1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến nhiều lĩnh vực của
đời sống chính tri, xã hội ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Công tác tôn
giáo liên quan đến đờng lối, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nớc ta. Mặt khác, hiện nay các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng vấn đề
tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ, chủ quyền quốc gia của Việt Nam.
Trong chiến lợc Diễn biến hoà bình, chúng đã xác định dùng tôn giáo làm
mũi nhọn để bẻ gẫy xơng sống Cộng sản và trong thời gian gần đây đã tăng
cờng các hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo vào Việt Nam nhằm tạo lực lợng quần chúng có hệ t tởng đối lập hậu thuẫn từ bên trong tiến tới xoá bỏ chế
độ chính trị XHCN ở nớc ta.
Hà Nội là một địa bàn có vị trí hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế,
văn hoá và an ninh - quốc phòng - là thủ đô, trung tâm chính trị của cả nớc, có
lịch sử văn hoá, truyền thống lâu đời, nơi tập trung nhiều tầng lớp dân c, nhiều
trung tâm công nghiệp, khu liên doanh với nớc ngoài, các trờng đại học. Mặt
khác, tại Hà Nội cũng là nơi tập trung của nhiều tôn giáo lớn ở Việt Nam nh
đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài. Từ năm 1990
đến nay khi có sự đổi mới trong đờng lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà
nớc và công cuộc đổi mới của đất nớc trên địa bàn Tp.Hà Nội có nhhiều tôn
giáo đã và đang hoạt động, đặc biệt là gần đây xuất hiện một số tôn giáo, tổ
chức tôn giáo, thậm chí cả tà đạo đợc du nhập từ bên ngoài, có tổ chức đã đợc công nhận t cách pháp nhân hay đợc đăng ký hoạt động nhng cũng có một
số không có, hoạt động trái pháp luật. Trong thời gian vừa qua, nhiều hoạt
động tôn giáo đã diễn ra, trong đó các hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo
trái pháp luật diễn biến rất phức tạp, ảnh hởng đến tình hình an ninh, trật tự
trên địa bàn. Hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo ở Hà Nội đã không đơn
thuần là hoạt động tôn giáo thuần tuý mà còn có yếu tố chính trị. Hoạt động
này diễn ra không chỉ với mục đích phát triển tôn giáo mà còn bao hàm mục
đích, ý đồ chính trị của các thế lực thù địch trong và ngoài nớc.
1
Thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nớc, các cơ quan chức
Nghiên cứu về hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật trên
địa bàn Tp.Hà Nội hiện cũng có một số đề tài, ví dụ nh Khoá luận tốt nghiệp
(Học viện ANND) Hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép trong các trờng
đại học trên địa bàn Hà Nội và công tác đấu tranh ngăn chặn của cơ quan an
ninh của tác giả Quách Tuấn Anh. Tuy nhiên nghiên cứu về hoạt động tuyên
truyền, phát triển đạo nói chung trái pháp luật tại Hà Nội là cha có.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu đề này nhằm các mục đích sau:
- Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái
pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
- Làm rõ công tác giải quyết hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái
pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội của các cơ quan chức năng.
- Bớc đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
giải quyết hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật ở địa bàn
Tp.Hà Nội trong thời gian tới.
Để đạt đợc mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Nghiên cứu các tình hình có liên quan đến hoạt động tuyên truyền,
phát triển đạo trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
- Phân tích, đánh giá những vấn đề có liên quan đến hoạt động tuyên
truyền, phát triển đạo trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội nh chủ thể tiến hành,
hình thức, thủ đoạn tuyên truyền, phát triển đạo, đối tợng tuyên truyền. Qua
đó chỉ ra hậu quả tác hại của hoạt động này.
- Nghiên cứu những nội dung của công tác giải quyết hoạt động tuyên
truyền, phát triển đạo trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội trong thời gian vừa
qua và đánh giá kết quả, hạn chế của công tác giải quyết.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác giải quyết hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật trong thời
gian tới.
