Nghiên cứu đặc tính và các hệ thống điều khiển tổ hợp công nghệ tự động hóa trong sản xuất giấy và công nghệ in - Pdf 35

HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
KHOA: KỸ THUẬT ĐIỀU KHIỂN

BÀI TẬP LỚN

MÔN HOC: THIẾT BỊ CÔNG NGHIỆP ĐIỂN HÌNH

Đề tài: Nghiên cứu đặc tính và các hệ thống điều khiển tổ hợp công nghệ tự
động hóa trong sản xuất giấy và công nghệ in.

Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ngọc Bích
Lớp

: ĐKCN 5

1


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Công nghiệp giấy và in là nghành công nghiệp quan trọng đối với nền
kinh tế nước nhà hiện nay. Sản phẩm giấy và in rất cần thiết cho các ứng
dụng trong cuộc sống vì ngoài những phương tiện truyền đạt thông tin mang
tính công nghệ cao, thông tin trên giấy vẫn là rất cần thiết và tối quan trọng.
Công nghệ sản xuất giấy và in là công nghệ phức tạp có quy mô rộng lớn,
nhiều đối tượng, quá trình hoạt động đồng thời liên tiếp nhau trong quá trình
sản xuất. Trong quá trình hội nhập kinh tế thị trường, vận hành theo cơ chế
thị trường và tiêu chuẩn thế giới về chất lượng sản phẩm, nghành công
nghiệp giấy và in đã có nhiều thay đổi lớn mang tính ứng dụng công nghệ
cao, nhiều nhà máy được xây dựng và đi vào sản xuất đáp ứng yêu cầu của
nền kinh tế thị trường. Để cạnh tranh tồn tại và phát triển, nghành giấy cần

thống công tắc và role.
b. Các bộ điều khiển lập trình và máy tính công nghiệp: là một hệ thống
bao gồm phần cứng và phần mền máy tính.
c. Các thiết bị đo kiểm tra.
-Thông thường các thiết bị biến đổi, lưu giữ, phân bố và đưa thông tin
tham gia vào thành phần các mô đun của các bộ điều khiển lập trình.Trong
các tổ hợp và tổ máy công nghệ người ta sử dụng các thiết bị đa dạng để
nhận thông tin,các thiết bị này có khuynh hướng phát triển sau:
+Áp dụng rộng rãi các bộ cảm biến để kiểm tra điện từ, cơ khí, công nghệ,
chất lượng các chi tiết.
+Sử dụng thông tin để chuẩn đoán và thông báo về tình trạng của thiết bị
qua hệ thống máy tính điều khiển.
-Thiết bị đo-kiểm tra bao gồm: bộ cảm biến điện từ, bộ cảm biến cho
các biến đổi cơ khí, các bộ cảm biến các biến công nghệ, thiết bị bảo vệ và
đảo mạch.

3


Chương I.
Các vấn đề chung về nguyên lý xây dựng,cấu trúc các hệ thống truyền
động tự động hiện đại điều khiển các tổ hợp công nghệ.
I. Cấu trúc tổ hợp công nghệ tự động hóa tiêu biểu.
Bất kỳ tổ hợp công nghệ hiện đại nào cũng được nhìn nhận như tổ hợp công
nghệ tự động hóa, cùng với quá trình công nghệ tổ hợp công nghệ tự động
hóa làm việc theo chương trình cài đặt nó thực hiện các công việc sau:
+Kiểm tra và điều chỉnh các chỉ số chất lượng về điện từ, cơ khí, và các
tham số công nghệ của sản phẩm có sẵn.
+Tối ưu hóa các chỉ số chung về chất lượng làm việc làm việc của tổ hợp
công nghệ tự động hóa một cách tự động.

