LUẬN VĂN:
Công tác vận động tín đồ tôn giáo trong
thời kỳ đổi mới: thực trạng, phương
hướng và giải pháp
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác vận động quần chúng nói chung, công tác vận động tín đồ các tôn giáo
nói riêng là công tác thường xuyên và tưởng chừng như quá quen thuộc trong sự nghiệp
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước kia cũng như trong sự nghiệp cách mạng
XHCN hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thế nhưng khi Đảng ta thực hiện
bước chuyển đổi cách mạng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và từng bước đưa nước ta
bước vào quỹ đạo của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì công tác
vận động tín đồ các tôn giáo - một công tác vận động quần chúng "đặc biệt" lại càng
phải hết sức coi trọng.
Hơn thế nữa, những chuyển biến tích cực và tiêu cực của đời sống quốc tế cũng
tác động khá phức tạp đối với tình hình trong nước một khi Đảng ta chủ trương mở rộng
quan hệ quốc tế với phương châm "Việt Nam sẽ là bạn của các nước!". Trên phương
diện của đời sống tôn giáo - một vấn đề vừa tế nhị, vừa phức tạp, lại mang tính quốc tế
hóa cao, tất nhiên cũng đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta phải có những chủ trương, đường
lối, chính sách thích ứng, phù hợp với tình hình quốc tế và điều kiện lịch sử cụ thể của
đất nước.
Từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, tạo điều kiện cho đất nước ta hội
nhập trong xu thế quốc tế hóa thì hoạt động tôn giáo ở nước ta nói chung, ở tỉnh Quảng
Ngãi nói riêng bên cạnh những mặt tốt cũng tồn tại không ít những hoạt động tôn giáo
vi phạm những qui định của Nhà nước: Truyền đạo trái phép; vi phạm quyền tự do
không tín ngưỡng của nhân dân như đe dọa, ép buộc đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo,
thậm chí có nơi hoạt động tôn giáo còn có biểu hiện né tránh sự quản lý của bộ máy nhà
trong tình hình mới.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thực trạng tình hình công tác vận
động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay; qua đó đề xuất phương hướng và
giải pháp đúng đắn góp phần đưa công tác vận động tín đồ tôn giáo ở địa phương phù
hợp với yêu cầu của tình hình. Với mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
- Nêu lên bức tranh tổng quan về tình hình tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi.
- Đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của công tác vận động tín đồ các tôn giáo trong
những năm qua (nhất là từ khi có Nghị quyết 24/BCT (1990) đến nay).
- Luận giải và kiến nghị về công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương
trong thời gian tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận chủ đạo của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn
giáo và công tác vận động tín đồ tôn giáo.
- Phương pháp luận chung cho luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể có liên
quan để nghiên cứu: điều tra, khảo sát, thống kê, lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp
nhằm luận giải các nội dung được nêu ra trong luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
-Làm rõ về đặc điểm tâm lý, tình cảm, tư tưởng của các tín đồ tôn giáo trong
từng địa bàn dân cư khác nhau để áp dụng biện pháp tuyên truyền, vận động tín đồ các
tôn giáo một cách thích hợp nhất.
- Đề cập những bài học kinh nghiệm mang tính khả thi đối với công tác vận
động tín đồ ở địa phương đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính
sách vận động quần chúng tín đồ của các cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể ở địa
Tình hình và đặc điểm tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
11
hiện nay
1.2.1.
Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Phật
14
1.2.2.
Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Công giáo
22
1.2.3.
Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Tin lành
27
1.2.4.
Tình hình, đặc điểm tín đồ Cao đài
36
Chương 2:
2.2.
Phương hướng và giải pháp cho công tác vận động tín đồ các
67
tôn giáo ở địa phương
2.2.1.
Một vài dự báo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam và tỉnh Quảng
67
Ngãi
2.2.2.
Những phương hướng chung
71
2.2.3.