Tp.Hà Nội
Chơng 2: Công tác khắc phục hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo
trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
Chơng 3: Giải pháp hạn chế hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái
pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
4
Chơng 1
hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp
luật ở Thành phố Hà Nội
1.1. Khái quát chung tình hình địa bàn Tp.Hà Nội
1.1.1. Vị trí địa lý
Diện tích tự nhiên của Hà Nội là: 3.324,92 km2. Hà Nội nằm hai bên bờ
sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú. Với vị trí và địa thế đẹp,
thuận lợi, Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học lớn, đầu
mối giao thông quan trọng của Việt Nam.
Vĩ độ bắc: 20o53' đến 21o23'
Kinh độ đông: 105o44' đến 106o02'
Giáp với các tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam và
Hoà Bình ở phía Nam;Bắc Ninh, Bắc Giang, Hng Yên ở phía Đông; Hoà Bình
và Phú Thọ ở phía Tây.
Hà Nội tính tới nay gồm các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trng,
Đống Đa, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu Giấy, Long Biên, Hoàng Mai và huyện:
Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phợng, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai,Phú Xuyên, Thờng Tín, Chơng Mỹ, Mỹ
Đức, ứng Hoà, Thanh Oai, Mê Linh và thành phố Hà Đông, thành phố Sơn
Tây.
Hà Nội - mảnh đất có truyền thống nghìn năm văn hiến và lừng lẫy
chiến công đánh giặc, nơi định đô của các vơng triều phong kiến tự chủ Việt
với 15 nghìn học viên, tăng gấp 13 lần năm học sau giải phóng. Tính bình
quân cứ 3 ngời Hà Nội có một ngời đang đi học. Nhiều học sinh Hà Nội đạt
giải cao trong các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Hà Nội còn là địa phơng đầu tiên
trong cả nớc đợc công nhận phổ cập xong cấp trung học cơ sở, có một số trờng
đặc biệt dạy trẻ em khuyết tật.
Để bảo vệ sức khỏe nhân dân, y tế Hà Nội không ngừng phát triển và
ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại kết hợp với nền y học cổ truyền trong
chữa trị, chủ động phòng bệnh và loai bỏ các bệnh xã hội. So với năm 1954,
số bệnh viện tăng hơn bốn lần, số y, bác sỹ, y tá tăng 27 lần.
6
1.1.3. Đặc điểm về dân c
Số dân là: 6.1 triệu ngời. Dân c Hà Nội phân bố không đều giữa các
lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái. Mật độ dân số trung bình của
Hà Nội là 2881 ngời/km2 (mật độ trung bình ở nội thành 19163 ngời/km2,
riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 ngời/km2, ở ngoại thành 1721 ngời/km2). Mật
độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình của cả nớc, gần gấp đôi mật
độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và là thành phố có mật độ cao nhất
cả nớc. Hà Nội nếu tính từ thế kỷ thứ V tới nay là hơn ngàn rỡi năm. Nhng hỏi
liệu bao nhiêu gia đình có từ ngày đó và tồn tại đến nay ở Hà Nội thì khó trả
lời đợc.
Những làng ngoại thành và ven đô cũ (nay phần lớn đã nằm trong nội
thành) thuộc những phờng nông nghiệp thì dân c ít xáo trộn có nhiều gia đình
còn giữ đợc gia phả ngợc lên đến tận các thế kỷ XV, XVI.
Luồng nhập c liên tục và mạnh mẽ vậy nên c dân tất phải xáo trộn. Có
điều là đã có bao nhiêu thế hệ "tử chiếng" ấy kéo về Thăng Long sinh cơ lập
nghiệp, lập ra các phố phờng trải qua chiều dài của hàng chục thế kỷ. Tất
nhiên, bấy nhiêu thế hệ đã đem đến Thăng Long - Hà Nội những lề thói của
địa phơng mình, song chung đúc lại, chắt lọc ra, hòa với ngời Thăng Long bản
ngoài vào Hà Nội tự động tìm chùa trụ trì, tổ chức hoạt động tôn giáo không
báo cáo với cơ quan có thẩm quyền; một số s giả từ nơi khác đến đi khất thực,
bán hơng, quyên góp làm ảnh hởng đến hoạt động của Phật giáo và xã hội.