ngắt động cơ khỏi nguồn nuôi.
Bảo vệ động cơ khỏi bị quá tải. Bảo vệ dòng, chống lại sự tăng của dòng
điện sẽ giữ động cơ khỏi bị quá tải. Cách bảo vệ như vậy được thực hiện bởi
các rơ le điện cơ, rơ le bán dẫn hoặc rơ le nhiệt. Thiết bị bảo vệ động cơ khỏi
bị quá tải cần phải làm việc ngay khi mới bị quá tải. Do vậy nó có độ trễ về
thời gian và có thể tác động đên việc ngắt tín hiệu hoặc phân tải động
cơ.Bảo vệ động cơ khỏi quá tải được thiết lập khi có tải công nghệ,hoặc kéo
dài thời gian khởi động hoặc tự khởi động khi điện áp thấp,việc bảo vệ quá
tải được thực hiện nhờ role điện từ(role KA4 và role thời gian KT trên hình
1.3a,khi mất 1 pha thì việc bảo vệ ngắt động cơ được thực hiện ở 2 pha còn
lại

5


b. Hệ truyền động điện không điều chỉnh với khởi động có điều khiển
Các HTĐĐ này được áp dụng khi sử dụng ĐCDB có công suất lớn và trung
bình cũng như khi sử dụng động cơ dòng một chiều. Các phương án của sơ
đồ ro le – công tắc tơ điều khiển các HTĐĐ như vậy sẽ được xem xét ở [29].
c. Hệ truyền động điện có điều chỉnh.
Các hệ thống khởi động HTĐĐ có điều khiển, có thể thực hiện chức năng
điều chỉnh tốc độ từ từ hoặc theo bậc trong dải giới hạn. Tuy nhiên các hệ
truyền động này có chỉ số năng lượng thấp do tổn thất điện năng lớn. Có thể
sử dụng chúng để giảm nhanh tốc độ của các giá trị nhất định và loại bỏ
chúng khi điều chỉnh từ từ tốc độ trong dải rộng.
2. Mạng năng lượng
a. Nguồn và mạng cung cấp điện của hệ thống truyền động điện
Trong trường hợp chung mạng năng lượng liên quan đến các nguồn cung
cấp điện,nhiệt và khí.Các nguồn cung cấp này đảm bảo năng lượng cho thiết
bị công nghệ,mạng ngưng tụ hơi của hệ thống tổ máy sấy là mạng cung cấp



loạt san phẩm, phá hỏng quá trình công nghệ phức tạp. Từ thành phần các
thiết bị tiêu thụ điện hạng I, người ta tách riêng nhóm thiết bị tiêu thụ đặc
biệt. Việc đảm bảo cho nhóm này làm việc liên tục là cần thiết nhằm đảm
bảo an toàn cho sản xuất và phòng ngừa được các thiệt hại có thể như đã nêu
trên.
Thiết bị tiêu thụ hạng II gồm các thiết bị mà khi cấp điện đứt quãng sẽ giữ
chậm hàng loạt sản phẩm xuất xưởng và làm máy móc đang hoạt động phải
dừng hàng loạt.
Các thiết bị tiêu thụ điện còn lại thuộc hạng III.
c. Chỉ số chất lượng điện năng
Tiêu chuẩn quốc gia của Nga đã thiết lạp các chỉ số và tiêu chuẩn chất lượng
của điện năng trong mạng điện của hệ thống cung cấp điện chung với điện
áp xoay chiều một pha và ba pha, tần số 50Hz tại các điểm mà mạng điện
được nối đến đó.
d. Tiết kiệm năng lượng bằng các thiết bị của HTĐĐ
Hơn 60% điện năng trên thế giưới được tiêu thụ bởi các HTĐĐ. Do vậy vấn
đề tiết kiệm điện năng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đặc biệt khi giá
điện tăng, giá thành các sản phẩm được làm ra bới các tổ hợp công nghệ sẽ
tăng theo. Điều đó rất bất lợi cho việc cạnh tranh trên thị trường.
Các phương pháp cơ bản tiết kiệm điện năng trong HTĐĐ tự động hóa của
các tổ hợp và tổ máy công nghệ là:
Sử dụng HTĐĐ có điều chỉnh thay vì các HTĐĐ không điều chỉnh. Nhờ đó
khi thay đổi chế độ làm việc của thiết bị công nghệ và tính chất cơ lý của vật
liệu gia công, có khả năng thiết lập được các điều kiện tối ưu về tiêu hao
điện năng để xử lý vật liệu.
Quá độ điều chỉnh áp suất và lượng tiêu hao nước của tổ máy bơm nhờ
HTĐĐ có điều chỉnh thay vì điều chỉnh cuộn cảm sẽ loại trừ được sự thất
thoát áp lực và tiết kiệm điện khoảng 30%.

