VẬN DỤNG QUAN điểm của TRIẾT học mác – LÊNIN về CON NGƯỜI vào vấn đề xây DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆPCÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa HIỆN NAY - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

BÀI TIỂU LUẬN:

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
VỀ CON NGƯỜI VÀO VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON
NGƯỜI VIỆT NAM TRONG SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY

THÀNH PHỐ HUẾ – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ

BÀI TIỂU LUẬN:
“QUAN ĐIỂM CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VÙNG
KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM Ở VIỆT NAM”

Họ và tên : Nguyễn Thị Huyền Trang.
Lớp
: 16D QLKT UD Quảng Trị.

THÀNH PHỐ HUẾ – 2015


Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu ra trong bài là trung thực, đảm bảo tính khách quan,
khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.


lợi ích trăm năm trồng người”. Nhờ đó, đã giúp Đảng ta huy động được tối đa
mọi nguồn lực con người cho sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của dân
tộc.
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đây là một quá trình mang tính tất yếu khách quan và là một đòi hỏi cấp bách
của dân tộc. Lấy quan điểm Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về phát triển con người, về vai trò sáng tạo lịch sử của con người và vai trò
của người và vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế - xã hội
làm cơ sở lý luận, Đảng ta khẳng định: “Trong công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay, con người luôn được coi là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài
nguyên của mọi tài nguyên, là nhân tố bảo đảm quan trọng nhất để đưa đất
nước ta thành một nước Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa trong tương lai”. Do
vậy, Đảng ta chủ trương : “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố khẳng định thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Nhiệm vụ trọng tâm của chúng ta
trong thời kỳ này là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật cho xã hội mới.
Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng đó, nhất thiết phải tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện mục tiêu chuyển nền kinh tế nông
nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn
cầu hóa hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực và
trình độ mà con người Việt Nam cần phải có. Con người Việt Nam với những


6

phẩm chất và năng lực như hiện tại đã không còn đáp ứng thỏa mãn những
yêu cầu của nhiệm vụ mới đầy khó khăn, gian nan và thử thách lâu dài của
cách mạng, đó là xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia “Dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Chính vì vậy, việc tiếp tục tìm

pháp biện chứng duy vật, đề tài còn được giải quyết thông qua một số phương
pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát
hóa, đối chiếu và so sánh, lịch sử và logic, v.v..


7

4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của tiểu luận

Về lý luận, tiểu luận góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điệm của Đảng ta về con
người và vai trò của con người đối với lịch sử.
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của tiểu luận có thể sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho sinh viên ngành chính trị và những ai quan tâm đến vấn đề
con người và vai trò của con người.
5. Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của tiểu luận gồm 3 chương:
Chương 1: Quan niệm của Triết học Mác – Lênin về con người – cơ sở
lý luận của việc xây dựng con người Việt nam trong sự nghiệp Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Chương 2: Thực trạng vận dụng quan điểm của Triết học Mác – Lênin về
con người trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng con người Việt nam
trong sự nghiệp CNH, HĐH


8


hội loài người không thể tồn tại.
Thứ hai, sự tồn tại của con người còn gắn liền trực tiếp với sự tồn tại của
xã hội, vì vậy, nói đến con người là con người xã hội và nói đến xã hội là xã
hội con người. Nhưng con người không thể nào tự lựa chọn cho mình cái xã
hội và các quan hệ xã hội để sinh ra, mà trong cuộc sống con người buộc phải
tiếp nhận cái xã hội và các quan hệ xã hội đã có và đang có, trong đó “xã hội
sản sinh ra con người với tư cách là con người như thế nào thì con người cũng
sản sinh ra xã hội như thế” [32; 139]. Do vậy, trong cuộc sống con người còn
chịu sự tác động và chi phối bởi các quy luật xã hội như: quy luật quan hệ sản
xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật về


9

mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, quy luật
đấu tranh giai cấp v.v. Đồng thời, do sự tác động của các quy luật xã hội, mà
con người có các nhu cầu xã hội như: nhu cầu học tập, giao tiếp v.v. Ngay các
nhu cầu tự nhiên sinh học trong con người, do sự tác động của các quy luật xã
hội, thì các nhu cầu ấy cũng “mang tính xã hội”, hay nói cách khác là các nhu
cầu ấy bị xã hội hóa.
Thứ ba, sự tồn tại của con người còn gắn liền với sự tồn tại của ý thức.
Con người nhờ cấu trúc sinh học – xã hội, cùng với hệ thống thần kinh cao
cấp, thông qua các giác quan và các công cụ nhận thức do con người tạo ra để
con người nhận thức, phản ánh thế giới khách quan tạo thành ý thức. Ý thức
là “hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan”- là thế giới khách quan ở bên
ngoài được “di chuyển” vào trong đầu óc và được cải biến đi trong đó, không
còn nguyên xi là thế giới khách quan. Vì sự tồn tại của con người gắn liền với
sự tồn tại của ý thức, nên điều này liên quan đến sự sống và cái chết. Khi con
người sống thì ý thức tồn tại, khi con người chết đi thì về cơ bản ý thức mất
đi, nhưng vẫn còn một bộ phận ý thức được “vật chất hóa” dưới dạng hình

