luận văn thạc sỹ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực - Pdf 35

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điện lực là ngành năng lượng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đối
với hoạt động lao động, sản xuất và đời sống xã hội. Nhất là trong giai đoạn
nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì điện lực được coi là
dòng máu nuôi dưỡng và thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực, ngành, nghề
khác trong nền kinh tế quốc dân. Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, điện
lực luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đầu tư thích đáng. Xét về
phương diện pháp lý, môi trường bảo đảm cho hoạt động điện lực phát triển
hợp pháp, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp
luật để quản lý và điều chỉnh ngành năng lượng mũi nhọn này từ khâu quy
hoạch, phát triển nguồn điện, xây dựng mạng lưới truyền tải điện đến khâu
phân phối điện tới khách hàng sử dụng điện. Đặc biệt là kể từ khi Luật Điện
lực được Quốc hội ban hành (ngày 03/12/2004), khung pháp lý về hoạt động
điện lực ngày càng được hoàn thiện. Đây là một thuận lợi lớn đối với hoạt
động điện lực.
Tuy nhiên, cũng như bất cứ lĩnh vực nào, việc tuân thủ pháp luật và vi
phạm pháp luật cũng luôn có xu cùng tồn tại song song. Do đó, cùng với việc
hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động điện lực, việc đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững trật tự an toàn xã hội,
bảo vệ an ninh năng lượng của quốc gia, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước về điện lực cũng là một
nhiệm vụ cấp thiết trong tình hình hiện nay.
Vấn đề xử phạtvi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực được quy
định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Pháp lệnh sửa đổi
bổ sung năm 2008 và được quy định chi tiết trong Nghị định số 68/2010/NĐ-

1


2


muốn góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và
nâng cao hiệu quả trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
điện lực.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xử lý vi phạm hành chính là vấn đề luôn có tính thời sự và
được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, khá nhiều công trình khoa học nghiên
cứu vấn đề này cả về lý luận cũng như thực tiễn. Xét ở góc độ nghiên cứu các
vấn đề mang tính lý luận chung, đã có các công trình khoa học: "Chế tài hành
chính - Lý luận và thực tiễn", Luận án phó tiến sĩ Luật học, của Vũ Thư, năm
1995; "Hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức xử phạt vi phạm hành
chính", Luận văn thạc sĩ Luật học, của Nguyễn Trọng Bình, năm 2000;
"Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính", Luận văn thạc sĩ Luật học, của
Nguyễn Thị Thuỷ, năm 2001… Nghiên cứu vấn đề xử lý vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực cụ thể, có một số công trình khoa học về xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai, môi trường, lao động… Ngoài ra còn có
nhiều bài viết như: "Bàn về xử lý vi phạm hành chính", PTS. Trần Minh
Hương, đăng trên Tạp chí Luật học, số 4/1999; "Một số vấn đề hoàn thiện
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính"; ThS. Lê Vương Long, đăng trên
Tạp chí Luật học, số 9/2003; "Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính", ThS. Bùi
Thị Đào, đăng trên Tạp chí Luật học, số 9/2003...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đều xem xét vấn đề xử
lý vi phạm hành chính dưới các góc độ, mức độ khác nhau. Các công trình
khoa học đó đã đem lại những giá trị khoa học quý giá ở góc độ lý luận cũng
như thực tiễn, là tài liệu tham khảo hữu ích về vấn đề xử lý vi phạm hành
chính. Tuy nhiên, cho đến nay nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực điện lực thì chưa có một công trình nào đề cập đến.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài


4


Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực điện lực. Tuy còn ở mức độ nghiên cứu khái quát
thực trạng pháp luật và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
điện lực nhưng luận văn đã có những đóng góp mới sau đây:
- Trên cơ sở phân tích, lý giải những ưu điểm và hạn chế của "khái
niệm vi phạm hành chính" trong các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính,
luận văn đã xây dựng khái niệm "vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực"
và khái niệm "xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực".
- Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực điện lực góp phần nâng cao lý luận nhận thức về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.
- Những kết luận rút ra từ thực trạng pháp luật và hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực còn là căn cứ thực tiễn xác đáng để
hình thành phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực điện lực nói riêng.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp tích cực cho việc
hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Luận văn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo học tập, nghiên cứu cho
sinh viên và các đồng nghiệp quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi phạm hành chính và xử lý vi

