TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------
BÀI BÁO CÁO
HỌC PHẦN CÔNG NGHỆ TẾ BÀO ĐỘNG VẬT
ĐỀ TÀI
ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ TẾ BÀO ĐỘNG VẬT
ĐỐI VỚI ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH Ở NGƯỜI
GV hướng dẫn: TS. Trần Văn Giang
Lớp:
Đại học sư phạm Sinh học
Khóa:
3
SV thực hiện: Nguyễn Quỳnh Thơ
Nguyễn Thanh Sáng
Nông Thị Thêm
Triệu Thị Hoàng Thảo
Trần Thị Huyền Thương
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ sinh học, nó sẽ xâm nhập vào mọi lĩnh vực
của đời sống. Trong đó nổi bật là công trình nghiên cứu và thành tựu của ngành
công nghệ tế bào động vật. Ngành khoa học này phát triển đã mở ra một trang mới
+ Đặc điểm: Vì tính sinh miễn dịch thải ghép thấp cho nên có thể sử dụng
nguyên bào sợi da đồng loại. Tác dụng của nguyên bào sợi nuôi cấy là thúc
đẩy thời gian liền vết thương bỏng nông (do nó cung cấp một số yếu tố tăng
trưởng như TGF-b, PDGF, KGF). Trên vết bỏng sâu, nó có tác dụng làm liền
vết bỏng hẹp, cải thiện chất lượng nền ghép cho việc ghép da hay ghép tế
bào sừng nuôi cấy, cải thiện chất lượng liền sẹo,…(do nguyên bào sợi tạo ra
các thành phần đệm gian bào làm nền cho quá trình biểu mô hóa và cung cấp
các sợi laminin, elastin, fibronetin để tế bào biểu mô bám và trượt trên đó
giúp tăng nhanh quá trình biểu mô hóa che phủ vết thương).
+ Tiến hành: Kỹ thuật nuôi cấy nguyên bào sợi gồm các bước chính sau:
• Bước 1: Chọn, sàng lọc người cho mẫu da phù hợp
• Bước 2: Lấy mẫu da và bảo quản mẫu da Vùng dự kiến lấy mẫu da
được vệ sinh sạch sẽ, sát trùng trước khi lấy. Mẫu da lấy có toàn lớp
biểu bì, trung bì, hạ bì, kích thước khoảng 1 - 1,5cm2, thường lấy ở
trong đùi sát nếp bẹn. Sau khi lấy mẫu da được bảo quản trong ống
nghiệm chứa 5ml dung dịch DMEM (Dulbecos Modiffied Eage Media)
chứa 1% kháng sinh, bảo quản ở 40C trong vòng 8h, sau đó chuyển mẫu
da về labô nuôi cấy.
• Bước 3: Xử lý mẫu da. Các mẫu da được cắt lọc hết mỡ sau đó ngâm
vào cồn 70% thể tích trong vòng 30 giây, lấy ra rửa sạch 3 lần bằng PBS
rồi cắt nhỏ thành các mẩu da kích thước 0,1mm.
• Bước 4: Cấy mẫu da. Các mẫu da được cấy trong chai nuôi cấy với mật
độ một mẩu da 0,1mm cho diện tích 2,5cm2. Cho môi trường nuôi cấy
nguyên bào sợi vào chai rồi đặt vào tủ ấm 370C với 95% thể tích khí
trời và 5% thể tích CO2. Tiến hành bổ sung môi trường nuôi cấy sau
24h và sau 48h tiếp theo. Thay môi trường sau 4 ngày, theo dõi tế bào
-
sẽ nhân lên và phát triển trên giá đỡ trong môi trường nuôi cấy. Theo
dõi mật độ tế bào đủ lớn và không có tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm
nấm thì tiến hành ghép tấm tế bào nuôi cấy đó lên vết thương, vết bỏng
đã được chuẩn bị. Thông thường thời gian từ khi lấy mẫu da đến khi có
thể ghép tấm nguyên bào sợi nuôi cấy lên vết bỏng khoảng 2 tuần.