con người không thể thực hiện được nếu không tính đến tính xã hội của bản
chất con người. Bởi vì con người là con người xã hội, hoạt động của con
người là hoạt động xã hội. Tính quy định loài của con người, sức mạnh loài
của nó làm cho nó trở thành một thực thể xã hội mang lại tính xã hội cho hoạt
động của nó. Vì vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, xem xét
bản chất con người cần phải xem xét trong mối quan hệ giữa con người với
con người, trong các mối quan hệ hiện thực của con người. Trong các mối
quan hệ ấy, các ông kết luận: “xã hội sản xuất ra con người như thế nào thì
con người sản xuất ra xã hội như thế”. Con người vừa là sản phẩm của tự
nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, và do vậy, trong con người luôn có hai mặt
không thể tách rời – mặt tự nhiên và mặt xã hội – con người là một thực thể
sinh học – xã hội.
Như vậy, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, con người là sản
phẩm của sự phát triển cao nhất của tự nhiên, là bộ phận của tự nhiên, tồn tại
gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người.
Con người bằng hoạt động thực tiễn của con mình (nhất là hoạt động lao động
sản xuất) tác động vào tự nhiên cải biến tự nhiên để phục vụ các nhu cầu của
mình, cũng qua đó con người cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân mình.
Qua đó con người biến các thuộc tính tự nhiên của mình thành bản chất xã
hội. “Chỉ có trong xã hội, con người mới thể hiện bản chất tự nhiên và xã hội
của mình. Tự nhiên và xã hội thống nhất với nhau trong bản chất con người.
Con người là một tổng thể tồn tại với hai mặt tự nhiên và xã hội” [52; 514]
1.2. Quan điểm về vai trò con người trong lịch sử và vấn đề giải
phóng con người của Triết học Mác – Lênin
1.2.1. Vai trò con người trong lịch sử

Theo quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, con người
vừa là sản phẩm của lịch sử (tức sản phẩm của tự nhiên và xã hội), đồng thời
là chủ thể sáng tạo ra chính quá trình lịch sử ấy.
Trước hết, “con người là sản phẩm của lịch sử” – sản phẩm của tự nhiên

hội. Tiến trình phát triển lịch sử của nhân loại suy cho cùng, nó được quy định
bởi tiến tiến trình phát triển của sản xuất, quy định bởi sự phát triển của lực
lượng sản xuất của xã hội, bao gồm con người và những tư liệu sản xuất với
những công cụ lao động do con người sáng tạo ra để con người tác động vào
tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của tự nhiên, nhằm tạo ra các sản phẩm
phục vụ cho con người. Mỗi thế hệ con người bao giờ cũng tiếp nhận được
những lực lượng sản xuất do thế hệ trước tạo ra và sử dụng chúng làm
phương tiện cho hoạt động sản xuất mới. Nhờ sự chuyển giao lực lượng sản
xuất ấy mà con người đã “hình thành nên mối liên hệ trong lịch sử loài người,
hình thành nên lịch sử loài người” [52; 515-516]. Khi khẳng định, con người
là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, chúng ta cần hiểu rằng, “sáng tạo” không có
nghĩa là sự tùy tiện, sáng tạo phải trên cơ sở hiểu biết quy luật, vận dụng quy
luật và hành động tuân theo quy luật khách quan. Mặt khác, không phải cứ là
“con người” thì sẽ là “chủ thể của lịch sử”, để trở thành chủ thể của lịch sử,
đòi hỏi con người phải có sức khỏe, phải có những phẩm chất nhất định
(những phẩm chất này tùy thuộc vào thời đại, vào lĩnh vực và ngành nghề
hoạt động) và những phẩm chất này phải được bộc lộ trong hoạt động thực
tiễn.
1.2.2. Vấn đề giải phóng con người theo quan điểm của triết học Mác
– Lênin


