Trường Đại học Thương Mại
i
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian thực tập tại PGD tiềm năng Yên Viên – Ngân hàng TMCP
Sài Gòn Thương tín chi nhánh Long Biên cùng với sự nỗ lực học hỏi, tìm tòi của
bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình về kiến thức kinh nghiệm cũng như động viên
tinh thần của các thầy cô giáo và các anh chị nhân viên ngân hàng trong quá
trình nghiên cứu đã giúp em hoàn thành bài khóa luận “Hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại Phòng giao dịch tiề năng Yên Viên – Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Thương tín chi nhánh Long Biên”.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trường
Đại học Thương mại đã tận tình chỉ dạy các kiến thức cơ bản và chuyên môn
trong suốt bốn năm học vừa qua, giúp em có những nền tảng kiến thức vững
chắc về kinh tế và các lĩnh vực khoa học khác có liên quan.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Khoa Tài
chính- Ngân hàng, Trường Đại học Thương mại, các thầy cô đã trang bị cho em
những kiến thức chuyên sâu về ngành học Tài chính – Ngân hàng.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô TS. Nguyễn Thanh
Phương bộ môn Ngân hàng – Chứng khóa, khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường
Đại học Thương mại, người hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp, đã giúp em tiếp
cận được thực tiễn, chỉ ra phương hướng nghiên cứu và đã tận tình hướn dẫn em
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám đốc Ngân hàng TMCP Sài
Gòn Thương tín chi nhánh Long Biên, Anh Chị Trưởng, Phó phòng PGD tiềm
năng Yên Viên và các Anh Chị nhân viên, chuyên viên làm việc tạo PGD tiềm
năng Yên Viên đã tạo cho em cơ hội được thực tập tại đơn vị, cũng như sự chỉ
bảo, dạy nghiệp vụ chuyên môn và tạo điều kiện cho em có thể tiếp xúc với thực
tế, vận dụng những kiến thức đã học vào công việc thực tiễn.
.......................................................................... Error: Reference source not found
Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay KHCN PGD tiềm
năng Yên Viên 2013 – 2014.............................Error: Reference source not found
Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn tại PGD tiềm năng Yên Viên giai đoạn 2013
– 2015............................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động cho vay tại PGD tiềm năng Yên Viên giai đoạn
2013 – 2015...................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.3. Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ cho vay KHCN tại PGD
tiềm năng Yên Viên giai đoạn 2013 – 2015.....Error: Reference source not found
Bảng 2.4. Tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN tại PGD tiềm năng Yên Viên giai
đoạn 2013 – 2015..............................................Error: Reference source not found
Bảng 2.5. Cơ cấu cho vay KHCN của PGD tiềm năng Yên Viên theo các loại
hình giai đoạn 2013 – 2015.............................. Error: Reference source not found
Bảng 2.6. Tỷ lệ cho vay KHCN có TSĐB của PGD tiềm năng Yên Viên giai
đoạn 2013 – 2015..............................................Error: Reference source not found
Bảng 2.7. Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu PGD tiềm năng Yên Viên giai đoạn
2013 – 2015...................................................... Error: Reference source not found
Bảng 2.8. Hệ số thu nợ PGD tiềm năng Yên Viên giai đoạn 2013 – 2015. .Error:
Reference source not found
Bảng 2.9. Doanh thu từ hoạt động cho vay KHCN giai đoạn 2013 – 2015 PGD
tiềm năng Yên Viên..........................................Error: Reference source not found
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
iv
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với quá trình mở cửa và phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam,
khách hàng cá nhân ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát
triển của các NHTM. Do đó các sản phẩm dịch vụ ngân hàng dành cho các cá
nhân, nhất là các sản phẩm cho vay đang được các ngân hàng cung cấp đa dạng,
phong phú và trở thành công cụ cạnh tranh chủ yếu. Vì vậy, việc hoạch định và
phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại các NHTM hiện nay nhất
thiết phải được chú trọng và định hướng lâu dài.