Những biện pháp cần thực thi
73
Kết luận
77
Tỉnh Quảng Ngãi có 4 con sông lớn, nhưng nhìn chung sông ngòi của tỉnh có độ
đốc cao(từ 100,5 đến 330) và ngắn, lưu lượng thấp nên nước thường dâng cao vào mùa
mưa, khô cạn vào mùa khô. Để khắc phục tình trạng này, sau ngày đất nước thống nhất,
được sự giúp đỡ của Trung ương năm 1976 tỉnh Quảng Ngãi khởi công xây dựng công
trình thủy lợi Thạch Nham trên thượng nguồn sông Trà Khúc để đưa nước phục vụ sản
xuất và đời sống nhân dân ở các huyện đồng bằng trong mùa khô cạn.
Do địa hình nghiêng nên mùa mưa thường xảy ra hiện tượng lũ ở miền núi
khiến cho đất đai canh tác vốn đã bạc màu lại càng bị xói mòn nghiêm trọng. Theo bản
đồ thổ nhưỡng của tỉnh Quảng Ngãi thì hiện nay trong toàn tỉnh có 68 loại đất khác
nhau, nhưng nhìn chung chất lượng đất trồng trọt thuộc loại trung hình so với cả nước.
Về khí hậu, thời tiết chủ yếu là khắc nghiệt, một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa
mưa và mùa nắng. Mùa mưa thì gây ra lũ, lụt lớn, mùa nắng dễ gây ra hạn hán kéo dài.
Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi là bất lợi cho đời sống của nhân dân,
vốn là một địa phương có cư dân nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Chúng ta đều biết
rằng, khó khăn về đời sống kinh tế chính là mảnh đất tốt để cho tín ngưỡng, tôn giáo
sinh sôi, nẩy nở. Song tùy theo biên độ nhiệt của tình hình chính trị mà đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo có những biểu hiện (sôi nổi hoặc thầm lặng) khác nhau, mang những
mục đích khác nhau. Vì lẽ đó mà cũng có thể nói rằng: tác động xấu của điều kiện địa lý
tự nhiên là tiền đề cho sự phát sinh tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng điều có tính quyết định
cho sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo chính là do tác động của yếu tố
xã hội.
Theo "Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam" thì tỉnh Quảng Ngãi nguyên
là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành. Năm 1402 Hồ Quý Ly cất binh đánh Chiêm Thành,
chiếm phần đất Cổ Lũy và chia Cổ Lũy thành hai châu: Châu Tư và Châu Nghĩa trực
thuộc lộ Thăng Hoa của nước Đại Ngu- Bên cạnh binh sĩ và quan lại trấn giữ, nhà Hồ
đưa dân Việt ở Nghệ An và Thuận Hóa vào định cư, sinh sống lâu dài [65, tr. 62-63].
Từ đó, trên đất Cổ Lũy ngoài các tộc người bản xứ còn có thêm người Việt cùng sinh
sống. Đến đời Hồng Đức, hai Châu Tư và Nghĩa được đổi thành phủ Tư Nghĩa trực
tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc kinh chiếm số đông 87,8%; dân tộc H're có
8,58%; dân tộc Cor có 1,8%; dân tộc Xêđăng có 0,7% các dân tộc khác có tỷ lệ 0,12%
[24, tr. 12]. Trong 13 huyện (thị) của tỉnh Quảng Ngãi thì có 6 huyện (thị) ở khu vực
đồng bằng; 1 huyện trung du, 1 huyện hải đảo và 5 huyện miền núi. Dân cư phân bố
không đều, tập trung chủ yếu ở đồng bằng chiếm 83,8% còn ở miền núi, hải đảo dân cư
thưa thớt chiếm 16,3% dân số của tỉnh. ở các vùng đồng bằng, trung du và hải đảo đại
đa số là dân tộc kinh., có đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội thuận lợi và tiến bộ hơn so
với các dân tộc ít người ở miền núi. Dù ở khu vực lãnh thổ nào đi nữa, nhìn chung cư
dân Quảng Ngãi chủ yếu vẫn là cư dân nông nghiệp. Do vậy, yếu tố cộng đồng làng xã,
cộng đồng dòng họ cũng ít nhiều chi phối đến đời sống mọi mặt của con người. Tuy
nhiên so với bản quán tổ tiên thì tính cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ không bị
ràng buộc chặt chẽ mà chỉ là cái nghĩa, cái tình trong quan hệ giữa con người với con
người trong một cộng đồng. Những truyền thống quí báu của tổ tiên cũng được lưu
truyền và ứng dụng vào đời sống ở vùng đất mới, tất nhiên phải qua sự chọn lọc và phát
triển phù hợp với đời sống văn hóa bản địa. Đối với đời sống tín ngưỡng và tôn giáo,
người dân Quảng Ngãi cũng mang đầy đủ những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của một cư
dân nông nghiệp đa thần: ở vùng biển, người dân coi trọng việc xây dựng Lăng, Miếu
thờ cá voi (cá Ông) với những nghi thức long trọng và trang nghiêm. Cư dân ở đồng
bằng và trung du vẫn dựng đình, miếu để thờ Thành Hoàng của làng, xã; còn cư dân
miền núi vẫn bảo lưu đậm nét những tín ngưỡng đa thần nguyên thủy của họ.