thông tin được chế tạo với các thanh lắp ráp (rãnh) thuộc các dạng sau: ISA,
PCMCIA, PCI. Tốc độ phát dữ liệu ở các bộ xử lý thông tin từ 9.6 kbit/s đến
12Mbits/s đối với các mạng ở mức trung bình và từ 10 đến 100 Mbits/s đối
với các mạng ở mức trên.
4. Chế độ làm việc của thiết bị công nghệ và hệ truyền động điện
Người ta luôn cố gắng để quá trình công nghệ bất kỳ, có liên quan đến sản
xuất vật liệu và sản phẩm, có thể làm việc liên tục và đạt được hiệu quả kinh
tế cao nhất. Thực tế nhiều tổ hợp công nghệ và các tổ máy có thể làm việc
liên tục thời gian dài (chẳng han như máy xeo giấy các tông, máy cán nguội,
băng tải v.v). Có các tổ máy và cơ cấu làm việc trong chế độ chu kỳ với sự
thay đổi tải và tốc độ. Các tổ máy và cơ cấu như vậy được gọi là các tổ máy
và cơ cấu hoạt động theo chu kỳ. Thí dụ: các loại xe nâng vận chuyển (cần
cẩu, cần cẩu giàn), máy xúc, máy gia công kim loại, máy đảo phôi công
nghiệp v.v. Các cơ cấu được chia thành cơ cấu làm theo chế độ chu kỳ và cơ
cấu làm việc tạm thời theo chế độ chu kỳ. Các cơ cấu làm việc tạm thời theo
9


chế độ chu kỳ hoạt động với các tham số thay đổi của chu kỳ (gia tốc, tốc
độ, thời gian từ chu kỳ đến chu kỳ). Còn có các cơ cấu làm việc ở chế độ
thời gian ngắn. Các cơ cấu này thường thực hiện chức năng trợ giúp.
Chế độ làm việc của các tổ hợp, tổ máy và các cơ cấu được tính toán khi lựa
chọn các HTĐĐ tự động hóa và các hệ thống điều khiển với quan điểm thực
hiện chức năng công nghệ cho trước và tương ứng với chế độ làm việc
chuẩn của động cơ.
5. Thuật toán điều khiển hệ truyền động điện,các cơ cấu,tổ máy
và tổ hợp.
a. Mô hình toán học và cấu trúc của hệ thống điều khiển.
Dựa trên các nguyên lý xây dựng các hệ thống máy tính hiện đại điều
khiển HTĐĐ của các tổ hợp và tổ máy công nghệ(trong các phương tiện kỹ



