Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
MỤC LỤC
NỘI DUNG
TRANG
I. PHẦN MỞ ĐẦU
3
1. Lý do chọ đề tài
3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
4
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Phạm vi nghiên cứu
4
5. Phương pháp nghiên cứu
4
II. PHẦN NỘI DUNG
3. Giải pháp, biện pháp
10
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
10
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
11
3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
24
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
24
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
24
nghiên cứu
Trường TH Lý Tự Trọng
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Từ năm học 1995 – 1996 môn Tự nhiên và Xã hội được chính thức đưa
vào dạy đại trà ở tiểu học. Đây là môn học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và
phát triển các môn học trước nó như “Khoa học thường thức”, “Tìm hiểu khoa
học”, “Tìm hiểu tự nhiên và xã hội”. Từ sau năm 2000 môn Tự nhiên và Xã hội
được cấu trúc lại thành các môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2,3), Khoa học, Lịch
sử và Địa lí (lớp 4,5). Các môn học này được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện từ các
chủ đề và phân môn của môn Tự nhiên và xã hội và môn Sức khỏe trước đây.
Đây là môn học có vị trí quan trọng giúp học sinh lĩnh hội những tri thức ban
đầu và thiết thực về con người, tự nhiên và xã hội xung quanh. Từ đó giúp các
em phát triển khả năng quan sát, năng lực tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học
và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Góp phần hình thành và phát triển
nhân cách cho học sinh.
Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục, cùng với các môn học khác Tự
nhiên và Xã hội là một môn học có nhiều sự đổi mới. Thế nhưng hiện nay có
một bộ phận giáo viên chưa thật sự hiểu hết ý nghĩa, tầm quan trọng của môn Tự
nhiên và Xã hội, việc đổi mới phương pháp dạy học môn học này nên chưa thật
sự từ bỏ thói quen dạy theo kiểu truyền đạt kiến thức sách vở theo lối học thụ
động, một chiều. Vậy một giờ học Tự nhiên và Xã hội ở lớp 2 được tiến hành ra
sao để có hiệu quả ?
Mặc dù tất cả giáo viên của trường tôi đều tích cực đổi mới phương pháp
dạy học nhưng ở đâu đó vẫn còn tình trạng giờ học Tự nhiên và Xã hội vẫn diễn
ra tẻ nhạt, trầm lắng với các hoạt động quen thuộc, nhàm chán, rất dễ làm các
em mệt mỏi. Điều đó đòi hỏi giáo viên cần có sự thay đổi linh hoạt các hình thức
tổ chức dạy học.
Từ trước đến nay đã có nhiều đồng nghiệp quan tâm và nghiên cứu về vấn
đề dạy và học môn Tự nhiên và Xã hội. Nhưng ở đơn vị tôi chưa có ai nghiên
cứu về vấn đề này. Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào việc
Trường TH Lý Tự Trọng
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp trò chơi
Trường TH Lý Tự Trọng
4
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Tại hội nghị trung ương lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định rằng : “Đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế”. Trong xu thế đổi mới của nền giáo dục nước nhà, Giáo dục Tiểu
học đang tạo ra những bước chuyển dịch định hướng có giá trị. Những năm gần
đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được thực hiện ở tất cả các trường
tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp học sinh tiếp cận với tri thức
mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống “thầy giảng trò nghe, thầy đọc trò
chép”. Theo quan điểm dạy học mới, dạy học là quá trình học sinh tự khám phá,
tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn Tự nhiên và Xã hội cũng không nằm
ngoài định hướng đó.
Tự nhiên và xã hội là một môn học mang tính tích hợp cao. Tính tích hợp
ấy được thể hiện ở chỗ : Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội xem xét tự
tôi hoàn thành đề tài này.
- Giáo viên có điều kiện để tham khảo các tài liệu trên internet, sách báo
có liên quan, tự học để nâng cao tay nghề và góp phần làm cho bài giảng thêm
phong phú, sinh động hơn.
