Luận chứng đề tài nghiên cứu “ thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu
trên các phương tiện truyền thông đại chúng (nghiên cứu trường hợp kênh
THVL1 và Vnexpress).
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Trên 16.000 người thiệt mạng do động đất, sóng thần tại Nhật Bản năm
2011, khoảng 77.000 ca tử vong mỗi năm do biến đổi khí hậu tại khu vực Châu Á
Thái Bình Dương; trong vòng 50 năm qua nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đã tăng
khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm… là những con số
thống kê chưa đầy đủ về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) nhưng đủ để
BĐKH trở thành một vấn đề toàn cầu trong một thế giới toàn cầu hóa. Vấn đề
BĐKH không của riêng ai, không của riêng quốc gia nào và để giải quyết vấn đề
này không thể chỉ bằng nỗ lực của một cá nhân hay một quốc gia mà cần có sự
chung tay của cả thế giới.
Và nếu như đòi hỏi các giải pháp toàn cầu thì các phương tiện truyền thông
đại chúng sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho dân chúng cũng
như nhà hoạch định chính sách cái nhìn tổng quan về vấn đề này trong cả bối cảnh
quốc gia và quốc tế. Mặc dù, các phương tiện truyền thông đại chúng có thể bị chỉ
trích vì tính lựa chọn và thường thể hiện thái quá một quan điểm nào đó nhưng
không thể phủ nhận rằng các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn cung cấp
được bức tranh về những sự kiện quan trọng nhất và những vấn đề đang đặt ra. Các
nghiên cứu về truyền thông với biến đổi khí hậu đang dần được quan tâm nhiều,
trong đó một dự án nghiên cứu gần đây nhất là “ truyền thông thông đại chúng Việt
Nam về biến đổi khí hậu” do viện FES phối hợp cùng Khoa Xã hội học, Học viện
Báo chí và tuyên truyền. Nghiên cứu này đã đóng góp cái nhìn tổng quan về công
tác truyền thông biến đổi khí hậu trên các phương tiện truyền thông đại chúng hiện
nay. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Thực trạng thông tin về biến đổi
khí hậu trên các phương tiện truyền thông đại chúng” (nghiên cứu kênh truyền
cáo này là: Truyền thông có vai trò gì trong việc ảnh hưởng đến hành động cá
nhân, quốc gia, và quốc tế trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu? Truyền
thông đã đưa tin về biến đổi khí hậu nhiều như thế nào và điều gì đang làm thay
đổi việc đưa tin đó? Những câu chuyện về biến đổi khí hậu được báo cáo và đưa
tin như thế nào và ai là người đã trích dẫn nguồn hợp pháp cho những câu chuyện
đó? Những ảnh hươgr mà giúp cho truyền thông tạo nên dư luận xã hội? Nó giúp
gì cho việc phát triển các viện trợ nước ngoài cho các nước nghèo thích ứng với
BĐKH? Nội dung của bài báo cáo này gồm 3 giai đoạn: Sản xuất tin tức, diễn đàn
cộng đồng, sự tiêu thụ truyền thông và sự tham gia của cá nhân về biến đổi khí
hậu: Giai đoạn 1: Miêu tả quy mô trong sản xuất tin và chỉ tiêu, nhu cầu của các
nhà báo, tác giả, nhà sản xuất…; Giai đoạn 2: Mô tả những tin tức khí hậu cạnh
tranh như thế nào với các vấn đề khác trong sự chú ý của công chúng; Giai đoạn
3: Kiểm tra kiến thức của người dân và sự tham gia của họ vào chủ đề biến đổi khí
hậu. Báo cáo cũng cho rằng truyền thông đã làm sống dậy vấn dề biến đổi khí hậu
nhưng cũng hạn chế về vấn đề này trong các tổ chức xã hội và viện trợ nước ngoài.
Một ưu điểm nữa mà báo cáo này tổng hợp được từ các nghiên cứu đó là báo chí
đã cải thiện được việc mô tả hoạt động cần thiết cho biến đổi khí hậu. Các nghiên
cứu đã tập trung vào vấn đề biến đổi khí hậu và giảm thiểu tác động của biến đổi
khí hậu.
Theo nghiên cứu “Climate Coverage Plummets On Broadcast Networks”
của Jill Fitzsimmons & Max Greenberg được thực hiện trong khoảng thời gian từ
2009 – 2011 trên các kênh truyền hình lớn của Mỹ là ABC, CBS, NBC và FOX đã
cho thấy kết quả là các thông tin về biến đổi khí hậu đã giảm đáng kể từ năm 2009.