cũng như đánh giá tích phân bậc hai của sai số điều khiển và chất lượng của
quá trình công nghệ có liên quan với đánh giá đó,để dành được kết quả chắc
chắn theo đánh giá thứ 2 cần định trước kết quả chắc chắn cả theo đánh giá
thứ nhất.
c. Tách các hệ thống liên quan lẫn nhau.
Có thể chuyển phương pháp tối ưu hóa hệ thống độc lập sang hệ thống
liên quan lẫn nhau,nhưng khi đó lại phải giải đồng thời bài toán tách hệ
thống liên quan lẫn nhau.Trong trường hợp chung đối với hệ thống có m hệ
thống riêng và đảm bảo điều chỉnh m biến đầu ra,có thể nhân m*m ma trận
đánh giá các biến đang điều chỉnh.
Sự liên quan lẫn nhau của các hệ thống điều khiển riêng biệt các tổ máy
được thực hiện theo các mạch tải và điều khiển để tạo ra tốc độ chung và
tương quan tốc độ của các tổ máy,tạo tương quan tốc độ giữa các tổ máy
được thực hiện bởi bộ vi điều khiển lập trình công nghệ,các khối điều khiển
1 và 2 bao gồm tất cả các thành phần của HTĐĐ đầy đủ kể cả các bộ cảm
biến.
Việc áp dụng phương pháp tách các hệ thống và thuật toán điều khiển tiêu
biểu sẽ cho khả năng điều chỉnh thích nghi toàn bộ các hệ thống riêng biệt
và hệ thống điều khiển liên quan lẫn nhau ở các chế độ làm việc đã sắp đặt.
d. Điều khiển có sử dụng logic mờ
Các thuật toán điều khiển có sử dụng logic mờ được thực hiện trong các hệ
thống điều khiển HTĐĐ bằng phương phương pháp chương trình.Trong các
bộ vi điều khiển lập trình người ta đã chuẩn bị trước các modun và hướng
dẫn cho người sử dụng còn trong máy tính công nghiệp người ta chuẩn bị
các thiết bị chương trình với tập hợp trạng thái tiêu chuẩn.
Loogic mờ được sử dụng để thay đổi các thuật toán điều khiển truyền
thống và kết hợp cùng với chúng,ngoài ra còn áp dụng bộ điều chỉnh định
pha.Để đưa ra quyết định cần phải thêm phương pháp suy luận nhất định

Khi đó công suất truyền động thiết thiết lập của máy là 7...8 MW.
Liên quan đến các tổ máy hoàn thiện là các máy phủ ngoài máy rọc, máy cán
bóng tinh. Ở đó các công việc sửa sang lần cuối, cắt và cuốn sản phẩm và ru
lô được thực hiện. Khác với các tổ hợp sản xuất giấy-các tông, các tổ máy
hoàn thiện được đặc trưng bởi chế độ làm việc theo chu trình. Hệ quả của nó
là tốc độ tính toán của các tổ máy hoàn thiện vượt từ 1,5...2 lần tốc độ làm
việc cực đại của máy móc sản xuất giấy-các tông. Ngày nay, khuynh hướng
kết hợp các tổ hợp sản xuất giấy-các tông và các tổ máy hoàn thiện được

13


quan tâm (chẳng hạn như sáp nhập các thiết bị phủ ngoài với máy móc sản
xuất). Thiết bị liên hợp này sản xuất ra sản phẩm giấy chất lượng cao và
được dùng để in ốp xét.
Sản xuất giấy được bắt đầu từ công việc chuẩn bị nguyên vật liệu như tre,
gỗ, nứa, xen lu lô, giấy phế liệu...Sau khi qua các vị trí xử lý cần thiết,
nguyên liệu được đưa vào bể ngâm. Sau đó chúng được trộn để tạo thành
hỗn hợp cho trước. Hỗn hợp này được cô đặc và gom lại trong bể máy để từ
đó đưa vào máy bơm trộn. Ở máy bơm trộn, hỗn hợp được pha loãng bằng
nước quay vòng (đến từ van của máy sản xuất giấy) và được rửa sạch thành
bột. Sau đó bột giấy được đưa vào máy qua thiết bị rót.
Thông thường, các máy sản xuất hiện đại gồm: thiết bị rót, bàn lưới, bộ phận
ép và sấy, thiết bị cán thô và tinh. Sơ đồ công nghệ của máy sản xuất giấy
được trình bày trên hình 1.