Công nghệ nuôi cấy tế bào sừng da tự thân trong điều trị bỏng:
Tế bào sừng cũng là loại tế bào được sử dụng nhiều trong điều trị vết
thương, vết bỏng sâu diện rộng (do thiếu nguồn da ghép tự thân) và phục
vụ nhiều nghiên cứu khác. Tế bào sừng là tế bào thuộc biểu bì có tính
sinh miễn dịch thải ghép cho nên phải sử dụng tế bào của da tự thân.
Hiện nay, có thể thu nhận tế bào sừng từ nhiều nguồn tế bào khác nhau (ví
dụ từ mảnh da, vùng tế bào ở chân lông, vùng phồng của nang lông,…).
Kỹ thuật nuôi cấy tế bào sừng biểu bì (một số bước có thể thay đổi tùy
thuộc vào phương pháp và môi trường nuôi tế bào sừng):
+ Bước 1: Chọn, sàng lọc người cho mẫu da
+ Bước 2: Lấy mẫu da và bảo quản mẫu da
+ Bước 3: Xử lý mẫu da
+ Bước 4: Tách biểu bì đơn
+ Bước 5: Nhân rộng tế bào sừng biểu bì.
Công nghệ nuôi cấy tế bào sừng khá phức tạp, một trong những ứng dụng
quan trọng của nó là góp phần điều trị để cứu sống những bệnh nhân bỏng
sâu diện tích lớn thiếu nguồn da ghép tự thân. Tuy nhiên, trước đây các tế
bào biểu mô được nuôi cấy trong môi trường có huyết thanh, cần có chi phí
rất cao, quy trình nuôi cấy phức tạp. Vì thế, các bác sĩ Viện bỏng Quốc gia
đã thử nghiệm phương pháp phân lập và nuôi cấy tế bào sừng trong môi
trường không huyết thanh với mục tiêu tạo tấm tế bào sừng tự thân nuôi cấy
để điều trị bỏng. Đây là biện pháp đơn giản, rẻ tiền hơn rất nhiều so với
phương pháp khác.
Bệnh thoái hóa khớp là một bệnh thường hay gặp ở những người già, theo
thời gian các lớp sụn ở các đầu khớp dần bị mòn, hệ thống dây chằng tại
vùng xương này trở lên lỏng lẻo. Đặc biệt là khớp đầu gối là khớp dễ bị thoái
hóa nhất. Điều này đã gây nhiều trở ngại, khó khăn cho người bệnh trong
cuộc sống và sinh hoạt hằng ngày. Hiện nay việc điều trị cho bệnh thoái hóa
khớp bằng công nghệ tế bào gốc đã tiến hành thành công ở Việt Nam.
Tế bào gốc sử dụng là tế bào gốc tự thân, có nghĩa là dùng chính tế bào
gốc của bệnh nhân, hoạt hóa bằng huyết tương của bệnh nhân và toàn bộ quy
trình xử lý trong hệ thống sạch với mức độ kiểm soát nhiễm. Do đó, các tai
biến, di chứng xảy ra là cực kỳ thấp. Hiệu quả điều trị dựa trên nguồn gốc
gây bệnh khác nhau mà khác nhau. Đối với những bệnh nhân mà xác định
được nhân tố rõ ràng, cắt đứt sự tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ thì hiệu quả
rõ rệt và kéo dài.
Phương pháp can thiệp:
Công nghệ Tế bào gốc mô mỡ hiện đang dần được coi là một phương
pháp trong điều trị bệnh thoái hóa khớp, bởi tính hiệu quả của nó.
Quy trình cấy ghép tự thân tế bào gốc trưởng thành từ mô mỡ của VHSU
giúp điều trị cho bệnh nhân nhiều căn bệnh thoái hóa hay suy nhược. Sau đây
là 5 bước của quá trình điều trị trong việc thu nhân tế bào gốc từ mô mỡ của
bệnh nhân.[5]
- Bước 1 - Chuẩn bị: Bệnh nhân sẽ được gây tê tại chỗ và hút mỡ trong
phòng mổ. Các bác sĩ của chúng tôi sẽ tiến hành hút mỡ từ vùng đùi hay
vùng bụng của bệnh nhân. Thể tích mỡ thu nhận tùy thuộc vào từng bệnh
nhân điều trị, dao động từ 40-100ml.