Như đã trình bày, vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật,
nghĩa là hành vi vi phạm hành chính luôn chứa đựng yếu tố lỗi. Tuy nhiên,
trên thực tế, rất nhiều trường hợp người vi phạm chỉ là do vô tình hoặc không
để ý đến quy định của pháp luật nên đã vi phạm, chỉ đến khi bị xử lý mới biết
là mình vi phạm hành chính. Điều này chứng tỏ người vi phạm còn chưa biết,
chưa xác định được thế nào là vi phạm hành chính.
Như vậy, vấn đề đặt ra là cần phải quy định rõ khái niệm vi phạm
hành chính trong văn bản quy pháp pháp luật. "Mặc dù có khái niệm vi phạm
hành chính mới chỉ là ranh giới khái quát về vi phạm hành chính song lại rất
cần phải có và có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động áp dụng quy phạm pháp
luật" [19, tr. 6].

7


Việc quy định rõ khái niệm vi phạm hành chính trong văn bản pháp
luật có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, khái niệm vi phạm hành chính là căn cứ để xác định
một hành vi vi phạm pháp luật nào đó là vi phạm hành chính, giúp phân biệt
vi phạm hành chính với tội phạm hình sự và các vi phạm pháp luật khác. Dựa
vào khái niệm vi phạm hành chính có thể xác định rõ tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính, tạo cơ sở để quy định, xử lý
cũng như đấu tranh một cách hiệu quả đối với các vi phạm hành chính.
Trên thực tế, dựa vào các dấu hiệu cơ bản nêu trong khái niệm, người
dân ít nhất cũng có thể tự đối chiếu để đánh giá hoặc điều chỉnh hành vi của
mình, hoặc có thể tự bảo vệ mình trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền
đưa ra quyết định không đúng đối với hành vi vi phạm của họ. Về phía các
chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, khi giải quyết các vụ việc
cụ thể, có thể dễ dàng chỉ rõ và giải thích cho đối tượng vi phạm biết hành vi
nào của họ là vi phạm hành chính và bị xử lý ra sao.

chính được quy định gián tiếp tại khoản 2 Điều 1 như sau: "Xử phạt vi phạm hành
chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý xâm
phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm pháp
lý hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [25, tr. 1].
Ngoài ra, một số dấu hiệu về mặt chủ quan, chủ thể của vi phạm hành chính
được làm rõ thêm tại Điều 5 (Các đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính),
Điều 6 (Xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính), Điều 7 (Tình tiết
giảm nhẹ) và Điều 8 (Tình tiết tăng nặng) của Pháp lệnh. Tuy nhiên, khái
niệm vi phạm hành chính trong Pháp lệnh cũng mới chỉ được xác định một
cách chung chung mà chưa nêu được cụ thể về dấu hiệu và các yếu tố cấu
thành của vi phạm hành chính.
Nếu coi việc đề cập đến khái niệm vi phạm hành chính một cách gián
tiếp là một bước thụt lùi của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 so với
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989 thì lỗi này lại lặp lại ở Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2008 sau đây gọi chung là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002). Pháp lệnh xử

9


lý vi phạm hành chính 2002 vẫn đưa ra khái niệm vi phạm hành chính một
cách một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt vi phạm hành chính như
sau: "Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ
chức (sau đây được gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý,
vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội
phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính" [26, tr. 1].
So với Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 1989 và Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính 1995, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 đã nêu
được tính trái pháp luật của hành vi vi phạm là "…xâm phạm các quy định
của pháp luật về quản lý nhà nước". Tương tự như Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 1995, trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, một số

hiện nay là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính chỉ đưa ra khái niệm chung
chung còn hành vi vi phạm hành chính cụ thể cũng như hình thức xử phạt đối
với từng hành vi vi phạm lại được phân cấp cho Chính phủ quy định. Để đảm
bảo tính thống nhất của pháp chế, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, bên cạnh việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về vi
phạm hành chính, cũng cần phải quy định rõ ràng về các hành vi vi phạm
hành chính cụ thể kèm theo hình thức xử lý hành chính đối với hành vi đó
trong một văn bản có hiệu lực pháp lý cao đó là Luật hoặc Bộ luật.
Trên cơ sở kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những hạn chế
của khái niệm vi phạm hành chính trong các Pháp lệnh, có thể quan niệm về
vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật,
xâm phạm tới trật tự nhà nước, xã hội, sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật hành chính bảo vệ,
do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện với lỗi vô ý hoặc cố ý và theo quy định của
pháp luật phải bị áp dụng chế tài hành chính.
1.1.1.2. Đặc điểm và cấu thành của vi phạm hành chính
Khái niệm vi phạm hành chính là cơ sở đầu tiên cho việc xác định một
vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính, đồng thời để phân biệt giữa vi phạm
hành chính với các loại vi phạm pháp luật khác. Tuy nhiên, để xác định đúng
hành vi vi phạm hành chính cụ thể, đánh giá đúng được tính chất vi phạm và