- Chương trình môn Tự nhiên và xã hội lớp 2 theo mô hình trường học
mới Việt Nam gọi tắt là VNEN được phân chia theo ba chủ đề: con người và sức
khỏe; xã hội; tự nhiên. Các bài học trong từng chủ đề được các nhà biên soạn
sắp xếp thành một hệ thống và rất khoa học, kênh hình phong phú, kênh chữ rõ
ràng, màu sắc đẹp. Phần nội dung cần thiết ngắn gọn, dễ nhớ.
- Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen dần
với việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa
hoạt động học của học sinh.
* Khó khăn
- Mỗi bài học được tích hợp nhiều nội dung, nội dung bài khá dài và dàn
trải (mỗi bài từ 2 đến 3 tiết).
Trường TH Lý Tự Trọng
6
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
- Một số giáo viên và cả học sinh chỉ chú trọng vào hai môn Toán và
Tiếng Việt nên không đầu tư vào chất lượng dạy và học cho môn Tự nhiên và
Xã hội, dẫn đến tình trạng giáo viên chỉ dạy qua loa, còn học sinh học hời hợt,
học chỉ để hoàn thành chương trình.
- Khả năng tập trung chú ý của học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế, kĩ năng quan
sát, tưởng tượng còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm, máy móc. Tinh
thần hợp tác học chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em
Bản thân tôi đã có ba năm dạy lớp 2 nên cũng có chút ít kinh nghiệm khi
dạy môn Tự nhiên và Xã hội.
Một số học sinh đã biết cách làm việc, khai thác sách giáo khoa, đồ dùng
dạy học, bước đầu các em đã có một số kĩ năng như quan sát và sắp xếp, phân
tích tranh, ảnh; đọc, hệ thống hóa.
Từ đó giúp các em ham thích học môn Tự nhiên và xã hội hơn, thích tìm
tòi, khám phá về Tự nhiên và xã hội. Môn học này đã khơi gợi ở các em tính tò
mò, thích tìm hiểu về tự nhiên, con người, xã hội. Từ đó các em biết được những
điều kì diệu trong cuộc sống, giúp các em thêm yêu cuộc sống và sống có trách
nhiệm hơn.
* Mặt yếu
Tài liệu Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội là sách “ba trong một”
nó vừa là sách giáo viên vừa là sách học sinh, vừa là sách bài tập nên giáo viên
không có sách hướng dẫn để làm cơ sở định hướng cho tiết dạy.
Những kiến thức về tự nhiên, xã hội thực sự quá rộng, có những điều mà
con người cũng chưa thể giải thích được. Một số kiến thức khá trừu tượng đối
với nhận thức của học sinh lớp 2 vì vậy các em không thể hiểu hết được.
2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp quản lí giáo dục, sự giúp đỡ nhiệt
tình của chị em trong tổ 2.
Sự nhiệt huyết của một giáo viên trẻ cùng với tinh thần không ngừng học hỏi
của bản thân.
Sự đồng lòng hưởng ứng cách dạy học mới từ phía phụ huynh, sự quan tâm của
gia đình các em, sự phối hợp giáo dục của ba lực lượng nhà trường - gia đình - xã hội
giúp cho việc dạy học mang lại kết quả khả quan hơn.
Trường TH Lý Tự Trọng
8
sinh phải chuyển đổi từ cách truyền thụ một chiều của giáo viên (thầy giảng trò nghe,
thầy đọc trò chép) sang dạy học hợp tác (dạy học theo nhóm, học sinh chủ động học
Trường TH Lý Tự Trọng
9
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
tập, tự khám phá chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên là người hướng dẫn, gợi mở để học
sinh nắm được kiến thức). Việc học hợp tác rèn cho các em các kĩ năng như kĩ năng
làm việc, trao đổi trong nhóm, trong lớp; kĩ năng giao tiếp, tương tác giữa học sinh với
học sinh, học sinh với giáo viên.