Các kết quả chính của nghiên cứu này:
• Mặc dù các tin về biến đổi khí hậu vẫn đang được đưa tin nhưng phạm vi phủ sóng
lại giảm. Từ năm 2009, khi các đại biểu Mỹ thông qua một dự luật về khí hậu và
tham gia hội nghị biến đổi khí hậu ở Copenhagen thì một số lượng lớn tin trên các
chương trình chủ nhật và tin tức hàng đêm đã giảm rất nhiều.
ít :
Năm 2007, Viện nghiên cứu Sức khỏe, Môi trường và Phát triển đã khảo sát
sơ bộ về vấn đề Báo chí Việt Nam với BĐKH với 5 tờ báo in hàng ngày gồm Lao
động, Tuổi trẻ, Nhân dân, Hà Nội mới, Báo Đồng Nai và 2 chương trình là "Tài
nguyên và Môi trường phát hàng ngày của Đài Tiếng nói Việt Nam và Tạp chí Môi
trường và Tài nguyên phát hàng tuần trên Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội.
Kết quả được đưa ra sau hai tháng 9 – 10 năm 2007, chỉ có 24 bài báo in và ba tác
phẩm phát thanh về BĐKH. Trong khi đó, tại thời điểm năm 2007, những người
dân miền Trung phải đối mặt với 6 trận lũ liên tiếp và lớn chưa từng thấy trong lịch
sử; những người dân ở thành phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh Nam Bộ phải đối mặt
với đợt triều cường lớn nhất trong vòng 48 năm qua; người dân Hà Nội, nơi không
hề có lũ lụt lại phải đối mặt với dịch tiêu chảy cấp bùng phát bất thường. Lũ lụt,
triều cường, bệnh dịch bùng phát là những dấu hiệu liên quan chặt chẽ với BĐKH.
Nhóm nghiên cứu của Viện nghiên cứu sức khỏe, môi trường và phát triển
nhận xét rằng hiện nay, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về
BĐKH ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các
vấn đề và hiện trạng ở địa phương. Có rất nhiều bài báo đề cập đến các thảm họa
thiên nhiên do BĐKH gây ra như lũ lụt, bão, nước ngầm nhưng chưa có nhà báo
nào chỉ ra mối liên hệ giữa các hiện tượng trên và biến đổi khí hậu. Hầu hết các bài
báo in về BĐKH chỉ tập trung đưa tin vào các hội nghị, trích dẫn phát biểu của các
quan chức Trung ương và địa phương về BĐKH. Kết luận trên được đặc biệt nhấn
mạnh trong nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của Diễn đàn các nhà báo môi
trường Việt Nam (VFEJ) và Mạng lưới nhà báo Trái đất (EJN).
Nguyên nhân của việc công chúng Việt Nam không được báo chí thông tin
đầy đủ về BĐKH trước hết do các nhà quản lý, khi tiếp xúc với báo chí, chưa đề
cập đến mối liên hệ giữa biến đổi khí hậu và những tác động tiêu cực tại Việt Nam.
Ngoài ra, BĐKH là một đề tài khó và không phải nhà báo nào cũng có thể hiểu hết
khi mới tiếp cận. Đồng thời, ở Việt Nam hiện nay không có nhiều nhà báo chuyên
hậu ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn
đề và hiện trạng ở địa phương.Mặc dù có rất nhiều bài báo đề cập đến các thảm
họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu gây ra như lũ lụt, bão, nước ngầm nhưng chưa
có nhà báo nào chỉ r a mối liên hệ giữa các hiện tượng trên và biến đổi khí hậu.
Thêm vào đó, theo thông tin do Tổ chức Đông Tây hội ngộ (EMWF) từng
công bố trong kết quả nghiên cứu về “Sự thích ứng với BĐKH ở tỉnh Quảng
Nam”, thì có khoảng 49% người được phỏng vấn không biết về các chính sách và
quy trình của Nhà nước, 72% không biết về các kế hoạch chuẩn bị phòng chống
thiên tai… Vì thế, họ không có khả năng lên kế hoạch và chuẩn bị ứng phó với
thiên tai.
Kết quả nghiên cứu trên nằm trong khuôn khổ một dự án do Quỹ FORD tài
trợ trị giá 99.000 USD. Nghiên cứu được tiến hành trên 125 gia đình ở 25 cộng
đồng dân cư ở tỉnh miền trung Quảng Nam với địa bàn cư trú bao gồm cả ven biển,
núi cao và đồng bằng. Mục đích cuối cùng của dự án nghiên cứu là để đưa ra một
bộ tài liệu hướng dẫn để lập kế hoạch cho các chương trình BĐKH.
Kết quả này cũng cho biết, các ngôi nhà được khảo sát cũng không được
thiết kế, xây dựng có khả năng chống chịu các thiên tai. Cụ thể, 90% các ngôi nhà
đều được làm bằng tre, gỗ hay chỉ xây tường đơn. Mái, tường, cửa đều giản đơn,
không đủ sức chống chọi lại các cơn bão lũ thường xảy ra. 66% nhà của những
người được phỏng vấn thường xuyên bị bão lũ phá hỏng.