Chính thức có mặt và là ngân hàng phía Nam đầu tiên Bắc tiến, Ngân
hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) ngay từ những ngày đầu tiên đã
định hướng phát triển và triển khai khá thành công hoạt động cho vay khách
hàng cá nhân với sự đa dạng các sản phẩm, phong cách chu đáo tận tình đến với
các khách hàng các tỉnh miền Bắc – điều đã từng đem đến thành công cho
Sacombank tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trên tinh thần và văn
hóa Sacombank, PGD tiềm năng Yên Viên cũng từng bước lớn mạnh, đạt được
các thành quả trong hoạt động kinh doanh, nâng cao thương hiệu và đóng góp
vào thành công chung của hệ thống Sacombank. Tuy vậy nếu so sánh với quy
mô tổng vốn huy động được của phòng hay so sánh với tổng dư nợ cho vay
khách hàng cá nhân của các phòng tiềm năng tương tự, thì dư nợ cho vay khách
hàng cá nhân của PDG tiềm năng Yên Viên thực sự rất khiêm tốn, chưa tương
xứng với vị thế ngân hàng đầu tiên tại địa bàn, chưa tương xứng với quy mô huy
động của phòng và hơn nữa là chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của thị
trường địa phương. Trước thực tế đó, việc đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân và
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động cho vay đối với khách
hàng cá nhân tại PGD tiềm năng Yên Viên là cần thiết.
Chính vì vậy, trên cơ sở vốn kiến thức đã tích lũy và nhận thức được tính
cấp thiết của vấn đề, đề tài “Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
Với nội dung thu thập dữ liệu, phương pháp thống kê mô tả được sử dụng
nhằm thu thập các số liệu sử sẽ sử dụng trong luận văn từ các bảng tổng kết tài
sản và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại PDG tiềm năng Yên Viên –
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín chi nhánh Long Biên trong các năm
2013, 2014 và 2015. Sau đó bằng phương pháp so sánh xem xét sự biến động
tăng giảm của các số liệu này để thấy được tình hình hoạt động cho vay KHCN,
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
3
Khóa luận tốt nghiệp
cũng như xu hướng phát triển tại đơn vị. Ngoài ra thông qua sách báo, các ấn
phẩm chuyên ngành, các dữ liệu thông tin lý luận được dùng để tham khảo, trích
dẫn.
Với nội dung xử lý số liệu thu thập, bài luận sẽ sử dụng phương pháp
phân tích thống kê và phương pháp so sánh biến động dãy số thời gian để tổng
hợp đánh giá, phân tích các thông tin thu thập được nhằm thấy được ý nghĩa,
nguyên nhân sự biến động của các số liệu. Từ đó sẽ là cơ sở quan trọng để tìm ra
các giải pháp nhằm nâng cao và khắc phục hoạt động cho vay KHCN tại PGD
Yên Viên.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung của bài khóa luận được chia thành
3 chương:
Chương 1. Lý thuyết chung về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại
Ngân hàng thương mại.
Chương 2. Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Phòng
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa. Quan trọng là vậy song không có
một định nghĩa chung nào cho khái niệm NHTM trên thế giới. Tùy theo mỗi
quốc gia mà NHTM hoạt động trong thể chế pháp luật khác nhau.
Ví dụ như theo luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “Ngân
hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề nào thường xuyên nhận của công
chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính
họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Hay như theo
Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là những cơ sở nhận
các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”…
Còn tại Việt Nam, theo luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Ngân hàng và NHTM được định
nghĩa như sau:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các
hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục
tiêu lợi nhuận.
Dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa, nhưng chung lại có
thể định nghĩa NHTM một cách ngắn gọn như sau: NHTM là một tổ chức tín
dụng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận được phép cung ứng thường xuyên cả 3
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
7
Khóa luận tốt nghiệp
rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường thay đổi làm ảnh hưởng đến mục tiêu lợi
nhuận, hay rủi ro hoạt động có thể gây ra những tổn thất do các yếu tố con
người, quy trình, hệ thống. Rủi ro nào đối với NHTM cũng sẽ kéo theo rủi ro đối
khách hàng và rủi ro đối với nền kinh tế. Vậy nên việc quản lý rủi ro sao cho
hợp lý là điều hết sức quan trọng đối với kinh doanh ngân hàng.
Thứ ba, NHTM phải tuân thủ nghiêm ngặt và chặt chẽ các quy định
của pháp luật.
NHTM kinh doanh hàng hóa đặc biệt là tiền, sức sống hay mạch máu của
cả một nền kinh tế. Việc điều tiết các hoạt động của NHTM phải được đảm bảo
đồng bộ và chặt chẽ để tránh những rủi ro, nguy hiểm có thể tác động xấu đến
nên kinh tế. Nghĩa là chỉ khi NHTM đảm bảo thỏa mãn đủ các điều kiện khắt
khe theo quy định của pháp luật như quy định về vốn, phương án kinh doanh…
mới được phép hoạt động trên thị trường.