Về Công giáo, đến nay so với năm 1997 số giáo dân tăng gần 10.000
ngời, chủ yếu do tăng dân số tự nhiên, một số tín đồ trớc đây khô, nhạt đạo
nay quay trở lại, một số kết hôn với ngời ngoài đạo và một số giáo dân ở tỉnh
ngoài về Hà Nội làm ăn, sinh sống. Các giáo dân có mặt hầu hết các quận,
huyện trên thành phố, sống đan xen, hoà đồng với đồng bào các tôn giáo khác.
Ngoài các hoạt động sinh hoạt tôn giáo, giáo dân Công giáo còn tích cực tham
gia các hoạt động kinh tế, xã hội. Một số mặt về nếp sống, thuần phong mỹ
tục do thực hiện giáo lý, giáo luật nên có phần giữ gìn tốt hơn. Trong đồng
bào giáo dân do bị ràng buộc bởi thần quyền, giáo lý và còn mặc cảm về
những vấn đề trong lịch sử nên dễ bị lợi dụng, kích động.
Về đạo Tin lành, hiện có gần 400 tín đồ, trong đó số ngời cha phải là tín
đồ (cha chịu lễ Báptem) tham gia sinh hoạt tôn giáo tăng rất nhanh, gồm có bộ
8
phận tín đồ đi công tác, học tập ở nớc ngoài về nớc, những tín đồ là ngời nớc
ngoài vào Việt Nam học tập, công tác.
Có thể nói đa số tín đồ đạo Tin lành Hà Nội gắn bó với cộng đồng, chấp
hành nghiêm chỉnh đờng lối, chính sách của Đảng, Nhà nớc. Tuy nhiên có
điểm đáng lu ý đối với đạo Tin lành Hà Nội, kể cả số đã có và cha có t cách
pháp nhân đang đợc tổ chức Tin lành các nớc quan tâm, đầu t tiền của, đa ngời
vào trực tiếp tuyên truyền, vận động phát triển lực lợng. Có nhiều hoạt động
sinh hoạt tôn giáo trái phép, không đúng quy định pháp luật.
Về đạo Cao Đài, hiện nay có khoảng hơn 300 tín đồ. Chức sắc, tín đồ
Cao Đài Hà Nội hoạt động theo hớng Phụng đạo - yêu nớc, chấp hành tốt đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng, Nhà nớc, quy định của chính quyền
địa phơng.
Về đạo Hồi trên địa bàn thành phố Hà Nội: Có 01 thánh đờng ở 12
Họ đều là thành viên của các tổ chức tôn giáo nớc ngoài. Năm 1993,
JEKMAN URULA, giáo viên Viện GOD Đức có hoạt động truyền đạo Tin
Lành tại Đại học Ngoại ngữ hay Scott Drawe và Blyth là thành viên của Hiệp
hội truyền bá phúc âm Mỹ (Bob Tebow Evangelistic Asciation), Park, Soel là
những nhà truyền giáo chuyên nghiệp của nhà thờ Quang Du và Sêul. Các dịp
lễ sự kiện lớn tổ chức tại Hà Nội nh ASEM 5, Sea Game 23, Hội nghị APEC
14... số đối tợng cốt cán trong các tổ chức tôn giáo nớc ngoài (Pháp luân công,
Thanh Hải Vô Thợng S, Long Hoa Di Lặc, Chân không, Ngọc Phật Hồ Chí
Minh...) đều đã lợi dụng tán phát tờ rơi ở một số địa điểm cộng cộng (cổng trờng đại học, quán cafe, quán Internet...) lôi kéo ngời theo đạo.
ở trong nớc, các đối tợng cốt cán trong các tổ chức tôn giáo đều tích
cực tiến hành các hoạt động nhằm tuyên truyền, lôi kéo ngời theo đạo.
