành dệt may có dấu hiệu
phát triển mạnh mẽ khi tăng 23,7% so với năm 2009 đạt kim ngạch xuất khẩu
11,2 tỷ USD, đứng trong top 5 thế giới về kim ngạch xuất khẩu. Điều này đòi
hỏi cần phải có sự phân tích và điều chỉnh hợp lý trong thời gian tới để ngành
dệt may đứng vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
19
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
1. Những thuận lợi đối với ngành dệt may Việt Nam trong thời buổi hội
nhập WTO
Lợi thế cạnh tranh chủ yếu hiện nay của ngành dệt may Việt Nam là chi phí
lao động thấp. Trong những năm qua ngành dệt may đã tận dụng và khai thác
có hiệu quả lợi thế cạnh tranh này để không ngừng mở rộng thị trường. Khi
chính thức trở thành thành viên WTO, ngành dệt may có nhiều cơ hội tốt để
phát triển, các doanh nghệp dệt may có thể phát triển theo khả năng mà không
lo về hạn ngạch ở bất cứ thị trường nào. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có điều
kiện thâm nhập mạnh hơn vào thị trường nước ngoài tăng kim ngạch xuất khẩu.
Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội thu hút dòng đầu tư trực tiếp và gián
tiếp từ nước ngoài dành cho ngành dệt may, tạo điều kiện cho ngành dệt may
phát triển nguồn nguyên liệu bông, xơ sợi tổng hợp, hóa chất thuốc nhuộm…
ngoài ( trực tiếp hay gián tiếp) sẽ lớn hơn vào ngành dệt may và hạ tầng phục
vụ sản xuất dệt may. Điều này mang lại cho ngành nhiều lợi thế:
- Khả năng cạnh tranh có thể được tăng cường với việc bổ sung vốn cho các
doanh nghiệp đang tồn tại và sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới;
- Cơ hội tiếp cận kỹ năng quản lý và công nghệ kỹ thuật mới.
Tuy nhiên, những lợi ít và cơ hội nói trên lớn chỉ ở dạng tiềm năng. Việc
biến các tiềm năng này thành các lợi ít kinh tế thực sự phụ thuộc vào năng lực
và sự chủ động của từng doanh nghiệp
2. Những khó khăn, thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam từ việc gia
nhập WTO mang lại
Trước những thuận lợi lớn khi là thành viên WTO thì ngành dệt may Việt
Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức gay gắt trong cạnh tranh, đối mặt với
hiện tượng biến động lao động, các doanh nghiệp dệt may phải cạnh tranh trong
việc thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là cạnh tranh với các nhà đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam. Với việc Việt Nam gia nhập WTO, ngành dệt may phải đối
mặt với nhiều khó khăn, thách thức mới:
- Thuế nhập khẩu hàng dệt may giảm, cạnh tranh trong nước gay gắt hơn:
Dệt may là một trong những nhóm hàng hóa Việt Nam có cam kết cắt giảm
thuế nhập khẩu lớn nhất, mức thuế bình quân được cắt giảm từ 37,3% trước
thời điểm gia nhập xuống còn 13,7%) và việc cắt giảm này được thực hiện
ngay kể từ ngày 11/01/2007. Việt Nam cũng cam kết thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ trong Hệp định dệt may ( với mức giảm thuế lớn, ví dụ thuế suất đối
với vải giảm 40% xuống 12%, quần áo may sẳn giảm từ 50% xuống 20% và
sợi vải giảm từ 20% xuống 5%).
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
21
triển của nền kinh tế, mặt bằng tiền lương trong xã hội sẽ được nâng lên.
- Tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may tuy có cao hơn so với trước nhưng
vẫn ở mức thấp (30%). Hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một khối
lượng lớn nguyên vật liệu và phụ kiện hàng dệt may từ bên ngoài. Do đó,
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
22
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay
ngành dệt may Việt Nam trở nên rất nhạy cảm trước các biến động bất lợi trên
thị trường thế giới. Đồng thời, do không chủ động được trong nguồn nguyên
liệu nên nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất dễ rơi vào tình thế bị động
trong việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu và phải đối mặt với nhiều rủi ro tài
chính như tỷ giá, lãi suất và lạm phát…
- Ngành dệt may Việt Nam chủ yếu gia công hàng hóa và xuất khẩu qua các
nước thứ 3 nên hàm lượng giá trị gia tăng thấp. Thương hiệu sản phẩm dệt may
của Việt Nam vì thế chưa thực sự khẳng định tên tuổi trên thị trường thế giới.
3. Khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên trường quốc tế
Gia nhập WTO từ ngày 11/01/2007, Việt Nam có điều kiện hội nhập sâu
vào nền kinh tế thế giới, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển kinh tế, đẩy mạnh
xuất khẩu do các rào cảng thương mại như hạn ngạch dệt may vào Hoa Kỳ đã
được rở bỏ. Nhưng đổi lại, Việt Nam phải cam kết mở cửa thị trường, giảm
thuế và các rào cảng bảo hộ khác.
Cạnh tranh trên thị trường thế giới đối với hàng dệt may trong thời gian tới
dự báo sẽ cạnh tranh căng thẳng hơn. Nhiều nước trên thế giới đang tập trung
vào việc nâng cao đẳng cấp, chất lượng hàng dệt may để cạnh tranh. Các đối
thủ khổng lồ và trực tiếp của ngành dệt may Việt Nam hiện nay là Trung Quốc,
Kông đạt 40 tỷ USD, đóng góp 11% trên tổng kiêm ngạch trong vùng. Tuy
nhiên, phần lớn trong số này bao gộp cả hàng hóa tái xuất khẩu có xuất xứ từ
khu vực nội địa Trung Quốc và những nước giá rẻ ở Châu Á khác. Sản xuất
hàng dệt may nội địa Hồng Kông đã và đang suy giảm do giá thành cao, đặc
biệt trong các thành phần giá cả đầu vào, giá lao động và giá đất cao hơn rất
nhiều so với phần lớn các nước Châu Á khác. Dù vậy, ngành công nhiệp may
mặc Hồng Kông vẫn giữ vị trí quan trọng – là ngành có hoạt động sản xuất lớn
trong miền. Hiện tại ngành công nghiệp ở nước này đang tập trung sản xuất
phục vị thị trường xa xỉ phẩm – nơi các giá trị như tính sáng tạo và tính thời
trang được coi là cần thiết trong việc hấp dẫn người tiêu dùng thuộc đẳng cấp
sành điệu trên trường quốc tế, một vài mạng lưới kết nối quan trọng đã được
thiết lập giữa Hồng Kông và một số thương hiệu nổi tiếng, độc đáo bậc nhất.
Hướng tới tương lai, Hồng Kông sẽ phải đối mặt với sức ép về cạnh tranh do
các ngành công nghiệp dệt may ở những nước Châu Á khác đang mở rộng và
xây dựng phát triển không ngừng, với mục đích nâng cao khả năng thiết kế và
năng lực sản xuất…
- Indonexia đang đẩy mạnh chương trình hiện đại hóa và cơ cấu lại ngành
dệt may nhằm đạt mực têu tăng kiêm ngạch xuất khẩu, hàng loạt giải pháp
được đưa ra nhằm thực hiện mục tiêu này, trong đó gồm việc cho phép các
ngân hàng tìm nguồn vốn trung và dài hạn dể hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa
thiết bị; chính phủ Indonesia bảo đảm cung cấp nguyên vật liệu chính cho
ngành dệt may, trong đó có các sản phẩm từ hóa dầu; khuyến khích các công ty
GVHD: Trần Thị Thu Duyên
24
Phân tích thực trạng phát triển ngành dệt may Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập hiện nay