Hình 1
Việc đưa hỗn hợp bột giấy vào lưới được đảm bảo bởi thiết bị rót. Một
trong những nhiệm vụ của nó là duy trì sự đồng nhất của bột giấy và phân bố
đều chúng theo độ rộng của máy. Ở bàn lưới bắt đầu quá trình tạo băng giấy

được bao quanh bằng đường nét đứt có thể không có trong các dạng riêng
bệt của máy in. Tên gọi của thiết bị tương ứng với quá trình công nghệ mà
nó thực hiện.

15


Hình 2

Các máy in được phân loại nguyên lý xây dựng cơ bản của chúng. Trên hình
2 trình bày sơ đồ phân loại máy in. Theo kiểu vật liệu in (băng giấy được tởi
từ ru lô, hoặc các tờ được chuyển từ ram giấy), các máy in được gọi tương
ứng là máy in ru lô hoặc máy in tờ. Theo hình thức bề mặt in riêng, các máy
in được chia thành máy in quay, máy in phẳng và máy in trục ép.
Máy in, trong đó các bộ phận in được chế tạo dưới dạng hình trụ, được gọi là
máy in quay. Máy in, trong đó bề mặt làm việc được phân bố trong mặt
phẳng, còn bề mặt quay là mặt trụ thì được gọi là máy in phẳng.
Máy in, trong đó cả hai bề mặt in đều là phẳng thì được gọi là máy in trục
ép.
Phụ thuộc vào số lượng màu nhận được ở bản in trong máy, máy in được gọi
là máy in đơn mày hoặc đa màu. Các máy in phẳng và máy in trục ép được
sản xuất dưới dạng các bộ tự động đơn màu nhằm xử lý vật liệu tờ (giấy
ram).
Các máy in quay được chế tạo hoàn toàn dưới dạng tự động để in trên giấy ở
dạng tờ hoặc băng. Trong đó các máy in đơn màu và đa màu đã dược áp
dụng rộng rãi.
16


Máy in đa màu, được tập hợp từ các bộ phận in đơn màu cùng loại, được gọi

hình xuyến nhờ các máy bơm. Áp suất trong các đường ống dẫn này được
điều chỉnh bởi tốc độ HTĐĐ của các máy bơm. Nhờ các máy bơm trộn đầu
tiên, bột giấy các tông được đưa từ các đường ống hình xuyến qua van
chuyển dòng đến áy làm sạch hình nón tạo dòng xoáy. Ở đây các hạt nặng sẽ
18


bị văng ra từ bột giấy dưới tác dụng của bột ly tâm. Sau khi được làm sạch,
bột các tông được đưa vào máy bơm trộn thứ hai, nơi mà bột các tông đặc sẽ
được trộn thêm nước để đạt được độ đậm đặc cho trước. Nước đưa đến các
máy bơm trộn được lấy từ dự trữ nước phân mạng. Dòng chảy bột các tông
được điều chỉnh trước các máy bơm trộn đầu tiên nhờ các van 11. Ở đầu ra
của các máy bơm trộn thứ hai, bột giấy các tông có thể phải trải qua một lần
làm sạch nữa bằng cách cho đi qua thiết bị sàng. Tiếp theo, bột các tông
được đưa đến các bộ phân phối dòng của bộ định dạng.
Bộ phận lưới 2 của máy gồm có tám bộ định dạng. Tham gia vào bộ định
dạng có tám thiết bị rót. Việc tạo ra các lớp các tông thành phần được thực
hiện trên bề mặt của bộ định dạng và được hạn chế bởi mép bất động dưới.
Quá trình đúc lớp các tông theo khuôn và khử nước được thực hiện trong
chân không(được tạo bởi buồng hút đặt trong bộ định dạng). Lớp các tông
thành phần mới hình thành (dính với tấm nỉ di động bóc ra được) được đưa
vào dưới trục ly tâm. Máy ly tâm được dùng để khử nước ở băng các tông
mới được tạo ra, gỡ tấm nỉ của các lớp các tông thành phần và liên kết chúng
thành cuộn các tông. Chân không trong các vùng hút của bộ định dạng và
dao nạo hút được tạo ra bởi hai quạt chân không. Hệ thống chân không bộ
phận ép của máy gồm bảy máy hút chân không.
Việc khử nước tiếp theo của băng các tông và nâng cao chất lượng bề mặt
của nó được tiến hành trong bộ phận ép 3. Bộ phận ép này được tạo từ máy
ép quay, máy ép hai trục hút, máy ép liên hợp ba trục, máy ép có trục rãnh
và máy ép Nipko.