Năm 2008 mục s Tae Won Soo thuộc Hội thánh Tin lành Hàn Quốc tại Hà
Nội đã mời một đoàn khám bệnh từ thiện của Hàn Quốc đến khám và phẫu
thuật thay thuỷ tinh thể miễn phí cho 60 ngời ở Sóc Sơn với kinh phí gần
15.000 USD, phối hợp với Hội thánh Tin lành Sở Thợng tổ chức khám và
phát thuốc miễn phí cho khoảng 300 ngời nghèo ở phờng Yên Sở, quận
Hoàng Mai.
10
Dòng Chúa cứu thế Hà Nội quan hệ với các tổ chức phi chính phủ
(NGO) nớc ngoài xin tài trợ để hoạt động từ thiện, thậm chí tổ chức cho
các linh mục, tu sỹ của dòng đi giảng đạo, hoạt động mục vụ ở nhiều nơi
nhằm phát triển đạo và khôi phục ảnh hởng của Dòng Chúa cứu thế tại
miền Bắc.
Năm 1999, Trần Đình ái, mục s tự phong hệ phái Phúc Âm ngũ
tuần đã thuê phòng khách sạn tổ chức lớp huấn luyện giáo lý viên ở Hà
Nội cho 21 ngời nhằm tạo ra đội ngũ cốt cán đi tuyên truyền, phát triển hệ
phái này ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
giảng dạy, học tập đã lợi dụng điều kiện học tập, sinh hoạt chung với sinh viên
Việt Nam để tán phát tài liệu, tuyên truyền phát triển đạo trái pháp luật. Điển
hình là trờng hợp Jang Wan Ick (quốc tịch Hàn Quốc) vào Việt Nam học tiếng
Việt tại Trung tâm Đông Nam á (trờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn) đã tuyên truyền và lôi kéo đợc một số sinh viên theo đạo Tin Lành.
Đối tợng truyền đạo do chính những sinh viên là tín đồ làm nòng cốt để
tập hợp, lôi kéo sinh viên khác tham gia vào các hội nhóm sinh viên tôn giáo.
Thực tế cho thấy những sinh viên là tín đồ luôn đợc các tổ chức tôn giáo chú ý
sử dụng làm nòng cốt trong việc truyền đạo trái pháp luật. Qua công tác đấu
tranh, phát hiện những tổ chức, hội nhóm tôn giáo hoạt động trái pháp luật
trong thời gian qua cho thấy, sinh viên là tín đồ luôn là những hạt nhân, nòng
cốt trong việc tuyên truyền, phát triển đạo trong sinh viên. Nhiều sinh viên
tranh thủ thời gian để đi tuyên truyền, lôi kéo các sinh viên khác tham gia tổ
chức, sinh hoạt tôn giáo. Đáng chú ý, những sinh viên này trải qua các lớp
huấn luyện, đợc trang bị kiến thức, các thủ đoạn lôi kéo rất tinh vi. Sau khi đã
hoàn thành các lớp học, số sinh viên này bắt tay thực hiện nhiệm vụ và đợc trả
lơng hay nhận các khoản thu nhập trá hình nh học bổng, tiền trợ cấp, đợc tài
trợ đi du học miễn phí. Điển hình là trờng hợp Lê Bảo Quốc - học lớp Hàn
Quốc 9802, trờng Đại học Ngoại ngữ theo đạo Tin Lành rất tích cực truyền
đạo cho số sinh viên sống cùng ký túc xá.