Sách Hướng dẫn học môn Tự nhiên và Xã hội vừa là sách dùng cho học sinh
vừa là sách dùng cho giáo viên, đồng thời cũng là sách bài tập. Sự kết hợp ba trong
một này vừa tiện lợi nhưng cũng gây khó khăn cho giáo viên vì không có sách thiết kế
bài giảng hay sách giáo viên để làm cơ sở cho việc dạy học. Nội dung bài dài thường
từ 2 đến 3 tiết.
Chẳng hạn như bài : Cây sống ở đâu ? được dạy trong 3 tiết. Đây là sự tích hợp
nội dung của 3 bài học trong sách giáo khoa Tự nhiên và Xã hội của chương trình
hiện hành. Đối với bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu về môi trường
sống của cây, nhận biết được một số loài cây sống trên cạn, một số loài cây sống dưới
nước, ích lợi của những loài cây đó.
Học sinh phải đọc hiểu tốt mới tự học theo các câu lệnh trong sách nhưng trong
thực tế ở lớp 2 một số em đọc hiểu còn chậm vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ bài học.
Mặt khác các kĩ năng như giao tiếp, hợp tác, lãnh đạo, giải quyết vấn đề của một số
em còn rất hạn chế nhất là các em người dân tộc thiểu số các em rất rụt rè trong giao
tiếp. Mặt khác môn học Tự nhiên và Xã hội chỉ được học 1 tiết/tuần mà đối với học
sinh tiểu học các em nhanh nhớ nhưng cũng nhanh quên cho nên nhiều nội dung các
Hoạt động cả lớp
Hoạt động với cộng đồng
Kênh chữ chủ yếu là các câu hỏi, các lệnh yêu cầu học sinh làm việc,
cung cấp kiến thức của bài học.
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 theo mô hình trường học mới
Việt Nam (VNEN) gồm 14 bài và 3 phiếu kiểm tra tương ứng với 35 tiết, được
phân phối theo 3 chủ đề: Con người và sức khoẻ; Xã hội; Tự nhiên.
Chủ đề: Con người và sức khoẻ (gồm 5 bài) :
Bài 1: Vì sao chúng ta vận động được ?
Trường TH Lý Tự Trọng
11
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Bài 2: Làm gì để xương và cơ phát triển ?
Bài 3: Thức ăn được tiêu hóa như thế nào ?
Bài 4: Ăn uống thế nào để cơ thể khỏe mạnh ?
Bài 5: Vì sao chúng ta phải ăn uống sạch sẽ ?
Phiểu kiểm tra 1.
Chủ đề xã hội (gồm 6 bài)
Bài 6: Gia đình thân yêu của em
Bài 7: Em cần làm gì khi ở nhà ?
Bài 8: Trường học của chúng em
Bài 9: Làm gì để trường học sạch sẽ và an toàn ?
Bài 10: An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông.
*Biện pháp 2: Giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kĩ năng quan sát
Quan sát là phương pháp sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có
mục đích các đối tượng tự nhiên và xã hội mà không có sự can thiệp vào quá
trình diễn biến các hiện tượng hoặc sự vật nào đó.
Phương pháp quan sát là phương pháp đặc trưng để dạy môn Tự nhiên và
xã hội. Sách Hướng dẫn học môn Tự nhiên và xã hội có rất nhiều tranh, ảnh
giúp học sinh quan sát để biết được hình dạng, đặc điểm bên ngoài của cơ thể
người, của một số cây xanh, con vật hoặc nhận biết các hiện tượng diễn ra trong
tự nhiên, trong cuộc sống.
Thông thường khi hướng dẫn học sinh quan sát, tôi thường tiến hành theo
4 bước sau :
- Lựa chọn đối tượng quan sát : trong mỗi tiết học, bài học giáo viên cần
xác định lượng kiến thức cần đạt, từ đó xác định đối tượng để khai thác lượng
kiến thức đó. Đối tượng quan sát có thể là tranh ảnh, mô hình, vật thật, nên tối
đa lựa chọn vật thật cho học sinh quan sát. Khi không có điều kiện để chuẩn bị
vật thật thì mới cho học sinh quan sát mô hình, tranh ảnh. Đối tượng quan sát
phải rõ ràng, đủ lớn, đảm bảo tính sư phạm, tính thẩm mĩ thì mới có thể giúp
học sinh tri giác đúng về sự vật, hiện tượng.