Thứ tư, các ngân hàng thương mại có tính liên kết chặt chẽ và chịu
ảnh hưởng dây chuyền lẫn nhau.
Thực thế cho thấy, mối quan hệ chồng chéo trong hoạt động kinh doanh
và quyền sở hữu ngân hàng rất phức tạp. Với thị trường tài chính, hệ thống các
NHTM không chỉ là nhân tố cấu thành mà còn là tiền đề cơ bản tạo động lực
phát triển. Với nền kinh tế, sức đóng góp chủ đạo, mang tính chất lan tỏa mạnh
là lý do hình thành sự ràng luộc và sợi dây kết nối vững chắc trong hệ thống
NHTM. Vậy nên, hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, các biến
động và rủi ro trong hoạt động ngân hàng có tính lan tỏa dây chuyền. Hoạt động
nhận nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân trong một khoảng
thời gian để hình thành nên nguồn vốn hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thông qua các hình thức khác nhau, sau đó người gửi tiền sẽ được ngân hàng chi
trả gốc và phần lãi tính trên gốc – phần lợi tức hay chi phí đầu vào ngân hàng bỏ
ra để mua quyền sử dụng nguồn vốn đó. Có 2 hình thức nhận tiền gửi chủ yếu
là: tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Thực tế, nguồn vốn huy động từ chủ
sở hữu thường có tỷ lệ rất nhỏ so với hoạt động kinh doanh của NHTM, vì vậy
nguồn huy động từ tiền gửi đóng vai trò rất quan trọng và chiếm phần lớn trong
tổng vốn huy động được của ngân hàng.
Thứ ba, nguồn vay mượn: Trong một số trường hợp cần thiết, các NHTM
có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở Ngân hàng Nhà nước, các NHTM khác hoặc
trên thụ trường tiền tệ… Vốn đi vay thông thường chiếm không lớn trong kết
cấu nguồn vốn.
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
9
Khóa luận tốt nghiệp
Thứ tư, nguồn khác: Ngoài ra, NHTM có thể huy động vốn thông qua các
nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ…
1.1.3.2. Cấp tín dụng
Trong kinh doanh ngân hàng, bên cạnh nhận tiền gửi thì hoạt động cấp tín
dụng cũng được coi là hoạt động cơ bản và là hoạt động tạo ra thu nhập cho ngân
hàng. Hiện nay, cấp tín dụng có nhiều hình thức đa dạng và ngày càng phát triển.
Thứ nhất, cho vay: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ
chức tín dụng nói chung và NHTM nói riêng giao cho khách hàng sử dụng một
thuê, ngân hàng nhượng lại tài sản cho khách hàng hoặc khách hàng có thể mua
lại giá rẻ tài sản đó.
1.1.3.3. Dịch vụ thanh toán
Thông thường các NHTM khi nhận tiền gửi của các cá nhân, tổ chức có
nhu cầu, ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh của khách
hàng trong phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu như chi hộ, thu hộ, chuyển tiền…
Khi thực hiện các dịch vụ này, ngân hàng sẽ thu từ khách hàng phí dịch vụ.
Ngoài 3 hoạt động cơ bản trên, ngân hàng thường mại hiện đại còn có các
hoạt động dịch vụ khác: bảo quản tài sản, quản lý ngân quỹ, dịch vụ ủy thác và
tư vấn, dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý…
1.2. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại NHTM
1.2.1. Khách hàng cá nhân và đặc điểm của khách hàng cá nhân
1.2.1.1. Khách hàng cá nhân của NHTM
Trong Marketing, khách hàng được định nghĩa là một tập hợp những cá
nhân, nhóm người, doanh nghiệp…có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ và
mong muốn thỏa mãn nhu cầu đó của mình.
Còn theo bộ luật Dân sự (2005) của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam quy định thì cá nhân là người có năng lực pháp luật dân sự và năng
lực hành vi dân sự được Nhà nước thừa nhận và công nhận.
Như vậy dựa theo những định nghĩa trên, khách hàng cá nhân là những
người có nhu cầu sử dụng và mong muốn thỏa mãn nhu cầu đó từ một sản phẩm
dịch vụ trên thị trường, được Nhà nước công nhận có đủ quyền và nghĩa vụ, có
thể là người cư trú hoặc người không cư trú và trên 18 tuổi.