11


mức độ xâm hại của hành vi, bên cạnh việc nghiên cứu, đưa ra khái niệm vi
phạm hành chính thì việc xem xét các đặc điểm và cấu thành của vi phạm
hành chính là vô cùng quan trọng.
Dưới đây, các đặc điểm và yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính
sẽ được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau:
* Mặt khách quan của vi phạm hành chính:

phạm hành chính không gây nguy hiểm cho xã hội là hoàn toàn sai lầm. Bởi
vì, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm không chỉ xem xét trên cơ
sở thiệt hại thực tế, mà chính là sự phá vỡ, đi ngược với trật quản lý đã được
quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính. "Một vi phạm hành chính
có thể không nguy hiểm hoặc không gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
Nhưng nhiều vi phạm hành chính thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, trong khi
vi phạm hành chính là loại vi phạm xảy ra rất phổ biến" [12, tr. 530].
Hành vi trái pháp luật và có lỗi phải được một văn bản pháp luật quy
định là vi phạm hành chính và phải chịu chế tài hành chính. Đây được coi là
dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính.
"Chế tài được hiểu là biện pháp cưỡng chế nhà nước có thể áp dụng
nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật" [21, tr. 196].
"Chế tài hành chính là biện pháp xử lý của Nhà nước đối với cá nhân,
tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự" [29, tr. 131].
Vì vậy, cần nhận thức rõ hành vi trái pháp luật hành chính có thể diễn
ra trong hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng không có nghĩa đó
đều vi phạm hành chính. Chỉ những hành vi nào pháp luật quy định bị áp
dụng biện pháp chế tài hành chính thì mới là vi phạm hành chính. Điều này
đòi hỏi các nhà lập quy bên cạnh việc dự liệu các hành vi trái pháp luật phải
dự liệu luôn hình thức xử phạt hành chính. Sẽ là vô lý nếu một hành vi trái
pháp luật hành chính mà lại không có hình thức xử phạt hành chính nào. Sẽ
không có hành vi vi phạm hành chính nếu chưa có văn bản nào quy định xử

13


phạt đối với hành vi đó cho dù hành vi đó xâm hại quan hệ xã hội được pháp
luật bảo vệ và có lỗi. Song sẽ là rất bất hợp lý nếu tồn tại một hành vi vi phạm
hành chính bị xử phạt mà không trái pháp luật và không có lỗi. Do vậy, khi

vi phạm hành chính dựa trên những căn cứ sau: (i) hành vi vi phạm xảy ra
trước hậu quả xâm hại các quan hệ mặt thời gian; (ii) hành vi vi phạm phải
chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội
và (iii) hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế
làm phát sinh hậu quả của hành vi vi phạm.
Ngoài ra, trong những trường hợp cần thiết, mặt khách quan của vi
phạm hành chính cũng cần phải xem xét đến các yếu tố: thời gian và địa điểm,
công cụ và phương tiện được sử dụng để vi phạm. Những dấu hiệu này tuy
không phổ biến và có ý nghĩa quy định đối với các dấu hiệu khác của tất cả
các loại vi phạm hành chính nhưng chúng sẽ trở thành dấu hiệu bắt buộc và
có ý nghĩa quyết định đối với một số vi phạm hành chính nhất định.
* Khách thể của vi phạm hành chính:
Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được các quy
phạm pháp luật hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ của vi phạm hành
chính, trật tự quản lý nhà nước cũng chính là các quan hệ xã hội được luật
hành chính bảo vệ. Có quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính
là trật tự quản lý nhà nước. Nhưng quan niệm như vậy chưa chính xác, ngoài
trật tự quản lý nhà nước thì khách thể của vi phạm hành chính còn có thể là
các quan hệ xã hội khác. Các loại quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm
hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu nhà nước, tổ chức,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lí. Cho nên khách thể
của vi phạm hành chính phải được hiểu là các quan hệ xã hội được quy phạm
pháp luật hành chính bảo vệ.
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành ba loại:
- Khách thể chung là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản
lý nhà nước hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung.