Có thể nói rằng, Quảng Ngãi là một tỉnh bị tàn phá ác liệt bởi nhiều cuộc chiến
tranh liên tiếp, kéo dài; lại thêm điều kiện thiên nhiên, thời tiết khắc nghiệt, nên tỉnh
Quảng Ngãi rất khó khăn trong việc phục hồi và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội
đại biểu tỉnh Đảng bộ lần XVI (9/2000) có nêu:
Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt thấp - nông nghiệp phát triển chưa
toàn diện, tỉ suất hàng hóa thấp, các ngành công nghiệp, dịch vụ còn nhiều
mặt yếu, năng lực cạnh tranh kém- văn hóa, xã hội tuy có chuyển biến nhưng
tín ngưỡng trong đời sống nhân dân địa phương hiện nay là rất phong phú và phức tạp.
Theo đạo rầm rộ, rồi nhạt đạo, khô đạo, bỏ đạo và tái theo đạo là cái vòng luẩn quẩn
trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương, nó phản ánh một sự bế
tắc trong cuộc sống của con người; nó phản ánh một tư tưởng tự do trong tôn giáo và
đồng thời cũng chứng tỏ sự cởi mở, không cực đoan, cuồng tín trong đời sống đạo của
nhân dân, và một phần nào đó nó cũng nói lên tính thực dụng trong tôn giáo. Xu hướng
này hiện nay có tình trạng "mượn đạo tạo đời", "theo đạo kiếm gạo mà ăn...", đây là
những bả vật chất quen thuộc của các thế lực phản động hoặc số người lợi dụng đội lốt
tôn giáo dùng để lừa bịp, tập hợp quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin vào tổ chức tôn
giáo này, tôn giáo nọ nhằm thực hiện các mưu đồ chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau.
Là một tỉnh có truyền thống hiếu học nhưng nhân dân nông nghiệp, nông thôn
lại không có điều kiện đi học nên dân trí thấp. Do vậy ở một bộ phận nhân dân nông
thôn (kể cả tín đồ các tôn giáo) dễ bị lợi dụng, lôi kéo vào những hoạt động xấu của bọn
đội lốt trong các tôn giáo là đương nhiên.
Nêu bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên - xã hội tác động đến đời sống
muôn mặt của tín đồ các tôn giáo ở địa phương là điều cần thiết. Nhưng vấn đề quan
trọng hơn là cần phải đi sâu tìm hiểu về đặc điểm tâm lý của tín đồ ở từng tôn giáo để có
giải pháp phù hợp cho việc vận dụng công tác quần chúng của Đảng vào từng tôn giáo
cụ thể.
1.2. Tình hình và đặc điểm tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay
Trong tác phẩm "Từ điển tiếng Việt" có viết: "Tín đồ là người tin theo một tôn
giáo: Tín đồ Phật giáo, tín đồ Công giáo" [65, tr.7 88]. Nói như vậy sẽ chưa chặt chẽ,
bởi lẽ có người tin theo một tôn giáo, sùng kính một tôn giáo nào đó nhưng hoàn toàn
không phải là tín đồ của tôn giáo đó. Trường hợp này vẫn thường thấy ở Phật giáo, có
người đến chùa thắp hương, lễ Phật do trong cuộc sống hằng ngày của người ta gặp phải
chuyện éo le hoặc gặp điều may mắn họ đều đến cửa Phật để sẻ chia... Nhưng họ không
có quy y tam bảo, họ không bị ràng buộc bởi chế định nào của đạo Phật thì không thể
xem người đó là tín đồ được.
tình hình, đặc điểm của từng tín đồ tôn giáo cụ thể ở địa phương. Mặt khác, cũng cần
nên lưu ý đến đặc điểm, tình hình chung của tín đồ các tôn giáo để có cái nhìn nhận nhất
quán trong nghiên cứu, tìm hiểu đó là:
- "Bất kỳ tín đồ một tôn giáo nào cũng coi niềm tin tôn giáo của mình là thiêng
liêng. ý thức và niềm tin đó chủ yếu là tự bản thân họ" [78, tr. 9].