- Xác định mục đích quan sát : khi đã lựa chọn được đối tượng quan sát,
giáo viên phải xác định cho học sinh quan sát để đạt mục đích gì, cần hướng học
sinh quan sát bộ phận, đặc điểm của đối tượng, tránh quan sát lan man.
Trường TH Lý Tự Trọng
13
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
- Tổ chức và hướng dẫn học sinh quan sát : giáo viên cần hướng dẫn, tổ
* Biện pháp 3: Tăng cường sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi học tập là hoạt động vui chơi nằm trong chương trình dạy học để
thực hiện mục tiêu, yêu cầu nào đó của tiết học, kiến thức nào đó của bộ môn.
Trò chơi học tập giúp học sinh rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời phát triển
vốn kinh nghiệm mà các em thu được thông qua hoạt động trò chơi. Đồng thời
qua trò chơi học tập học sinh được rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thúc đẩy trí tuệ làm
cơ hội hoạt động của các em đa dạng và phong phú. Qua hoạt động trò chơi các
em biết kiềm chế, tự hoạt động, tham gia một cách tích cực. Bên cạnh đó, giáo
dục cho học sinh một số năng lực : tư duy, giao tiếp, hoà đồng, làm việc với tập
thể…Khi tham gia trò chơi học tập, học sinh có những phản ứng tâm lý như
sau : hăng say, chơi hết mình trong trò chơi; dễ dàng bỏ qua những sai phạm của
Trường TH Lý Tự Trọng
15
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
người khác; tôn trọng kỉ luật, có tính tập thể; giúp đỡ, nâng đỡ đồng đội; tích
cực hoạt động, sẵn sàng vì danh dự của đội mình, nhóm mình. Khi tổ chức trò
chơi giáo viên cần lưu ý: Trò chơi phải có mục đích học tập, không đơn thuần là
trò chơi giải trí. Trò chơi phải đơn giản, dễ thực hiện; thu hút được đa số học
sinh tham gia; không tốn nhiều thời gian, sức lực để không làm ảnh hưởng đến
các tiết học tiếp theo. Trò chơi phải được chuẩn bị tốt về điều kiện, phương tiện,
phải có kế hoạch thực hiện như một bài soạn.
* Một trò chơi phải có tên gọi và được thiết kế theo các nội dung sau:
+ Mục đích của trò chơi : Trò chơi dùng để củng cố kiến thức, kĩ năng nào ?
+ Đồ dùng và người chơi : Phương tiện của trò chơi là gì ? Mô hình của
trò chơi ra sao ? Bao nhiêu người chơi là đủ ?
và xã hội lớp 2 :
* Trò chơi “Ghép chữ vào hình”
Hình thành và củng cố kiến thức ở các chủ điểm Con người và sức khỏe, xã
hội và Tự nhiên. Trò chơi này thường được áp dụng vào các bài 1,3,9,13,14.
Chuẩn bị : tranh câm vẽ nội dung các bài
Các thẻ chữ ghi nội dung phù hợp với tranh.
* Cách tiến hành: Các nhóm, đội nhận bộ tranh câm và các thẻ chữ; sau
đó gắn thẻ chữ với nội dung tranh cho phù hợp. Sau khi hoàn thành các nhóm có
thể gắn sản phẩm của đội, nhóm mình lên bảng hoặc để tại chỗ làm việc của
nhóm mình và báo cáo kết quả với giáo viên.
Ví dụ: khi dạy bài : Thức ăn được tiêu hóa như thế nào? Tôi sử dụng trò chơi
này giúp học sinh nhận biết và nhớ được vị trí các bộ phận của cơ quan tiêu hóa.
Sơ đồ có quan tiêu hóa
Trường TH Lý Tự Trọng
17
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Sau khi ghép chữ vào hình học sinh sẽ nói được các bộ phận, vị trí của cơ
quan tiêu hóa, đường đi của thức ăn trong ống tiêu hóa.