1.2.2. Hình thức tuyên truyền, phát triển
Trong thời gian qua, các hình thức tuyên truyền, phát triển đạo đợc các
đối tợng sử dụng chủ yếu là:
12
Thứ nhất, tuyên truyền bằng miệng
Truyền đạo bằng miệng là hình thức tuyên truyền đợc đối tợng sử dụng
phổ biến nhằm truyền bá tôn giáo trong thời gian vừa qua, trong đó chủ thể
hệ phái cha đợc Nhà nớc công nhân t cách pháp nhân) để lôi kéo ngời theo
đạo trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Năm 2008, số đối tợng cốt cán trong Hội thánh Tin lành Hà Nội đã in
36.000 đầu tài liệu với kinh phí 326.400.000 đồng để phân phát cho số tín đồ
theo đạo Tin lành ở Hà Nội và số tín đồ là ngời dân tộc thiểu số ở các tỉnh
miền núi phía Bắc.
Thứ ba, truyền đạo qua phơng tiện thông tin đại chúng
Hiện nay các tổ chức tôn giáo nớc ngoài sử dụng hàng chục đài phát
thanh tuyên truyền về tôn giáo, điển hình là các đài "Nguồn sống", "An bình
hạnh phúc" (chủ yếu tuyên truyền về đạo Tin Lành), đài phát thanh Vatican,
Veritas, đài Chân lý á châu (tuyên truyền về Thiên Chúa giáo)
Các tôn giáo lớn đều mở các trang Web để tuyên truyền, phát triển và
làm sống đạo. Năm 2006, Nhóm sinh viên Nhà Chúa tổng giáo phận Hà Nội
đã lập trang web riêng (www.sinhvientgphn.conggiao.net) để tuyên truyền, lôi
kéo sinh viên theo đạo.
Hình thức tuyên truyền này thời gian qua chỉ chiếm hơn 10% số vụ, nhng trong tơng lai, cùng với việc phát triển mạnh mẽ của các phơng tiện truyền
thông đại chúng, nó sẽ đợc các đối tợng truyền đạo đặc biệt chú trọng vì có
khả năng truyền tải trực tiếp đến đông đảo quần chúng một lợng thông tin
phong phú, nhất là khi Internet trở thành phơng tiện truy cập thông tin phổ
biến với quần chúng nhân dân hiện nay.
1.2.3. Đối tợng của hoạt động tuyên truyền
Một là, tại các địa bàn trung tâm thành phố, quận, huyện tập trung vào
đối tợng học sinh, sinh viên, những ngời trẻ tuổi để tuyên truyền, lôi kéo
Các đối tợng truyền đạo chú ý nhằm vào số sinh viên các trờng đại học,
giới trẻ trong cơ quan, doanh nghiệp t nhân, trong đó đặc biệt quan tâm đến số
14
sinh viên khối dân lập, bán công, do công tác quản lý ở đây lỏng lẻo, thiếu các
Toà Tổng giám mục Hà Nội khuyến khích hỗ trợ cho thanh niên theo
đạo tại các địa phơng về Hà Nội học đại học. Các ngành mà họ quan tâm đào
tạo là ngoại ngữ, tin học, kinh tế. Họ chọn lọc số học sinh khá, giỏi lớp 12 cấp
tiền cho về Hà Nội thi đại học. Khi trở thành sinh viên thì nhà thờ thực hiện
chế độ bao cấp cho số sinh viên này trong suốt quá trình học tập; tốt nghiệp ra
trờng, sinh viên đợc đa vào làm việc trong các nhà thờ. Họ khuyến khích sinh
viên nói chung, nhất là sinh viên theo đạo đến ở trọ tại các gia đình giáo dân.
Làng Phùng Khoang (Từ Liêm - Hà Nội) là một điển hình, ở đây thờng có tới
hàng nghìn sinh viên ở trọ có sự giúp đỡ của giáo hội. Nhân dịp các kỳ nghỉ
hè, nghỉ tết các Toà giám mục tổ chức gặp gỡ phát phần thởng cho các sinh
viên học giỏi.
Hàng năm, Toà Tổng giám mục Hà Nội đều tài trợ kinh phí, tổ chức các
buổi tham quan, du lịch cho các sinh viên thuộc nhóm Hội sinh Tổng giáo
phận Hà Nội để tuyên truyền phát triển đạo.