Tuy nhiên, trong ngân hàng thương mại để phân biệt rõ với khách hàng là
doanh nghiệp, thì khách hàng cá nhân còn là người đại diện hợp pháp cho chính
bản thân hoặc hộ gia đình trên hợp đồng ký kết với ngân hàng mà không phải là
đại diện cho một pháp nhân nào khác.
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
điều không may xảy ra. Việc này dẫn đến tâm lý lo sợ và dè chừng với tập
khách hàng này khi buộc phải đưa ra các quyết định lựa chọn mang tính ràng
buộc.
Thứ tư, khách hàng cá nhân là những đối tượng dễ thay đổi.
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
12
Khóa luận tốt nghiệp
Một khách hàng sử dụng nhiều sản phẩm của một NHTM thì khó có thể
khiến khách hàng đó thay đổi thói quen và không sử dụng sản phẩm của ngân
hàng này nữa. Nhưng đối với các khách hàng cá nhân, những người thường chỉ
sử dụng từ 1 đến 2 sản phẩm dịch vụ thì với những ngân hàng không đem lại lợi
ích lớn nhất, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thì việc lựa chọn và sử dụng sản phẩm
khác của NHTM, tổ chức tín dụng khác là khá dễ dàng.
Thứ năm, khách hàng cá nhân là những khách hàng nhạy cảm nhất.
Vì luôn lo sợ rủi ro và rủi ro luôn tác động mạnh nhất nên các khách hàng
cá nhân có thể bị tác động từ nhiều phía. Những tác động có thể đến từ thị
trường, thông tin đại chúng hoặc chính các luồng thông tin đến từ những người
trong gia đình, bạn bè, người thân cận.
1.2.2. Cho vay khách hàng cá nhân và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân
1.2.2.1. Cho vay khách hàng cá nhân
Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là việc
ngân hàng cấp tiền cho khách hàng vay với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả
gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định, từ đó tạo ra thu nhập cho NHTM.
Thu nhập từ hoạt động cho vay góp phần giúp NHTM bù đắp một phần các chi
Thứ hai về thời hạn vay,tùy theo từng sản phẩm và nhu cầu mục đích của
khách hàng mà ngân hàng có thể cho khách hàng cá nhân vay ngắn hạn, trung
hạn hoặc dài hạn.
Thứ ba về quy mô và số lượng các khoản vay, các khoản vay của khách
hàng cá nhân thường có quy mô nhỏ hơn so với doanh nghiệp. Tuy nhiên thực tế
cho thấy tại các NHTM thì các khoản vay của các khách hàng cá nhân thông
thường phải chiếm từ 50 đến 60% trên tổng dư nợ cho vay.
Thứ tư về chi phí cho vay, khi cho vay các món vay với đối tượng khách
hàng là cá nhân dù quy mô không lớn nhưng ngân hàng vẫn phải thực hiện đầy
đủ các bước theo quy trình. Do đó để có thể cho vay 1 đồng, chí phí phải bỏ ra
sẽ nhiều hơn so với doanh nghiệp.
Thứ năm về lãi suất cho vay, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân cao hơn
khách hàng doanh nghiệp. Bởi lẽ chi phí bỏ ra cho một món vay nhiều hơn, thời
gian vay vốn thường ngắn hơn, nên để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận, ngân hàng
thường đưa ra các mức lãi suất cao hơn khoảng từ 2 đến 3%, tương đương từ 1,2
đến 1,4 lần.
Thứ sáu về rủi ro cho vay, khách hàng cá nhân là những đối tượng nhạy
cảm nhất, dễ bị tác động nhất bởi những thay đổi trong nền kinh tế. Khả năng tài
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
14
Khóa luận tốt nghiệp
chính của khách hàng cá nhân thường thay đổi nhanh chóng dựa trên tình hình
công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân
và hộ gia đình với trình độ quản lý yếu kém, thiếu kinh nghiệm, chưa đuổi kịp
15
Khóa luận tốt nghiệp
nhu cầu vốn thường xuyên nên phù hợp với khách hàng cá nhân.
1.2.3.2. Theo tính chất đảm bảo của món vay
Theo tiêu thức phân loại này, cho vay KHCN gồm:
Thứ nhất là cho vay có tài sản đảm bảo. Khi xét đơn cấp vốn, ngân hàng
yêu cầu khách hàng phải có tài sản làm đảm bảo. Tài sản này sẽ vừa là cơ sở để
ngân hàng xác định mức tín dụng đồng ý cấp cho khách hàng, vừa là công cụ
phòng ngừa rủi ro với món tiền vay.