- ở tất cả các tôn giáo dù truyền thống hay hiện đại đều mang tính mơ hồ, vừa
quyến rũ, lôi kéo, vừa hù dọa, răn đe tín đồ bằng những tội lỗi "nghiệp chướng", tội lỗi
"tổ tông" khiến tín đồ phải quy phục trước uy quyền mầu nhiệm của đấng tối cao. Do
đó, trong tư tưởng của một tín đồ luôn thể hiện hai động thái song song là tin kính và sợ
hãi.
- Phần lớn tín đồ các tôn giáo là nông dân cần cù, chất phác. Do đó, tính hướng
thiện, tính yêu thương con người và đất nước là một trong những đặc tính bao trùm của
người tín đồ chân chính, họ muốn có cuộc sống êm đẹp ở trần gian, nên tín đồ các tôn
giáo thường hay đứng ở vị trí yếm thế hơn là linh hoạt, sôi nổi trong môi trường xã hội,
nếu như cuộc sống đạo và đời của họ được ổn định, bình yên. Tỉnh Quảng Ngãi có 4 tôn
giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Tin lành. Những năm đầu sau ngày giải phóng
hoạt động của các tôn giáo bị thu hẹp, tín đồ các tôn giáo đều giảm, phần lớn các cơ sở
thờ tự bị tàn phá trong chiến tranh. Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 24/TW và Nghị định 69/HĐBT thì hoạt động của
tôn giáo phục hồi và số lượng tín đồ các tôn giáo phát triển nhanh. Nhìn chung hoạt
động của tín đồ các tôn giáo đều xoay quanh đường hướng hành đạo của tôn giáo mình,
hoạt động trong khuôn khổ chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Tuy nhiên vẫn có một số tín đồ cực đoan, còn luyến tiếc với những gì mà chế độ
ngụy quyền ưu ái, mặc dù đó chỉ là sách lược mua chuộc, lừa bịp dã hiệu. Số này thường
được bọn đội lốt trong các tôn giáo triệt để khai thác và lôi kéo. Chúng lợi dụng chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo để đưa ra những yêu sách, kiến nghị không
đúng với quy định của luật pháp, làm ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo
trong cộng đồng xã hội.
của hàng loạt ngôi chùa ở địa phương cũng chứng tỏ về sự phát triển của đạo pháp
trong buổi đầu xây dựng quê hương mới.
Sau hơn hai trăm năm hưng thịnh dưới thời Lê Trung Hưng và các chúa
Nguyễn, Phật giáo ở Quảng Ngãi bắt đầu đi vào sự suy thoái giống như số phận chung
của đạo Phật cả nước- nguyên nhân chủ yếu là do các Vua thời Nguyễn (Từ Gia Long
đến Tự Đức) cần có một học thuyết để trị nước có lợi cho chính quyền phong kiến
chuyên chế mới hình thành. Nhà Nguyễn chọn Nho giáo làm tư tưởng độc tôn, còn Phật
giáo chẳng những không được trọng vọng như trước mà ngược lại bị triều đình phong
kiến nhà Nguyễn bài xích và hạn chế. Tuy nhiên, trong dân gian các tín đồ đạo Phật vốn
đã sẵn có tư tưởng đồng nguyên tam giáo: Nho - Đạo - Phật. Do đó, sự tranh chấp, kỳ
thị giữa các tín đồ khác nhau không diễn ra. Khi thực dân Pháp từng bước xâm lược
Việt Nam thì sự tranh chấp giữa Phật giáo và Công giáo cũng bắt đầu nảy sinh. Song,
đối với tín đồ Phật giáo, việc đạo Phật giữ vai trò tham chính hay không tham chính là
vấn đề không quan trọng mà điều cốt yếu là tín đồ đạo Phật có hòa quyện vào cộng
đồng dân tộc như một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chung lưng đấu cật
cùng với dân tộc hay không.