12

Có thể nói, cái cốt lõi trong học thuyết Mác về con người là tư tưởng vì
con người, giải phóng con người, giải phóng nhân loại. Triết học Mác - Lênin
trên cơ sở quan điểm duy vật về con người, coi bản chất con người là “tổng
hòa các quan hệ xã hội” và đặt con người trong mối quan hệ con người – tự
nhiên – xã hội để xem xét con người... đã lấy tư tưởng “vì con người và giải
phóng nhân loại” và tư tưởng “xã hội không thể nào giải phóng chính mình

sản chủ nghĩa văn minh.
Thứ ba, sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại là một quá
trình lâu dài. Nó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sản


13

xuất, vào các điều kiện vật chất tất yếu cho sự nghiệp giải phóng ấy. Chỉ khi
nào xã hội loài người đã đạt đến một trình độ phát triển cao của lực lượng sản
xuất với năng suất lao động xã hội cực cao “của cải tuôn ra dào dạt như nước
chảy”, cho phép người ta “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, khi đó
“sự phát triển độc đáo và tự do của mỗi các nhân” mới “không còn là lời nói
suông”. Đây chính là cơ sở nền tảng vững chắc cho việc phát triển các cá
nhân con người. Ngoài ra, còn phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con
người với con người, trong một cộng đồng mà “sự phát triển tự do của mỗi
người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người”. Khi đó các cá nhân
mới có điều kiện, phương tiện cần thiết để “phát triển toàn diện những năng
khiếu của mình”.
CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC
MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CNH,
HĐH Ở NƯỚC TA
2.1. Mối quan hệ giữa CNH, HĐH với vấn đề xây dựng con người
Việt Nam
2.1.1. Đặc điểm, nội dung của quá trình CNH, HĐH ở nước ta

2.1.1.1. Đặc điểm của quá trình CNH, HĐH ở nước ta
Ở nước ta hiện nay, CNH, HĐH không chỉ là quá trình mang tính tất yếu,
khách quan mà còn là một đòi hỏi cấp bách. Đảng ta xác định, về thực chất

Dương và Đông nam Á phát triển năng động nhưng cũng tiềm ẩn những nhân
tố mất ổn định” [20; 67]. Tình hình đó tạo thời cơ thuận lợi, đồng thời cũng
đặt ra những thách thức gay gắt với quá trình CNH, HĐH ở nước ta, cũng như
của các nước đang và kém phát triển.
Thứ ba, “Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường” [20; 72] với “Mục tiêu tổng quát khi
kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được căn bản nền tảng kinh tế
của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa
phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng
phồn vinh hạnh phúc” [20; 71]. CNH, HĐH với đặc điểm như vậy, nhằm
trang bị cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các ngành then chốt, mũi nhọn để làm
tăng tỷ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân,
với những công cụ, thiết bị tiên tiến, hiện đại và ứng dụng những kỹ thuật
công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Thứ tư, chúng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, trong bối cảnh cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng
cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nên
kinh tế và đời sống xã hội, những năm gần đây, những thành tựu khoa học –
công nghệ trên thế giới ngày càng tăng lên cả về số lượng và chất lượng, nhất
là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ chế tạo vật liệu mới
v.v. Điều đó tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sản xuất và các quá trình xã
hội; thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm tăng nhanh tính
chất xã hội hóa nền kinh tế và đời sống xã hội.
Thứ năm, chúng ta “đẩy mạnh CNH, HĐH” trong bối cảnh nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới như Singapo, Đài loan, Hàn quốc ... chỉ trong
một thời gian ngắn đã từ một nước kém phát triển trở thành một nước phát
triển. Đây là những tấm gương để chúng ta có thể học tập kinh nghiệm khi
tiến hành CNH, HĐH, mở ra con đường đi tắt, rút ngắn khoảng cách giữa các



phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát
triển các vùng có nhiều khó khăn. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng
thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” [20; 75]. Với nội dung phát
triển kinh tế như vậy, CNH, HĐH trên lĩnh vực kinh tế được thể hiện ở những
mặt sau:
+ Kịp thời nắm bắt và ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ hiện

đại vào các quá trình kinh tế; đồng thời tiến hành đổi mới công nghệ truyền
thống theo hướng hiện đại
+ Sử dụng những tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại để một mặt chuyển

dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ, trên cơ sở những lợi thế có


16

sẵn của mỗi vùng, ngành; mặt khác, tham gia vào quá trình hợp tác trong
nước và quốc tế; đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội nhằm tạo ra
nhiều ngành nghề mới đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động.
Thứ hai, trong lĩnh vực chính trị - xã hội
CNH, HĐH trong lĩnh vực chính trị - xã hội là quá trình ứng dụng những
thành tựu khoa học – công nghệ, những tư tưởng, lý luận về quản lý xã hội
tiên tiến để xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. Một nhà nước hiện đại, tiên tiến, đủ sức quản
lý đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Do vậy, cần phải:
+ Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam trên cơ sở xã hội công dân, nghĩa

là nhà nước phải tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; còn mỗi thành viên
của xã hội đều phải có ý thức pháp luật, phải sống, lao động, học tập, sinh
hoạt theo hiến pháp và pháp luật