* Trò chơi “Đi chợ”
Học sinh nói được cần phải ăn uống như thế nào để có sức khỏe tốt, biết
được những thức ăn giúp các em khỏe mạnh, mau lớn. Từ đó các em có ý thức
tự giác trong việc ăn uống và giữ vệ sinh khi ăn uống.
Trò chơi này tôi vận dụng khi dạy bài 4 trong chủ điểm Con người và sức
sống ở đâu. Tiếp đó, học sinh 2 ở nhóm B nói trước thì học sinh 2 của nhóm A
Trường TH Lý Tự Trọng
18
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
nói sau sao cho phù hợp. Học sinh chơi như vậy cho đến hết hàng. Nhóm nào có
nhiều câu trả lời đúng hơn thì nhóm đó thắng cuộc.
* Trò chơi “Biển báo nói gì”
Trò chơi này thường được sử dụng khi dạy các bài học liên quan đến an
toàn giao thông nhằm củng cố kiến thức về một số biển báo giao thông.
Trò chơi này tôi áp dụng để dạy bài 10: An toàn khi đi trên các phương
tiện giao thông.
Khi dạy bài này tôi chuẩn bị: bộ bìa gồm 12 tấm bìa nhỏ 6 tấm vẽ biển
báo, 6 tấm viết tên biển báo. Tôi chọn ngẫu nhiên 12 học sinh để tham gia trò
chơi, phát cho mỗi học sinh một tấm bìa, giáo viên hoặc quản trò hô “biển báo
nói gì” học sinh có tấm bìa vẽ biển báo và học sinh có tấm bìa viêt chữ phải tìm
đến nhau, cặp nào tìm đến nhau nhanh nhất và đúng thì cặp đó được khen.
* Trò chơi “Chim bay cò bay”
Tạo cho học sinh không khí thoải mái trước khi vào bài học
Trường TH Lý Tự Trọng
19
Ví dụ: Khi dạy bài 14 : “Bầu trời ban ngày và ban đêm” tôi đưa ra câu đố:
“Hai anh cùng ở một hàng
Trường TH Lý Tự Trọng
20
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Thế mà mặt đỏ, mặt vàng khác nhau
Lững lờ đi trước về sau
Hàng năm họa có gặp nhau đôi lần”
(Là gì ? Đáp án: Mặt trời, mặt trăng)
Tiếp đó tôi dẫn dắt vào bài: Mặt trời, mặt trăng là hai hành tinh. Độ lớn
của hai hành tinh này chênh lệch nhau như thế nào? So với trái đất lớn, nhỏ ra
sao? Chúng ta cùng tìm hiểu qua bài 14 : “Bầu trời ban ngày và ban đêm”.
Khi dạy học, tôi lựa chọn thời điểm thích hợp để tổ chức trò chơi cho phù
hợp, đúng lúc tạo hứng thú cho học sinh.
Để củng cố kiến thức của bài 13: Loài vật sống ở đâu ? Tôi tổ chức cho
học sinh chơi trò chơi giải câu đố để củng cố kiến thức của bài
“Cá gì đủ chữ, xứng câu?”
(Đố cá gì ? Đáp án : cá đối)
“ Chim gì biểu tượng hòa bình
Cả nhân loại lẫn chúng mình đều yêu”
(Đố chim gì ? Đáp án : chim bồ câu)
“ Khen ai dạ sáng như đèn
Tối trời như mực biết bạn quen mà mừng”
(Đố con gì ? Đáp án : con chó)
“Vừa bằng hạt thóc biết bay
- Nhóm tương trợ: xếp những học sinh có trình độ và năng lực khác nhau
vào một nhóm, để học sinh năng khiếu có thể hỗ trợ cho học sinh có khả năng
học tập còn hạn chế.
- Nhóm theo trình độ: những học sinh cùng năng lực và trình độ sẽ ngồi
một nhóm.
- Nhóm cùng tháng sinh: những em có cùng tháng sinh nhật ngồi vào một
nhóm.