Nghiên cứu mới nhất vừa bắt đầu được thực hiện là “Truyền thông về rủi ro
BĐKH nhằm nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng khu vực duyên hải và
đồng bằng tại Việt Nam”, do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC)
của Canada tài trợ, do Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
(NISTPASS) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ và Trung tâm Nghiên cứu Giảm
nhẹ rủi ro thảm họa và BĐKH thuộc Viện Quản lý và Phát triển Châu Á (AMDI),
cùng phối hợp. Dự án nghiên cứu bắt đầu từ ngày 01/01/2012 và sẽ tiến hành
nghiên cứu ở các thành phố Đà Nẵng, Quy Nhơn, và Cần Thơ trong vòng 3 năm.
-
Nghiên cứu nhằm mục đích phân tích thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên
3.1.
truyền thông đại chúng bao gồm: Nội dung, hình thức và phương thức truyền tải
thông tin, so sánh thông tin từ hai kênh truyền thông đã chọn. Từ đó, đưa ra những
khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin khi đưa tin về biến đổi khí hậu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.
(1)
Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc khảo sát thông tin về BĐKH trên
THVL1 và VNEXPRESS.
(2)
Lập bảng mã thu thập thông tin về BĐKH trên các kênh truyền thông được lựa
chọn nghiên cứu.
(3)
Khảo sát, phân tích định tính các thông điệp liên quan đến BĐKH trên Chương
trình thời sự THVL1 và VNEXPRESS.
(4)
phương thuộc đồng bằng Sông Cửu Long, một trang báo điện tử. Mỗi kênh truyền
thông này đều phải có lượng công chúng theo dõi nhiều nhất so với các kênh tương
đương; đồng thời hai kênh phải có lượng thông tin tổng hợp. THVL1 là một kênh
truyền hình địa phương thuộc đài truyền hình Vĩnh Long, đại diện cho 1 kênh
truyền hình tại đồng bằng Sông Cửu Long. Đây là một kênh có lượng lớn công
chúng đón xem và tin tức nhanh và nó cũng gắn với những vấn đề liên quan với
biến đổi khí hậu như: Nông nghiệp, nông thôn… Chương trình được đưa vào phân
tích là Thời sự 11h, đây là chương trình tổng hợp thông tin có thời gian phát sóng
phù hợp để công chúng theo dõi. Vào năm 2012, theo nghiên cứu của Alexa.com,
Vnexpress là báo Tiếng Việt được xem nhiều nhất. Kết quả này vẫn còn được công
nhận đến hiện tại, vì vậy Vnexpress là kênh truyền thông thứ hai sẽ được đưa vào
nghiên cứu để so sánh với Thời Sự THVL1 (TS THVL1).
-
Thời gian nghiên cứu là một tháng từ 1/3/2013 đến 31/3/2013:
Với khoảng thời gian như vậy, tác giả ghi hình được 28 buổi phát sóng của
chương trình TS 11h. Trong vòng 28 ngày, số tin liên quan đến biến đổi khí hậu là
15 tin. 15 tin này sẽ được chọn là mẫu nghiên cứu của đề tài. Trong khi đó, với 5
tháng từ 8/2011 đến 2/2012, Vnexpress chỉ đăng tải 15 bài có liên quan đến biến
đổi khí hậu, vì vậy tác giả sử dụng 15 tin bài này để so sánh với 15 tin của TS
THVL1.
5.
•
Giả thuyết nghiên cứu
Thông tin về biến đổi khí hậu trên các trang báo nghiên cứu phát đi nhiều, và chủ
yếu đưa tin về biểu hiện, hậu quả mà thiếu thông tin về nguyên nhân dẫn đến biến
việc viết báo cáo kết quả nghiên cứu.
-
Dữ liệu định lượng sẽ được nhập và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS.
-
Các thông tin định tính thu được từ các tin tức được ghi hình và mã hóa bằng phần
mềm NVIVO 7.0.
Phụ thuộc vào từng đề tài nghiên cứu cá nhân mà mỗi thành viên sẽ sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể và phù hợp nhất đối với đề tài đó.
7.
-
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Bổ sung thêm thông tin hữu ích cho những khoảng trống trong nghiên cứu về
-
truyền thông đại chúng Việt Nam đưa tin về biến đổi khí hậu.
Cung cấp những kết luận và đóng góp vào với công trình nghiên cứu trước đó để
xây dựng và hoạch định mô hình truyền thông hợp lý và có hiệu quả về biến đổi
khí hậu.
-
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về