17

+ Tạo điều kiện để kích thích óc tự do, sáng tạo của mỗi cá nhân, của tập thể và

của cả cộng đồng dân tộc.
+ Phát triển mạnh sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, hệ thống thông tin đại chúng;

bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống cách mạng; mở
rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa nhằm tiếp thu những
thành tựu văn hóa nhân loại phục vụ cho việc phát triển văn hóa. Đồng thời
kiên quyết đấu tranh chống các loại phản văn hóa, chống khuynh hướng
thương mại hóa văn hóa và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong văn hóa.
Thứ tư, trong lĩnh vực khoa học – công nghệ
Phát triển khoa học – công nghệ là động lực nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế. Khoa học và công
nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại,
bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế. Phát triển khoa học – công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ của thế giới. Do vậy, CNH,
HĐH trong lĩnh vực khoa học – công nghệ cần phải:
+ Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, chính sách phát triển

khoa học và công nghệ, gắn các mục tiêu, nhiệm vụ của khoa học – công
nghệ với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
+ Hướng hoạt động khoa học – công nghệ vào phục vụ đổi mới mô hình tăng

trưởng và cơ cấu lai nền kinh tế; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để
làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên
tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức

tổ chức, mọi cấp, mọi ngành trong phạm vi cả nước.
+ Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa,

hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là
khâu then chốt.
+ Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức

lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp
+ Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục
+ Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát

triển kinh tế tri thức.
+ Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và

trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề. Đặc biệt coi trọng phát triển
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh
nghiệp giỏi, lao động ngành nghề và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn
+ Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở

đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội” [20;
130-131].
2.1.2. Vai trò quyết định của việc phát triển con người, phát triển nguồn
nhân lực đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 -2020 – “Chiến lược
tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển nhanh, bền vững” và trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
(Bổ sung, phát triển năm 2011). Đảng ta xác đinh, việc phát triển con người,
phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng và quyết định thắng lợi đối

Như vậy, vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH,
HĐH ở nước ta hiện nay, chính là việc nhận thức được tầm quan trọng của
nhân tố con người, tầm quan trọng của việc tạo ra nguồn nhân lực có chất
lượng bao gồm “những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức
tinh thông” [39; 474] và “nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất
trong thực tiễn” [39; 475], đáp ứng được nhu cầu khai thác và sử dụng các
nguồn lực khác phục vụ cho quá trình CNH, HĐH đất nước
2.2. Sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Triết học Mác – Lênin về

con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong quan điểm của Đảng ta
về xây dựng phát triển con người
2.2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người trong sự nghiệp cách
mạng do ĐCSVN lãnh đạo
Mặc dù không có một công trình lý luận riêng nào về con người, nhưng
trong tất cả các tác phẩm, các bài viết và cả cuộc đời Hồ Chí Minh là tất cả vì
con người, do con người, thương yêu tôn trọng, tin tưởng con người, bồi
dưỡng và phát triển mọi tài năng cho con người. “Suốt đời cống hiến hết mình
cho sự nghiệp đấu tranh vì con người, vì cuộc sống đích thực của con người,


20

đấu tranh không mệt mỏi để xóa bỏ mọi áp bức bóc lột, mọi bất công, phi lý,
giành độc lập, tự do và quyền phát triển bình đẳng cho dân tộc, cho nhân loại,
đem lại cho con người, cho tất cả mọi người trong cộng đồng nhân loại một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc” [52; 528]. Đây chính là chủ nghĩa nhân văn
hiện thực, cao cả của Hồ Chí Minh. Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người được thể hiện thông qua các tư tưởng:
Thứ nhất, tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải

cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ Xã


21

hội chủ nghĩa”, và “mọi công việc đều liên quan đến công việc và liên quan
đến con người, hướng vào phục vụ con người, làm cho con người phát triển
toàn diện với mọi năng lực vốn có của nó, con người làm chủ, có tự do, có
cuộc sống ấm no và hạnh phúc”. Để phát triển con người, trước hết là vấn đề
giáo dục đào tạo con người. Vì vậy, Người viết: “Vì lợi ích mười năm thì phải
trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [46; 222]. “Trồng người”,
theo Người, trước hết là giáo dục, rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng tài năng cho
con người, xây dựng con người, giải phóng con người về mặt phẩm chất,
nhân cách cũng như về tài năng, trí tuệ, theo phương châm lý luận phải gắn
liền với thực tiễn. Tiêu chuẩn cơ bản, hàng đầu của con người toàn diện là con
người phải có đức và có tài, trong đó đức là gốc. Người nói, “có tài phải có
đức, có tài không có đức, tham ô, hủ hóa, có hại cho nước” [45; 184] “có tài
mà không có đức ví như một anh làm kinh tế, tài chính rất giỏi nhưng lại đi
đến thụt két thì chẳng những không làm được gì cho xã hội, mà còn có hại
cho xã hội nữa” [46; 172], ngược lại với người “có đức mà không có tài ví
như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho loài người” [46;
492]. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa “chính trị và chuyên
môn”, giữa “hồng và chuyên” cũng chính là mối quan hệ giữa Đức và Tài. Vì
thế, Người cho rằng “chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác, có chuyên
môn mà không có chính trị thì chỉ còn xác không hồn. Phải có chính trị trước
rồi có chuyên môn. Chính trị là đức, chuyên môn là tài, có tài mà không có
đức là hỏng” [46; 492].
2.2.2. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng phát triển con người

Trong quá trình CNH, HĐH, một mặt, Đảng ta luôn trung thành với các

hóa, xã hội và môi trường trên đây, Đảng ta đã đưa ra 5 quan điểm phát triển
và 3 khâu đột phá chiến lược như sau:
Thứ nhất, về quan điểm phát triển
-

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu
cầu xuyên suốt trong chiến lược

-

Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh

-

Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể,
nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển

-

Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày
càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị thường
xã hội chủ nghĩa

-

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng
Thứ hai, các đột phá chiến lược

công nghiệp hóa, hiện đại hóa xã hội mà Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân ta
từng bước thực hiện.
CHƯƠNG 3

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY
DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐÁP ỨNG SỰ NGHIỆP ĐẨY
MẠNH CNH, HĐH
3.1. Một số phương hướng chủ yếu về xây dựng con người
3.1.1. Gắn việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực với việc đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội

Giữa phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực với phát triển kinh
tế - xã hội có sự thống nhất biện chứng với nhau. Phát triển con người là trung
tâm của phát triển, là mục đích, là động lực của phát triển. Phát triển con
người là sự gia tăng các giá trị cho con người cả về tinh thần, đạo đức, tâm
hồn, trí tuệ, kỹ năng…lẫn thể chất. Phát triển nguồn lực con người nhằm làm
gia tăng các giá trị ấy cho con người, là làm cho con người trở thành những
người lao động có năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được những yêu
cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội, hay nói cách khác, là để
vừa “làm tăng thêm nền sản xuất xã hội” vừa “sản xuất ra những con người
phát triển toàn diện”. Hai quá trình này thống nhất chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau
cùng phát triển.
Đối với nước ta hiện nay, để phát triển con người, phát triển nguồn nhân
lực có chất lượng, đòi hỏi chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội để nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho nhân dân lao
động, có như vậy mới kích thích được tính tích cực sáng tạo của người lao
động. Mặt khác, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp chặt
chẽ với việc giải quyết tốt công bằng, mở rộng dân chủ để nhằm phát huy tối
đa nhân tố con người.



khoa học công nghệ, để cho “khoa học công nghệ thực sự là động lực then
chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững”.
3.1.4. Xây dựng chiến lược phát triển con người để trên cơ sở đó phát triển
nguồn nhân lực có chất lượng cho CNH, HĐH

Đảng ta xác định, “phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố
quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại
nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, là lợi thế cạnh tranh quan trọng
nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [20; 130].
Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ này, chúng ta cần phải xây dựng được
chiến lược con người để trên sơ sở đó phát triển nguồn nhân lực có chất lượng
cao cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chiến lược phát triển con
người đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thường xuyên. Chúng ta đã thành


25

lập Viện nghiên cứu về con người, đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc
gia và quốc tế về con người. Xây dựng chiến lược phát triển con người và
việc tổ chức thực hiện chiến lược ấy là một vấn đề cấp thiết. Xây dựng một hệ
thống chính sách đồng bộ nhằm thực hiện chiến lược con người - đây là vấn
đề có ý nghĩa quyết định với việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho
sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
3.2. Một số giải pháp chủ yếu để phát triển nguồn lực có chất lượng
cho sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay
3.2.1. Phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho
CNH, HĐH trên cơ sở lấy phát triển giáo dục – đào tạo làm “quốc sách hàng
đầu”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status