nước còn sót lại sau khi băng các tông đi qua máy ép dán. Việc sấy các tông
được tiến hành bằng cách nâng cao từ từ bề mặt ống trụ. Để thực hiện điều
đó, toàn bộ bộ phận sấy được chia theo cặp thành năm nhóm, trong đó ba
nhóm tạo thành bộ sấy sơ bộ và hai nhóm tạo thành bộ sấy bổ xung. Hơi
nước đi theo đường ống dẫn từ phân xưởng nồi xúp de và được phân bố giữa
năm nhóm với tương quan cho trước. Nhóm thứ ba, bốn, năm có trang bị các
ống trụ trên và dưới riêng biệt với mục đích cân bằng độ ẩm các lớp các tông
trên và dưới. Trong các ống trụ sấy số lượng hơi cần thiết được ngưng tụ để
sấy các tông.Sự ngưng tụ được tạo ra và lượng hơi cần thiết để khử nước
được dẫn qua xi phông theo ống dẫn đặt sẵn đến thiết bị tách tương ứng. Để
điều chỉnh áp suất hơi trong nhóm sấy, người ta sử dụng các van điện từ 11
và máy nén nhiệt.
Trong các bộ phận 2...8 của máy có 27 điểm truyền dẫn lực. Công suất của
HTĐĐ từ 37KW (đối với trục ép dán) đến 200KW ở máy cán láng và trục
trung tâm của máy ép ba trục cán. Công suất HTĐĐ của các máy bơm và
van trong các bộ phận 1,9,10 của máy nằm trong giới hạn từ 0,5 đến 90KW.
Nguồn nuôi của các HTĐĐ công suất được thực hiện từ hai biến thế công
20


suất loại 1600KV.A. Hai biến thế này biến đổi điện áp từ 6KV thành 380V.
Hệ thống truyền động điện nhiều động cơ được thực hiện tương ứng với ý
tưởng hệ thống phân bố ACS 600 MultiDrive.
Đường trục năng lượng của tổ hợp bao gồm các biến thế nguồn, các bộ
chỉnh lưu không điều khiển với bộ lọc 13, các bộ đảo điện áp tự động 12. Hệ
thống phân bố điều khiển gồm: các bộ điều khiển điều khiển các nhóm
truyền động điện 14, các bộ điều khiển công nghệ 15 và 16, các trạm thao
tác 17.

Phương tiện máy tính tự động hóa

tin đặc biệt. Để đảm bảo độ chính xác đo ổn định, bộ điều khiển tự động đưa
các cảm biến ra mép của băng các tông và diều khiển việc tiêu chuẩn hóa.
22