- Bước 2 - Thu nhận tế bào gốc: Mô mỡ thu nhận được được chuyển vào
phòng thí nghiệm vô trùng. Tại đây, đội ngũ kĩ thuật viên sẽ thực hiện quy
trình tách chiết để loại bỏ mô mỡ thừa và máu, thu nhận lượng tế bào gốc từ
Tuy nhiên cũng không thể khẳng định hoàn toàn là không có tác dụng phụ.
Nếu có thì chỉ là một số phản ứng nhẹ sau khi tiêm tế bào gốc.
3. Điều trị ung thư máu [4]
Khái niệm:
•
•
•
•
Ung thư máu (bệnh máu trắng) là bệnh trong đó tủy và hệ bạch huyết bị
rối loạn và tạo ra những bạch cầu ác tính. Chúng tăng sinh ngoài tầm kiểm
soát và nhu cầu của cơ thể, lấn át các tế bào khác trong máu khiến cho máu
không hoàn thành được các nhiệm vụ thường lệ.
Cấy ghép tế bào gốc điều trị ung thư máu là phương pháp lấy tế bào tạo
máu gốc khỏe mạnh để truyền vào trong cơ thể. Các tế bào gốc khỏe mạnh
có thể được lấy từ trong máu, tủy xương và máu dây rốn lưu trữ. [1]
Các loại cấy ghép tế bào gốc
Có hai loại cấy ghép tế bào gốc chính:
• Cấy ghép tế bào gốc tự thân: tức là lấy tế bào gốc từ trong máu của bệnh
nhân, sau đó đông lạnh và lưu trữ cho đến khi cần sử dụng. Sau khi bệnh
nhân ung thư máu được hóa trị hoặc xạ trị liều cao để tiêu diệt hết các tế
bào ung thư thì các tế bào gốc tự thân sẽ được đưa vào cơ thể người bệnh
để tiếp tục khởi động cơ chế phân chia tế bào, giúp tăng trưởng và phát
triển các tế bào khỏe mạnh trong cơ thể.
• Cấy ghép tế bào gốc đồng loại: ở trường hợp này, tế bào gốc được lấy từ
một người hiến tặng khỏe mạnh và phù hợp. Người hiến tặng có thể là
người ’ang hoặc thành viên trong gia đình (anh chị em ruột) hoặc những
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1.
Kết luận
Mặc dù ra đời muộn nhưng kỹ thuật nuôi cấy tế bào động vật đã mở ra
nhiều hướng ứng dụng quan trọng trong đời sống của con người đặc biệt là
lĩnh vực Y học.
2.
Qua đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu làm rõ được ứng dụng của công
nghệ tế bào động vật trong điều trị bệnh nghiêm trọng, cụ thể là bỏng, thoái
hóa khớp và ung thư máu.
Bài làm bên cạnh những thành công vẫn còn những thiếu sót, mong Thầy
đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thiện hơn trong những đề tài sau.
Kiến nghị
- Chúng tôi mong muốn có một chuyên đề chuyên sâu về công nghệ tế bào
gốc, để hiểu sâu hơn về công nghệ này.
- Đây là thành tựu kĩ thuật Y học tiên tiến, cần được chú trọng phát triển
rộng rãi hơn để điều trị bệnh, nâng cao sức khỏe cho người dân. Điều trị
bệnh bằng phương pháp này chi phí khá cao, đề nghị Bảo Hiểm Y tế sẽ hỗ
trợ chi trả một phần phí.
- Trẻ mới sinh, cần lưu trữ lại cuống rốn, đó là nơi chứa tế bào gốc vạn
năng, để thuận lợi trong điều trị bệnh sau này.
- Trong quá trình làm bài tập nhóm, đa số các bạn trong nhóm đều hoàn
thành nhiệm vụ được giao, trong đó bạn Thương hoạt động chưa tích cực.
Mong thầy đánh giá hợp lí sự tích cực của các bạn.