Cùng với các hoạt động trên, hoạt động tác động, lôi kéo sinh viên của
các tổ chức tôn giáo ngày càng đợc đẩy mạnh cả về quy mô lẫn tính chất hoạt
động với sự tham gia và chỉ đạo chặt chẽ của các chức sắc tôn giáo với những
hình thức nh mở các lớp ngoại ngữ, âm nhạc, vi tính miễn phí nhằm thu hút
sinh viên, thanh thiếu niên. Thậm chí, họ còn mở cả những lớp truyền giảng
đạo cho sinh viên, thanh thiếu niên tặng thởng vật chất cho những ngời thờng
xuyên tham gia những lớp học này, tổ chức các lớp học tập thể nh: Chơng
trình ngàn năm thánh thứ 3, Dạ khúc yêu thơng... ở nhà thờ Thái Hà, Nam
Đồng (Hà Nội).
Bên cạnh các học bổng chính thức tài trợ cho sinh viên thông qua nhà
trờng, các tổ chức của Đoàn, Hội sinh viên, nhiều tổ chức NGO nớc ngoài
thông qua mối quan hệ cá nhân đã móc nối, tài trợ trực tiếp cho sinh viên.
Tháng 7/2000, tổ chức Mayknoll tài trợ quà cho nhóm sinh viên liên địa phận
đi thăm và giao lu với số bệnh nhân ở trung tâm nuôi dỡng trẻ em tàn tật và trờng nội trú dạy nghề số 1 - Hà Nội. Từ năm 1997 đến nay Les Enfant du
Thứ ba, hình thành các hội nhóm bất hợp pháp.
17
Thời gian qua đợc sự chỉ đạo, hậu thuẫn của các chức sắc tôn giáo (đặc
biệt là các linh mục trong đạo Thiên Chúa, mục s Tin Lành trong và ngoài nớc) hoạt động này đợc đẩy mạnh và đã gây ra những ảnh hởng xấu đến tình
hình quần chúng trên địa bàn. Đối với các nhóm đã hình thành thì chia ra
thành từng nhóm nhỏ, tổ chức sinh hoạt trong các nhà thờ, chùa có sự đỡ đầu,
chỉ đạo trực tiếp của một số chức sắc các tôn giáo nh trờng hợp Sung Woo
Park và Soel Yong Oh, ngời Hàn Quốc lập ra một nhóm tại cơ sở thuê ở 101
B1C Thành Công và 25 Láng Hạ để rao giảng đạo cho sinh viên. Một số nhóm
sinh hoạt tại một số địa điểm khác nh: nhà trọ của sinh viên, nhà thuê, phòng
thuê, quán cafê để dễ dàng lôi kéo ngời tham gia, nhất là những ngời ngại
đến chùa, nhà thờ sinh hoạt tôn giáo. Cuối tháng 4 đến đầu tháng 7 năm 2007,
hai đối tợng tín đồ Hồi giáo đã tự ý mở lớp học đạo Hồi và kinh Koran bằng
tiếng Anh cho ngời lớn, trẻ em không phải ngời Hồi giáo tại Thánh đờng 12
Hàng Lợc nhằm tuyên truyền, lôi kéo ngời vào đạo Hồi.
Đặc biệt, có nhóm này nhận tài trợ và thực hiện sự chỉ đạo từ bên ngoài.
Có nhóm nhận chỉ đạo phải phấn đấu vào Đảng cộng sản để phục vụ mu đồ
của các thế lực thù địch bên ngoài về lâu dài. Điển hình nh nhóm Hội sinh
viên Nhà chúa Hà Nội;
1.2.5. Hậu quả tác hại của hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo
trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
Hoạt động tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật thực chất là hoạt
động phá hoại t tởng, xuyên tạc đờng lối, chủ trơng, chính sách pháp luật của
Đảng, Nhà nớc, quy định của chính quyền địa phơng; phá hoại chính sách
đoàn kết dân tộc, đoàn kết lơng giáo và ảnh hởng đến tình hình an ninh chính
tri, trật tự xã hội, hoạt động sản xuất, sinh hoạt trong cuộc sống của quần
chúng nhân dân.