Trong chế độ quét liên tục, máy quét thu thập thông tin về mặt cắt dọc và
ngang của băng các tông về khói lượng đọ ảm và độ dày.
Trong hệ thóng,người ta sử dụng hay máy in: máy in phun màu để in khung;
máy in khuôn
(được nối với trạm thao tác ở trục cuộn) để in văn bản.
Thông tin từ bộ điều khiển công nghệ đến trạm thao tác (và ngược lại) được
truyền theo đương bus hệ thống. Tổ chức mạng của hệ thông cho phép đưa
thông tin từ bộ điều khiển công nghệ bất kỳ (được nối mạng) đến trạm thao
tác.
Đường bus mạng được dùng để nối máy in mạng và đảm bảo khả năng đấu
nối đến các mạng diều khiển, tính toán khác v.v…
Đảm bảo chương trình của hệ thống bao gồm các mô đun chương trình điều
khiển sau: Khối lượng bột hồ của 1m² băng các tông dọc theo máy; độ ẩm
các băng tông dọc theo máy; sấy băng các tông phù hợp; thay đổi tốc độ phù
hợp của máy; tám thước chép hình; đưa bột hồ theo lớp; độ đâm đặc của bột
hồ ; điều chỉnh cục bộ. Hệ thống được chia làm 2 bộ phận: DCS ( Digital
Control System) – hệ thống điều khiển cục bộ số và QCS ( Quality Control
System) – hệ thống điều khiển chất lượng. Bộ phận thứ nhất thực hiện các
chức năng sau: kiểm tra tình trạng thiết bị trước khi khởi động; khởi động và
dừng thiết bị ( các thiết bị chấp hành cục bộ- HTĐĐ, máy bơm, van); kiểm
tra tình trạng thiết bị trong quá trình thực hiện chức năng làm việc. Bộ phận
thứ hai có các nhiệm vụ: điều chỉnh nhiệt độ và áp suất hơi của nhóm sấy,
các biến công nghệ ( độ ẩm và khối lượng bột hồ của 1m² băng các tông);
đưa bột hồ theo các lớp, điều khiển độ đạm đặc của bột hồ, tối ưu hóa quá
trình trong chế độ thực hiện chức năng làm việc một cách tự động.

các mạch điều khiển cục bộ) và kết hợp nhưng trị số quy định này với tính
toán sự khác nhau cuat độ trễ vận chuyển và tính chất động học của các
mạch. Điều đó cũng giúp cho chất lượng của các tông ổn định hơn khi thay
đổi tốc độ máy móc.
Hệ thống điều khiển dưỡng dẫn hướng sẽ điều chỉnh tương quan dòng/ mạng
ở từng dưỡng dẫn hướng để đảm bảo tính chất cơ học của các tông khi thay
đổi thứ hạng và tăng tốc độ máy móc.
Hệ thống điều khiển đưa bột hồ theo các lớp được dùng đề đảm bảo dưa bột
hồ đặc đến các máy bơm trộn sao cho: duy trì được độ tiêu hao bột hồ tổng
cho trước; khi thay đổi tiêu hao bột hồ ở một trong các dưỡng dẫn hướng của
trạm thao tác, thì lượng tiêu hao tổng bột vẫn giữ nguyên không thay đổi; bù
trừ được sai số đậm đặc của bột hồ khi được đưa đến. Khi đưa vào trị số quy

24


định mới từ các mức điều khiển trên, hệ thông điều khiển đưa bột hồ sẽ phân
bố ngaysụ thay đổi trị số quy định ở các dướng dẫn nhất định. Các dưỡng
đẫn hướng này được xác định bởi tạm thao tác.
Hệ thống điều khiển bù trừ liên tiếp độ đậm của bột hộ đươc dùng đều chỉnh
các trị số của các con cảm biến độ đậm đặc theo kết quả phân tích thí
nghiệm cũng như lọc bổ xung các giá trị độ đậm đặc trước khi truyền dữ liệu
vào hệ thống điều khiển đưa bột hồ.
Hệ thống điều chỉnh cục bộ được dùng để xây dựng các mạch cục bộ điều
chỉnh tham số của quá trình công nghệ. Trên cơ sở đó sẽ điều chỉnh số trực
tiếp các tham số của hệ thống ngưng hơI, hệ thống điều khiển độ đậm đặc
của bột hồ và hệ thống mức dưới điều khiển phần máy móc ướt.
Điều khiển quá trình được thực hiện từ các trạm thao tác. Thành phần của
các trạm này gồm: màn hình, bàn phím đặc biệt và chuột. Trên màn hình
hiển thị đầy đủ thông tin của quá trình dưới dạng ảnh chức năng. Nhờ hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status