Phật giáo là một tôn giáo đại diện cho sự từ bi, độ lượng, đại xá trong quan hệ
đời thường giữa người với người. Vì vậy, trải qua bao thăng trầm, tín đồ đạo Phật ở
Quảng Ngãi vẫn tồn tại với số lượng, đông đúc, mặc dù tổ chức giáo hội và giáo lý của
Phật giáo rất lỏng lẻo.
Trong những năm 20 của thế kỷ 20, thực dân Pháp cũng đã thấy được sự hiện
hữu của Phật giáo trong lòng dân tộc là không thể chối bỏ được, mặc dù có sự suy vong
trầm trọng về đạo pháp. Do đó, trong xu hướng "Tương kế tựu kế" thực dân pháp cho
phép Phật giáo thực hiện công cuộc "chấn hưng" đạo pháp để qua đó nắm lấy đạo Phật
làm cơ sở xã hội, thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Thế nhưng "phong trào chấn
hưng Phật giáo" không đi theo xu hướng của chính quyền thực dân mong muốn. Các
Hội Phật học lần lượt ra đời ở khắp nơi trên đất nước để tuyên truyền quan điểm mới về
giáo lý nhà Phật, cải tổ tổ chức, củng cố lại giáo hội nhằm khắc phục những tồn tại, vì
Ngãi vận động thành lập Hội Phật giáo và Hội Phật giáo ra đời do ông Tạ Dinh làm hội
trưởng- Giai đoạn này đã chứng kiến một thời kỳ đen tối nhất trong đời sống tín ngưỡng
tôn giáo của tín đồ phật giáo ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở miền Nam Việt Nam nói
chung. Với mưu đồ "Công giáo hóa" miền Nam Việt Nam, gia đình họ Ngô dùng tất cả
mọi thủ đoạn đàn áp, khống chế, bách hại nhân dân miền Nam mà đối tượng gánh chịu
chính sách ngụy tạo này không ai khác ngoài tín đồ Phật giáo. Mỹ - Diệm đánh đồng tín
đồ Phật giáo với người cộng sản ở miền Nam Việt Nam là một. Do vậy, cuộc sống ảm
đạm bao quanh tín đồ Phật giáo miền Nam Việt Nam lúc này đã được các nhà nghiên
cứu ghi nhận qua vài nét phát họa sau đây:
Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng "tại Quảng Ngãi, bằng việc tổ chức các lớp
học chủ nghĩa nhân vị, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt ép dân, chủ yếu là tín đồ
Phật giáo bỏ đạo của mình để theo Thiên chúa giáo, có nơi Phật giáo bị đã kích mạnh.
Nếu những ai phản đối thì đủ mọi thứ tai ương ập đến" [20, tr. 15].
Hàng loạt những trò mưu ma, xảo quyệt được chính quyền Ngô Đình Diệm
tung ra để nhằm áp chế, cải đạo đối với tín đồ Phật giáo thật là kinh khủng. Thư đề ngày
23/9/1961 của Khuôn hội Phật giáo xã Sơn Mỹ gởi tỉnh Quảng Ngãi cho biết:
Trong thời gian gần đây, cứ theo các báo cáo có Ông thầy Dư người
Công giáo ở Phú Hòa về giảng đạo và dạy thuyết Duy linh tại xã Sơn Mỹ, đi đến
thôn, Ông ấy dùng lời lẽ ép hội viên chính thức của Phật giáo, buộc họ ký đơn
tình nguyện vào Thiên chúa giáo, nếu không thì dùng biện pháp chính quyền
khủng bố. Như ghép vào tội tình nghi, lướng hướng bắt học tập, thu giấy căn
cước và thẻ chứng minh của Phật giáo, làm cho sinh hoạt trở ngại [20, tr. 20].