15




trong trường hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ
phải nộp phạt thay. Quy định cha mẹ (người chưa thành niên vi phạm) phải
nộp thay không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm. Mà ở đây chúng
ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho những người chưa
thành niên. Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người có thẩm quyền bị
xử lý vi phạm hành chính đối với những vi phạm hành chính liên quan đến
việc thi hành công vụ, thực hiện quyền hạn, nhiệm được giao. Nếu không có
yếu tố này thì họ chỉ bị xử lý như mọi công dân bình thường. Quân nhân tại
ngũ, quân nhân dự bị trong thời kì tập trung huấn luyện và những người thuộc
lực lượng công an nhân dân, nếu thực hiện vi phạm hành chính thì bị xử lý
như đối với công dân khác.
- Tổ chức:
Trong vi phạm hành chính không phải lúc nào người vi phạm cũng là
cá nhân. Ở trường hợp người vi phạm là người nhân danh tổ chức thực hiện vi
phạm thì đương nhiên chủ thể vi phạm hành chính ở đây phải là tổ chức. Pháp
luật hành chính coi tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính gồm: cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, khi xử
phạt hành chính đối với tổ chức, nếu là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã
hội sẽ dẫn đến tình trạng tiền nhà nước chạy từ túi này sang túi khác. Do đó
cần phải truy cứu người có lỗi trực tiếp vi phạm hành chính để tổ chức bị xử
phạt, hoặc cần phải suy xét người có lỗi để truy cứu trách nhiệm kỷ luật. Điều
này đã được quy định cụ thể tại điểm b khoản 1 Điều 6 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 2002: "Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi vi phạm hành
do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác
định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp
lý của người đó theo quy định của pháp luật" [26, tr.2].
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm
vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, thì bị xử



18


Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là thái độ tâm lý của một người khi
thực hiện hành vi trái pháp luật, tuy nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc
nhưng lại có ý thức xem thường, mặc dù họ hoàn toàn có khả năng xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của một người khi thực hiện
hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thận trọng mà đã không nhận thức được
những nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, mặc dù họ có khả năng và điều kiện xử sự theo
đúng nghĩa vụ đó.
Lỗi vô ý lại có hai hình thức thể hiện. Vô ý do cẩu thả là lỗi của người
có hành vi vi phạm không biết và không nhận thức được rằng hành vi của
mình là trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhận thức được điều đó. Vô ý
do quá tự tin là lỗi trong trường hợp người có hành vi vi phạm nhận thức
được điều này nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được dễ dàng hậu quả của
hành vi trái pháp luật đó của mình.
Ngoài ra, mục đích, động cơ cũng là những dấu hiệu về mặt chủ quan
của vi phạm hành chính. Tuy nhiên, những dấu hiệu này không có ý nghĩa
quyết định như dấu hiệu lỗi, không được coi là dấu hiệu cơ bản, bắt buộc
trong mọi cấu thành vi phạm hành chính nhưng trong một số trường hợp, nếu
thiếu nó thì không thể xác định được là có vi phạm hành chính hay không.
1.1.2. Phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm
Trong khoa học pháp lý, vi phạm pháp luật được phân chia thành bốn
loại: tội phạm, vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự và vi phạm kỷ
luật. Trong bốn loại vi phạm pháp luật này, xét về phạm vi xâm hại các quan
hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, tội phạm và vi phạm hành chính có nhiều
điểm tương đối gần nhau. Vì vậy việc để phân biệt những điểm khác nhau
giữa chúng có nghĩa rất lớn trong áp dụng quy định pháp luật, tránh tình

chất trái pháp luật hành chính hoặc đất đai, môi trường, kinh tế, tài chính…
đều là vi phạm hành chính. Nhiều tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành
chính, hoặc đất đai, môi trường, kinh tế, tài chính… như các tội chống người
thi hành công vụ, vi phạm quy tắc trật tự an toàn giao thông… Nghĩa là vi