Thứ hai là cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp). Khách
hàng không buộc phải có tài sản đảm bảo, thay vào đó là sự bảo lãnh của một cá
nhân khác hoặc tổ chức/doanh nghiệp nào đó, hay bằng chính uy tín của bản
thân để ngân hàng xem xét cho vay.
1.2.3.3. Theo mục đích sử dụng tiền vay
Theo cách phân loại này, cho vay KHCN gồm:
Thứ nhất là cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh. NHTM cấp tiền vay
cho khách hàng cá nhân nhằm tài trợ việc sản xuất kinh doanh của cá nhân hoặc
hộ gia đình.
Thứ hai là cho vay tiêu dùng. NHTM cấp tiền vay nhằm tài trợ cho khách
hàng có khả năng chi trả các chi phí phục vụ nhu cầu về nhà ở, phương tiện đi
lại, học tập, du lịch…
1.2.3.4. Theo đối tượng giải ngân
Theo cách phân này, cho vay KHCN gồm:
Thứ nhất là cho vay giải ngân trực tiếp. Ngân hàng sau khi đồng ý cấp tín
dụng cho khách hàng, tiến hành giải ngân thông qua tài khoản của khách hàng
hoặc bằng tiền mặt.
Thứ hai là cho vay giải ngân gián tiếp. Vì một vài lý do nào đó hoặc đảm
bảo món tiền vay được sử dụng đúng mục đích, sau khi ký kết hợp đồng, ngân
tiêu dùng hàng hóa, tăng sản lượng bán hàng cho doanh nghiệp, kích thích nền
kinh tế phát triển.
Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM làm cho quá trình sản
xuất kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục, là đòn bẩy kinh tế quan trọng để
kinh tế tư nhân phát triển.
Cuối cùng, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của NHTM cũng chính
là yếu tố quan trọng để làm suy yếu và triệt tiêu hoàn toàn các hình thức tín
dụng đen. Các NHTM đưa ra các gói sản phẩm cho vay khách hàng cá nhân đã
giúp các cá nhân và hộ gia đình khác nhau trong nền kinh tế tiếp cận được
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
17
Khóa luận tốt nghiệp
nguồn vốn vay an toàn, lành mạnh. Từ đó khiến cho các quỹ “vay nóng”, “vay
nặng lãi” không còn và không thể chen chân vào một nền kinh tế lành mạnh.
1.2.4.2. Đối với Ngân hàng
Cho vay khách hàng cá nhân là hoạt động thường xuyên và góp phần tạo ra
lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng để đảm bảo sự phát triển và tồn tại của NHTM.
Thông qua hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, ngân hàng có thể tìm
thêm được những khách hàng mới, phát triển thêm các loại hình dịch vụ khác phù
hợp với các cá nhân và hộ gia đình như dịch vụ tiền gửi bằng Chứng minh thư.
Ngoài ra, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn tạo điều kiện để ngân hàng
có thể nâng cao vị thế, uy tín, nâng cao trình độ quản lý, khả năng của cán bộ và
nhân viên ngân hàng. Vì vậy, trong quá trình phát triển với bất kể NHTM nào
cũng không thể thiếu sự đóng góp của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.
Thứ hai là thời gian giải quyết hồ sơ. Thời gian giải quyết hồ sơ cho biết
khả năng làm việc, tốc độ xem xét và chấp thuận của ngân hàng có được đảm
bảo trong khả năng chịu được độ trễ của các KHCN khi thực hiện các thủ tục,
quy trình cho vay. Chỉ tiêu này được khách hàng đánh giá cao, chứng tỏ quy
trình cho vay của ngân hàng đang được thực hiện nhanh chóng, không làm mất
nhiều thời gian, đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, từ đó tạo cơ sở thu
hút thêm được nhiều KHCN, giúp hoạt động cho vay đạt kết quả cao. Tuy nhiên,
thời gian giải quyết nhanh cũng chưa hẳn là tốt, nguyên nhân có thể là do các
cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng hay bỏ qua một số
bước thẩm định, làm gia tăng rủi ro của món vay, dẫn đến chất lượng tín dụng
không đảm bảo, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động cho vay sau này.