Kết quả của mưu đồ trên là hầu hết các "cán bộ" từ thôn, xã trở lên (trong bộ
máy chính quyền của Ngô Đình Diệm) đã được cải giáo, lực lượng này được xem như
là cơ sở chính trị của chính quyền Ngô Đình Diệm. Nhưng không bao lâu khi chính
quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ thì "cán bộ" thôn, xã trong bộ máy chính quyền ấy hầu
hết cũng bỏ đạo mới theo mà quay trở lại làm tín đồ đạo Phật.
Dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Quảng
Ngãi, trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước nhiều tổ chức Phật giáo yêu nước ra đời trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" (1954). Tổ chức
"gia đình phật tử" (1963); các phong trào đấu tranh cho hòa bình, chống bắt lính trong
phật tử... đi vào hoạt động đạt được kết quả thiết thực, góp phần cùng cả nước làm nên
cuộc chiến thắng mùa xuân lịch sử 1975.
Sau ngày giải phóng đất nước đến năm 1989, tình hình địa phương và đất nước
có sự đổi thay lớn, tác động đến đời sống của tín đồ Phật giáo. Song đa phần tín đồ Phật
giáo hành động theo hiến chương của giáo hội Phật giáo Việt Nam "đạo pháp - dân tộc
và chủ nghĩa xã hội". Từ khi có Nghị quyết 24/BCT (16-10-1990) tín đồ Phật giáo ở
Quảng Ngãi hoạt động sôi nổi với nhiều hình thức phong phú. Bên cạnh việc cúng
dường, niệm phật, lo toan chuyện công đức, các tín đồ Phật giáo còn tham gia các công
tác xã hội mà rõ nét nhất là công tác từ thiện xã hội. Song, việc hiểu sâu sắc về chính
sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo của tín đồ đạo Phật thì
còn nhiều vấn đề khá mơ hồ. Do đó, dễ dẫn đến động thái cực đoan, yêu sách một khi
có kẻ xấu mua chuộc và lợi dụng. Vấn đề mê tín dị đoan trong đời sống một bộ phận tín
đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi vẫn còn nặng nề; hiện tượng xem tử vi, bùa chú... đang là
vấn đề tồn tại trong đời sống tâm linh của họ.
Bàn về đặc điểm, tình hình của tín đồ đạo Phật ở Quảng Ngãi không thể không
điểm qua một đơn vị tôn giáo mang tính quần chúng rất quan trọng đó là Gia đình phật
tử, được thành lập từ năm 1963, tổ chức Gia đình phật tử ở miền Nam Việt Nam chia
thành 5 khu vực (miền):
- Miền Quảng đức: Sài gòn - Gia Định
- Miền Khánh Hòa: Bình thuận, Ninh thuận, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu
- Miền Khuôn Việt: Lâm Đồng - Đắc Lắc - Gialai-Kontum
- Miền Liểu quán: Bình Định- Phú Yên- Khánh Hòa
- Miền Vạn Hạnh: Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi.
Như vậy, Gia đình phật tử Quảng Ngãi thuộc miền Vạn Hạnh, tức là trực thuộc
xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, lôi kéo tín đồ, đạo hữu gây
chia rẽ nội bộ Giáo hội cũng như đời sống bình an của tín đồ phật giáo ở địa phương.
1.2.2. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Công giáo
Hiện nay tín đồ đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có 5.885 người, sống tập
trung chung quanh 13 nơi thờ tự, có 8 chức sắc và 3 Hội đoàn chủ yếu là Thánh ca và lễ
nghi phụng vụ trong các ngày lễ trọng của đạo, đa số tín đồ Công giáo cư trú tập trung ở
các huyện đồng bằng, trung du và hải đảo. Tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi khác
với nhiều địa phương khác là họ không có khu vực cư trú toàn tòng mà sống xen kẽ
cùng tín đồ các tôn giáo khác. Vì vậy, tín đồ Công giáo không chỉ biết có chúa của mình
là độc tôn và duy nhất, mà họ còn biết đến các vị chúa của các tôn giáo khác. Đặc điểm
này làm giảm đi tính cực đoan trong tư tưởng của tín đồ Công giáo ở địa phương. Cũng
như tín đồ các tôn giáo khác ở tỉnh Quảng Ngãi, tín đồ Công giáo đều có chung nguyện
vọng là được sống hòa bình, yên ổn để làm ăn, đạo - đời hòa hợp theo tinh thần Thư
chung (1980) của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Vì những lý do riêng, đạo Công giáo ở
Quảng Ngãi chưa thành lập được ủy ban Đoàn kết Công giáo của tỉnh. Đây là một sự
thiệt thòi đối với tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi. Bởi lẽ họ không có cơ hội để thể
hiện cuộc sống "phúc âm trong lòng dân tộc".