20


phạm hành chính và tội phạm nhiều khi có cùng chung khách thể. Trong trường
hợp cùng xâm hại một quan hệ xã hội thì sự phân biệt có thể xem xét ở dấu
hiệu: hành vi đó đã bị xử phạt hành chính chưa, nếu đã bị xử phạt hành chính
mà còn vi phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và tính nguy hiểm cho
xã hội của hành vi vi phạm (đã nêu ở phần phân biệt về mặt khách quan).
- Về chủ thể của hành vi vi phạm:
Pháp luật nước ta quy định, chủ thể của vi phạm hành chính có thể là
cá nhân hoặc tổ chức. Tuy nhiên, trong hình sự thì chủ thể thực hiện tội phạm
chỉ có thể là cá nhân. Trường hợp đông người cùng thực hiện một tộ phạm thì
từng người sẽ bị truy cứu về tội phạm đó với tình tiết tăng nặng là thực hiện
tội phạm có tổ chức.
- Về mặt chủ quan:
Dấu hiệu cơ bản nhất trong mặt chủ quan để phân biệt vi phạm hành
chính và tội phạm là dấu hiệu lỗi. Lỗi thể hiện tính chống đối xã hội, chống
đối pháp luật trong ý thức của người vi phạm. Do vậy, mức độ chống đối
trong lỗi vi phạm hành chính cũng không cao bằng hình sự. Đa số lỗi trong vi
phạm hành chính do thiếu thận trọng, vô tình hay cùng lắm là coi nhẹ những
nghĩa vụ pháp lý.
Ngoài ra, trong hình sự, lỗi gắn liền với mục đích, động cơ của người
vi phạm còn trong hành chính chỉ cần người vi phạm biết hoặc có thể biết tính
chất sai trái của mình là đủ để xác định có vi phạm hành chính.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

Trong các hình thức xử lý vi phạm hành chính, hình thức xử phạt vi
phạm hành chính là hoạt động quan trọng nhất, có ý nghĩa to lớn trong công
tác đấu tranh với vi phạm hành chính và có tác dụng trực tiếp trong việc củng
cố, tăng cường trật tự quản lý nhà nước. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng xử
lý vi phạm hành chính là xử phạt vi phạm hành chính và ngược lại.
Nhưng quan niệm như vậy là phiến diện, chưa đầy đủ, bởi lẽ
việc xử phạt vi phạm hành chính trên thực tế không phải là biện

22


pháp duy nhất nhằm xác lập trật tự quản lý bị phá vỡ. Nếu đồng
nhất việc xử phạt hành chính với xử lý vi phạm hành chính thì dẫn
đến việc coi nhẹ các biện pháp cưỡng chế hành chính khác mà chỉ
chú trọng biện pháp xử phạt hành chính của chủ thể có thẩm quyền
khi áp dụng pháp luật hành chính, dẫn đến hậu quả không đảm bảo
mục đích xử phạt hành chính [19, tr. 18].
Vì thế, xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp quan trọng nhất
nhưng không phải là biện pháp duy nhất để xử lý vi phạm hành chính.
Từ những phân tích trên đây có thể quan niệm: Xử lý vi phạm hành
chính là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước nhằm áp dụng
các chế tài hành chính, do các chủ thể được Nhà nước giao quyền thực hiện
đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính theo trình tự thủ tục
do pháp luật quy định.
1.2.1.2. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Từ những phân tích về khái niệm xử lý vi phạm hành chính, có thể thấy
rằng xử phạt hành chính là một trong những biện pháp chế tài hành chính do cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính trong quá trình xử lý vi phạm hành chính. Do đó, xử phạt hành
chính cũng luôn mang tính cưỡng chế nhà nước và tính quyền lực nhà nước.

phạm hành chính có thể được hiểu là các giai đoạn, các bước cũng như thứ tự
thực hiện các hành động cần phải tiến hành trong các giai đoạn, các bước đó.
Các nội dung này do nhà nước quy định và các chủ thể có thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính có nghĩa vụ phải tuân theo khi tiến hành hoạt động xử lý
vi phạm hành chính cụ thể. Không một chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính nào được phép tự đặt ra cho mình một trình tự, thủ tục mới, khác
với trình tự, thủ tục Nhà nước đã quy định.
Như vậy, có thể quan niệm về xử phạt hành chính như sau: Xử phạt
hành chính là hoạt động cưỡng chế nhà nước nhằm áp dụng các biện pháp xử
phạt đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, do cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành, thông qua việc áp dụng các

24


hình thức xử phạt hành chính phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của
hành vi vi phạm gây thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần cho cá nhân, tổ
chức vi phạm.
1.2.2. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Cơ sở pháp lý để xác định phạm vi thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính được quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
2002 như sau: "Việc xử lý vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền
tiến hành theo đúng quy định của pháp luật" [26, tr. 1]. Điều này có nghĩa là
việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, các biện pháp hành chính
khác, các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử lý vi phạm hành chính phải do
cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Quyền hạn của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong xử lý vi
phạm hành chính được pháp luật quy định cụ thể đối với từng biện pháp
cưỡng chế hành chính trên cơ sở cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cân
nhắc kỹ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi theo thẩm quyền. Như vậy,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status