tôn giáo nớc ngoài (NGO tôn giáo) thông qua thực hiện các dự án từ thiện
nhân đạo cho quần chúng ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS (vùng
khó khăn) làm cho quần chúng mất cảnh giác, mất lòng tin với Đảng, Nhà nớc. Hoạt động này diễn ra phức tạp, số lợng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng
bào có cuộc sống khó khăn tham gia nhiều, có sự chỉ đạo từ các thế lực phản
động, tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động này ngày càng tăng, nội
19
dung tuyên truyền có sự lồng ghép các nội dung đi ngợc lại chế độ chính sách
của Đảng và Nhà nớc, ngợc lại con đờng XHCN, đả kích chế độ. Hoạt động
này kéo theo sự du nhập của các loại tài liệu, ấn phẩm, văn hoá phẩm có nội
dung tôn giáo, nội dung xấu kích động t tởng dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc,
gây chia rẽ trong nội bộ nhân dân phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Số
đối tợng cầm đầu tăng cờng liên hệ với những thế lực phản động trong tôn
giáo và các tổ chức tôn giáo nớc ngoài. Đặc biệt là sự liên hệ với đại sứ quán
các nớc phơng Tây để xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam,
đa hình ảnh xấu về Việt Naẩytên trờng quốc tế. Các đối tợng bên ngoài còn
chỉ đạo cho số đối tợng cầm đầu, cốt cán tăng cờng củng cố về lực lợng, từng
bớc kiện toàn lại tổ chức và bộ khung dự bị cho tổ chức tôn giáo cơ sở để gia
tăng sức ép từ dới lên và từ trên xuống, từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài
để các tổ chức tôn giáo đợc công khai hoạt động, thoát khỏi sự quản lý của
Nhà nớc, chính quyền địa phơng.
20
Chơng 2
Công tác khắc phục hoạt động tuyên truyền, phát
triển đạo trái pháp luật ở địa bàn Tp.Hà Nội
2.1. Quan điểm t tởng chỉ đạo và chủ trơng giải quyết đối với hoạt
Thứ hai, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của bộ phận quần chúng trong xã
hội, còn tồn tại lâu dài, vừa có mặt tiêu cực và vừa có mặt tích cực.
Tôn giáo từ khi ra đời đã là sự chia sẽ, an ủi cho con ngời trớc khó khăn
do thiên nhiên tạo ra, là chỗ dựa cầu mong đợc che chở, cứu vớt. Thời kỳ xã
hội cha có giai cấp, tôn giáo hoàn toàn mang tính thuần khiết, không có yếu tố
bị lợi dụng phục vụ cho các mục đích chính trị đen tối mà ở đó chỉ là liều
thuốc tinh thần giúp cho con ngời vợt qua khó khăn, tiếp tục cuộc sống của
mình. Đến thời kỳ xã hội phân chia giai cấp, bên cạnh việc bị giai cấp bóc lột
lợi dụng phục vụ cho sự thống trị của mình là một xã hội mà số đông ngời lao
động có cuộc sống hết sức khó khăn mặc dù họ chính là lực lợng tạo ra của cải
cho xã hội thì tôn giáo tồn tại cũng với vai trò cứu cánh, là lối giải thoát
cho tầng lớp bị bóc lột trong xã hội. Họ tiếp tục tồn tại cuộc sống bất công,
nghèo khổ của mình với một niềm tin có thế giới bên kia (cuộc sống thứ
hai). Xã hội ngày nay tôn giáo phần nào vẫn đáp ứng đợc nhu cầu tinh thần
của một bộ phận quần chúng trong xã hội - Việc đi lễ, cầu kinh, niệm Phật, xng tội, rửa tội là nhu cầu tâm linh, sinh hoạt tín ngỡng không thể thiếu trong
cuộc sống. Điều này đã đợc Ph.ănghen khẳng định: Những tôn giáo đợc tạo
nên bởi những ngời cùng cảm nhận thấy một nhu cầu tôn giáo và điều đó có ý
nghĩa là nhu cầu của quần chúng (Ph.ănghen -dẫn theo sách Về tôn giáo