Do xuất thân từ những người lao động, đa phần tín đồ Công giáo ở Quảng Ngãi
là nông dân (với ba ngành nghề chính là: trồng trọt và chăn nuôi, đi biển, làm muối),
một số ít là tiểu thương nên ngoài việc đạo, họ tham gia tích cực vào các công việc của
xã hội. Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua nhận xét của
nhiều cơ quan chuyên môn đều cho rằng: Tín đồ Công giáo chấp hành các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước triệt để hơn so với các công dân khác trên địa bàn.
Tuy vậy, tín đồ Công giáo cũng còn những đặc điểm riêng mà bọn xấu dễ lợi
dụng, kích động, lôi kéo vào những mưu đồ xấu, làm ảnh hưởng đến đời sống đạo của
người giáo hữu chân chính.
Tiến trình hình thành và phát triển của đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có
những bước thăng trầm mang tính lịch sử, tác động khá lớn đến đời sống muôn mặt của
Sang đầu thế kỷ XX do tương quan lực lượng khi đó của thực dân Pháp, đạo
Công giáo được phục hồi, các họ đạo lại tiếp tục mở mang; bên cạnh dòng Mến thánh
giá đã có từ trước còn có các dòng tu khác như dòng Chúa cứu thế, dòng Paolo lần lượt
ra đời. Cùng với các dòng tu là các trường học, Cô nhi viện của Công giáo mọc lên khá
nhiều trong địa bàn tỉnh. Như vậy, công cuộc truyền đạo lại một lần nữa được dấy lên
mạnh mẽ ở địa phương.
Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, không phải tín đồ Công giáo nào cũng
được chính quyền đương thời bảo vệ, nâng đỡ (mặc dù họ là cơ sở xã hội của chế độ
thực dân) mà ngược lại, tín đồ Công giáo cũng bị chế độ đương thời phân biệt, đối xử tệ
hại cũng chẳng khác gì người "ngoại đạo" trong vùng. Tín đồ Công giáo ở Quảng Ngãi
cũng cùng chung một số phận, một hoàn cảnh của người dân mất nước. Do vậy, khi có
sự tập trung và vận động của Mặt trận Việt Minh thì ít nhiều tín đồ Công giáo cũng
phần nào giác ngộ được vai trò, trách nhiệm của công dân trước vận mệnh của dân tộc.
Dẫu rằng họ bị đầu độc khá sâu sắc về những luận điệu xuyên tạc, vu khống chính trị
của kẻ thù, dẫn đến sự đố kỵ, chia rẽ đối với cộng đồng dân tộc. Nhưng dần dần nhiều
tín đồ Công giáo tham gia vào tổ chức Công giáo cứu quốc ở địa phương do Mặt trận
Việt Minh lãnh đạo trong giai đoạn 1945- 1954 là một minh chứng cho tinh thần "kính
Chúa - yêu nước" đáng trân trọng của họ.
Đặc biệt, đến giai đoạn 1955 - 1963, giai đoạn gắn liền với chính thể Ngô Đình
Diệm, đạo Công giáo một lần nữa có điều kiện phát triển rầm rộ và lan rộng, gây dựng
thanh thế cho chính sách "Công giáo hóa miền Nam". Một quốc sách chống Cộng thâm
độc, lộ liễu và "sai lầm tai hại" cho chính thể Ngô Đình Diệm". Khắp nơi trong tỉnh đều
bàn chuyện "Cần lao", "cải tạo"... gây nên không khí nghi kỵ, mất đoàn kết trong đời
sống nhân dân ở từng thôn, từng xã và từng họ hàng, gia tộc. Một mâu thuẫn lớn nảy
sinh trong đời sống xã hội đương thời của người dân địa phương là theo chúa hay theo
ông bà, tổ tiên? Trước sức mạnh cưỡng chế của chính quyền, số lượng tín đồ Công giáo