Thứ ba là mức độ hài lòng về thái độ phục vụ, chăm sóc khách hàng của
nhân viên. Mức độ hài lòng là chỉ tiêu định tính quan trọng cho biết khả năng
đem lại lợi ích của các cán bộ, nhân viên ngân hàng đáp ứng được đến đâu kỳ
vọng của các KHCN trước, trong và sau khi tiến hàng hoạt động cho vay. Chỉ
tiêu này có độ hài lòng cao, càng cho thấy sự hoạt động bài bản, chuyên nghiệp
trong hoạt động cho vay, NHTM tạo được niềm tin nơi KHCN, giúp kết quả đạt
được trong cho vay càng cao. Ngược lại, một ngân hàng bị đánh giá kém trong
thái độ phục vụ, khiến khách hàng khó chịu, rất có thể sẽ tác động xấu đến
không chỉ hoạt động cho vay KHCN mà còn là các hoạt động trọng yếu khác.
1.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
1.3.2.1. Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng hoạt động cho vay
a) Doanh số cho vay
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương
Trường Đại học Thương Mại
19
Trường Đại học Thương Mại
20
Khóa luận tốt nghiệp
Dư nợ KHCN là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định, thể hiện
khoản tiền cho vay KHCN mà ngân hàng đã giải ngân mà chưa thu hồi về. Dư
nợ KHCN được xác định như sau:
Dư nợ KHCN= Dư nợ KHCN đầu kỳ + Doanh số cho vay KHCN trong
kỳ - Doanh số thu nợ KHCN trong kỳ.
Khác với 2 chỉ tiêu trên, Dư nợ KHCN mang tính thời điểm.
Tốc độ tăng trưởng dư nợ được tính theo công thức:
(Dư nợ năm nay – Dư nợ năm trước)
Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ =
x 100% (%)
Dư nợ năm trước
Chỉ tiêu này dùng so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để
đánh giá khả năng cho vay và tìm kiếm khách hàng là KHCN. Chỉ tiêu cao thì
mức độ hoạt động của ngân hàng ổn định và có uy tín với các KHCN, ngược lại
ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng. Tuy
nhiên, mức tăng trưởng quá cao cũng không hẳn là tốt, vì có thể đến từ nguyên
nhân nợ quá hạn. Khi đó để đánh giá chính xác không thể chỉ dừng lại ở chỉ tiêu
này mà còn phải xem xét đến mức độ an toàn của hoạt động cho vay KHCN.
d) Tỷ trọng dư nợ cho vay KHCN/ Tổng dư nợ cho vay
Tỷ trọng cho vay KHCN là chỉ tiêu thể hiện quy mô của hoạt động cho
vay KHCN trên tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, từ đó thể hiện mục tiêu
Khi xem xét về cơ cấu cho vay KHCN, các chỉ tiêu về cơ cấu cho vay
theo kỳ hạn, cơ cấu cho vay theo lĩnh vực (hay sản phẩm) thường được quan
tâm phân tích. Bởi lẽ cho vay theo kỳ hạn thể hiện phương cách cân đối Tài sản
Nợ của NHTM, thể hiện mức nhạy cảm lãi suất hoạt động cho vay KHCN khi
lãi suất thay đổi và phù hợp với khả năng về huy động vốn. Còn cho vay theo
lĩnh vực sẽ phản ánh được sự ưa chuộng của từng sản phẩm đối với hệ khách
hàng, từ đó giúp NHTM đặt ra cá mục tiêu giúp đẩy mạnh và đạt được kết quả
tốt nhất trong cho vay KHCN.
Dư nợ cho vay KHCN loại i trong kỳ
Tỷ trọng cho vay KHCN loại i=
x 100% (%)
Tổng dư nợ cho vay KHCN trong kỳ
1.3.2.3. Nhóm chỉ tiêu về mức độ an toàn của cho vay KHCN
a) Tỷ lệ cho vay có TSĐB
Tỷ lệ cho vay có TSĐB là chỉ tiêu cho biết tỷ trọng dư nợ cho vay có tài sản
thế chấp trong tổng dư nợ cho vay KHCN trong kỳ, từ đó cho biết khả năng chất
lượng tín dụng của hoạt động cho vay KHCN và mức độ an toàn đối với các
món tiền vay. Chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy hoạt động cho vay KHCN
của ngân hàng có xu hướng an toàn hơn.
Sinh viên: Thạch Thị Hải Yến
GVHD: TS. Nguyễn Thanh Phương