tín ngỡng Việt Nam hiện nay.Nxb KHXH, H., 1996. tr.32). Mặt khác, tôn
giáo còn là sự phản ánh những khát vọng của một bộ phận quần chúng về một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xã hội bình đẳng, không còn bất công trong xã
hội hiện nay. Những nhà sáng lập ra học thuyết Mác - Lênin thừa nhận:
Trong lịch sử đạo Cơ Đốc sơ kỳ có những điểm giống đáng lu ý với phong
trào công nhân hiện đại Cả đạo Cơ Đốc lẫn chủ nghĩa xã hội công nhân
đều tuyên truyền sự giải phóng con ngời trong tơng lai khỉ cảnh nô lệ và
nghèo khổ (C.Mác - Ph.Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
22
1995, t22, tr 66)
dựng nên những giá trị văn hoá của nhân loại (những kiệt tác nghệ thuật, công
trình kiến trúc vĩ đại, lễ hội tôn giáo mang tính văn hoá...) nhng ngợc lại là tác
động, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của nhân loại, sự sáng tạo hiện thực
của con ngời. Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo trở thành công cụ, phơng tiện
để giai cấp thống trị củng cố quyền lực, sự áp bức, bóc lột và hiện nay một số
nớc lợi dụng nhằm thực hiện mục đích, ý đồ chính trị của mình chống lại các
nớc khác và phong trào tiến bộ trên thế giới.
Thứ ba, tôn trọng tự do tôn giáo tín ngỡng và đoàn kết quần chúng tín đồ.
Quyền tự do tín ngỡng là một quyền cơ bản của con ngời và theo các
nhà Macxit tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngỡng còn là một nguyên tắc
trong chủ nghĩa xã hội. Điều này cần phải đợc thể hiện đầy đủ cả về mặt pháp
lý (văn bản pháp luật) và thực tiễn - quá trình điều hành đất nớc, và phải đợc
coi là quan điểm nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của Đảng cộng sản, cũng thể
hiện sự khác biệt với các nhà nớc trớc đấy. Chế độ t bản chủ nghĩa, quyền tự
do tín ngỡng phải trong khuôn khổ, tức là hoạt động tôn giáo phải phù hợp
hoặc không đối lập với lợi ích của giai cấp t sản, thậm chí quyền ấy còn bị lạm
dụng thông qua việc lợi dụng các tôn giáo để phục vụ cho lợi ích của giai cấp
t sản.
Quyền tự do tín ngỡng phải đợc hiểu là mội công dân đợc hoàn toàn tự
do theo tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào. Việc theo đạo, chuyển
đạo hay bỏ đạo trong khuôn khổ quy định của pháp luật hiện hành là quyền tự
do cá nhân của mỗi ngời và điều này đã đợc Lênin khẳng định: Mỗi ngời đều
phải đợc hoàn toàn tự do không những muốn theo tôn giáo nào thì theo, mà
còn phải có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào hoặc thay đổi tôn giáo
(VI.Lênin, toàn tập, T7, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1974, tr.212-213), Bất kỳ
ai cũng đợc hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích, hoặc không thừa nhận
một tôn giáo nào, nghĩa là đợc làm ngời vô thần, nh bất cứ ngời xã hội chủ
nghĩa nào cũng thờng là ngời vô thần (VI.Lênin, toàn tập, T12, Nxb Tiến bộ,
Mát-xcơ-va, 1974, tr.171)
quần chúng về vấn đề tôn giáo, mà sức mạnh của ta là ở sự đoàn kết
(VI.Lênin, toàn tập, T37, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tr.221), Chuyên
chính vô sản phải kiên trì thực hiện việc giải phóng thực sự quần chúng lao
động khỏi những thiên kiến tôn giáo, bằng cách tuyên truyền và nâng cao giác
25