Theo kinh nghiệm của tôi thì nhóm cặp và nhóm tương trợ được sử dụng
nhiều nhất, không tốn thời gian chia nhóm và thường mang lại hiệu quả cao.
Trường TH Lý Tự Trọng
22
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2.
Chẳng hạn khi dạy bài 10: An toàn khi đi trên các phương tiện giao thông.
Tôi chọn kiểu nhóm tương trợ, mỗi nhóm 4 học sinh. Các em sẽ thảo luận làm
việc và hoàn thành phiếu học tập sau :
Viết tiếp vào chỗ … các phương tiện giao thông tương ứng:
a) Đường bộ : ………………………………………………………………
b) Đường sắt : ……………………………………………………………...
c) Đường thủy : …………………………………………………………….
d) Đường hàng không : …………………………………………………….
Tôi đến từng nhóm để kiểm tra. Sau khi các em hoàn thành tôi cho các
nhóm báo cáo kết quả.
Biện pháp 4: Sử dụng đồ dùng dạy học trực quan
Đồ dùng trực quan là những thiết bị dạy học dạy học sẵn có hoặc do giáo
3.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện dạy học môn Tự nhiên và xã hội đạt hiệu quả cần có một số
điều kiện sau :
Giáo viên và học sinh phải nhìn nhận đúng vai trò của môn Tự nhiên và
xã hội, từ đó thay đổi cách dạy, cách học đối với phân bộ môn này.
Việc giao nhiệm vụ của giáo viên phải rõ ràng, cụ thể, chặt chẽ và cần có
sự chuẩn bị chu đáo về phương tiện, đề tài làm việc.
Học sinh cần tích cực sưu tầm tranh ảnh, vật thật phục vụ việc học môn
Tự nhiên và xã hội đạt hiệu quả hơn.
Phát huy tốt vai trò của việc dạy học theo nhóm, phát huy tính tích cực
chủ động của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp mà tôi nêu ra trong đề tài có mối quan hệ gắn bó
mật thiết với nhau và không thể tách rời nhau. Giải pháp thứ nhất là tiền đề, là
cơ sở để giáo viên và học sinh có thể tiến hành dạy học môn Tự nhiên và xã hội,
các giải pháp sau giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học môn học này.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
* Kết quả khảo nghiệm
Sau một năm áp dụng đề tài vào thực tế dạy học tôi thấy học sinh hào
hứng, phấn khởi khi đến giờ học môn Tự nhiên và xã hội, các em đã thay đổi
cách suy nghĩ về môn học này, đây không còn là một phân môn nhàm chán
như trước nữa.
* Giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Trường TH Lý Tự Trọng
24
GV: Phạm Thị Thúy Lan
Tự nhiên và xã hội là một môn học mang trong mình nhiều kiến thức thực
tế hết sức phong phú và gần gũi về thế giới Tự nhiên, xã hội, con người. Vì vậy
để nâng cao chất lượng dạy học môn học này cần bồi dưỡng kiến thức thực tế
cho giáo viên, học sinh là một việc làm quan trọng góp phần vào sự thành công
trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn tự nhiên xã hội không chỉ ở lớp
2 mà đối với các lớp khác ở tiểu học. Việc học tập, bổ sung kiến thức cho bản
thân mình không bao giờ là đủ mà phải được tiến hành thường xuyên, suốt
cuộc đời. Trước nhu cầu hội nhập, phát triển giáo dục của các quốc gia đòi hỏi
người giáo viên phải thường xuyên cập nhật, nắm bắt những thông tin kịp thời,
đổi mới phương pháp dạy học để hoàn thành sứ mệnh giáo dục, đào tạo ra
những thế hệ học sinh có đủ đức lẫn tài để mai này xây dựng đất nước.
Đề tài này đã được bản thân tôi và giáo viên trong tổ 2 vận dụng vào
thực tế dạy học và mang lại kết quả khả quan.
2. Kiến nghị
Trường TH Lý Tự Trọng
25
GV: Phạm Thị Thúy Lan