ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC THAN VÀ NHÀ MÁY NHIỆT
ĐIỆN ĐẾN MÔI TRƯỜNG ĐẤT THỊ XÃ UÔNG BÍ – TỈNH QUẢNG NINH
Lê Văn Thiện - Khoa Môi trường,Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN
SUMMARY
INFLUENCE OF COAL EXPLOITING AND THERMAL PLANT ACTIVITIES
ON ENVIRONMENTAl SOIL IN UONG BI, QUANG NINH
Le Van Thien - Hanoi National University
The article presents some results reflecting the impact of coal exploiting and
thermal- electric plant activities on soil environment quality in Uongbi, Quangninh in
order to appropriately use soil source. It can be seen that, almost soil in Uongbi are an
acid characteristic, low nutrition composition (NPK) and Ca 2+, Mg2+ concentrations are
too low. Uongbi soil quality is not polluted by heavy metals such as Pb, Hg, As based on
Vietnamese standard (TCVN) 7209-2002 and some Europian countries standard. For the
cadimium element, it is serious pollution. Almost soil samples contain a high
concentration of Cd, which is over Vietnamese standard (TCVN 7209-2002) from 1.0 to
4.0 times. It is over from 0.7 to 2.6 times when comparing with Polland standard. There
are traces of heavy metal accumulation in soil and sediment samples, which are directly
impacted by exploiting, coal transporting and Uongbi thermal - electric plant activities.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thị xã Uông Bí được biết đến như một trung tâm của than và điện, sản lượng than
khai thác hiện nay vào khoảng 3 triệu tấn/năm, công suất của nhà máy nhiệt điện Uông Bí
là 300MW và nhà máy đang xây dựng mở rộng để đạt công suất 700MW. Tuy nhiên,
chính nét đặc thù về sự phát triển các ngành công nghiệp này đã và đang ảnh hưởng rất
lớn đến tài nguyên môi trường của thị xã, đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí, đất
và nước.
Mặc dù trong quá trình hoạt động, chính quyền thị xã và các doanh nghiệp đã có
nhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường không
khí, đất và nước của thị xã vẫn diễn biến rất phức tạp và khá nghiêm trọng. Tại một số
khu đô thị tập trung đông dân cư, một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh than và nhiệt
điện, các khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản... tình trạng ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến đời sống sức khoẻ của nhân dân và hạn chế sự phát triển kinh tế - xã
M1 N 21001’35.5” cạnh. Nằm bên phải đường, cách đường ra cảng Điền
E106046’28.7" Công 15-20 m
N 21000’23.6” Ruộng lúa nằm cách mẫu M7 (300m), sử dụng nước tưới
M8
E106047’32.0” của sông Uông nên chịu tác động của các quá trình xả thải
Xã Đầm Nối
Ruộng lúa màu sử dụng nước tưới chủ yếu của hồ Yên
M9 N 21001’14.2”
Lập, không có ảnh hưởng của các nguồn xả thải
E106046’42.2”
Mẫu
N 21001’41.5” Đất trồng rau, tưới nước theo hệ thống hồ Yên Lập.
đất
M10 E106047’11”
Ruộng thấp so với mặt bằng đất tại đó, gần đường vận
canh
chuyển than và bãi than của xí nghiệp Kho Sông Uông
tác
0
N 21 01’41.5” Mẫu đất ruộng trồng lúa dưới chân đường quốc lộ 6 về phía
M11 E106047’11”
Hòn Gai, cách xí nghiệp Kho Sông Uông 0,5 km, gần xí
nghiệp đóng gạch xi măng, chịu tác động tro xỉ
Xã Lạc Thanh
Ruộng trồng rau muống, tưới nước trực tiếp từ hồ Đầm
M15 N 21001’25.2”
Phường, ruộng ngập nước, nước thông với sông Sinh
E106046’12.2”
N 21001’51.2” Đất trồng đỗ, kề liền khu dân cư, tưới nước ở Khe Xanh
M17
Vị trí mẫu
Đặc điểm
0
E106 45’52”
N 21001’11”
Trầm tích sông Sinh, tiếp giáp với đầm mẫu 12, nước cạn,
M13
0
E106 45’54”
trầm tích nhiều cát, dòng chảy khá mạnh
Xã Lạc Thanh, Đầm phường cung cấp cho toàn bộ rau màu xã Lạc
đầm Phường
Thanh, thường là nước tự nhiên nhưng vào mùa khô
M14
0
N 21 01’18”
người ta vẫn lấy nước từ sông Sinh vào qua 2 lần đầm
0
E106 45’43”
nuôi tôm
2.2.2. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm:
Các chỉ tiêu pH, CEC, N, P, K, Ca, Mg, KLN được phân tích tại Phòng phân tích
Đất và Môi trường của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp bằng các phương pháp
phân tích hiện đại, có độ tin cậy cao.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Tác động của hoạt động khai thác than và nhà máy nhiệt điện đến một số tính
chất lý hoá của đất khu vực nghiên cứu
Bảng 2. Kết quả phân tích pH và cation trao đổi của đất
Cation trao đổi (mgdl/100g đất)
Ca2+
6,14
5,52
8,20
1,85
10,35
tác
M15
5,44
4,78
5,13
1,10
7,13
M17
5,91
5,50
5,39
0,49
8,13
M3
7,42
7,00
8,58
3,73
13,55
M5
4,25
3,91
4,86
3,93
8,73
2,39
2,33
2,21
5,15
Kết quả nhận được bảng 2 cho thấy, đất khu vực nghiên cứu là đất chua đến rất
chua. Giá trị pH ở các mẫu trầm tích sông, ao, đầm nuôi tôm (M5, M6, M7, M12, M14)
và các mẫu đất trồng lúa (M8, M9) rất thấp, giá trị pH H2O và pHKCl nhỏ nhất ở mẫu M14
(tương ứng là 2,62 và 2,39). Giá trị pH của 2 mẫu đất M1, M3 là cao nhất, đất ở đây có
tính chất trung tính. Đó là do các mẫu đất M1, M3 nằm ngay đường vận chuyển than ra
cảng Điền Công nên chịu tác động trực tiếp của hoạt động vận chuyển than, có khả năng
tích luỹ các kim loại kiềm và kiềm thổ, đặc biệt đất ở đây không được canh tác thường
xuyên (bỏ hoá do không đảm bảo chế độ nước) nên việc mất các kim loại kiềm và kiềm
thổ theo mùa màng cũng sẽ ít hơn. Hàm lượng Ca 2+ và Mg2+ tại các mẫu đất nghiên cứu
có sự dao động rất rộng. Ca 2+ dao động từ 2,16 mgdl/100g đất (M13) đến 10,77
mgdl/100g đất (M1). Hàm lượng Ca 2+ trong các mẫu đất nghiên cứu nhìn chung đều biến
Kí hiệu mẫu
pHH2O
pHKCl
3
đổi tuân theo quy luật biến đổi độ chua của đất. Đất mẫu M1 là đất trung tính (pH cao
nhất) nên hàm lượng Ca2+ cũng cao nhất, tuy nhiên Ca2+ thấp nhất lại ở mẫu M13, do đây
là mẫu trầm tích của sông Sinh có dòng chảy mạnh nên khả năng rửa trôi Ca 2+ cao. Các
mẫu đất trồng lúa M8 (2,35 mgdl/100g đất), M9 (2,85 mgdl/100g đất) có hàm lượng Ca 2+
thấp, đó là do đất canh tác thường xuyên, không được bón đủ vôi, cây trồng lấy đi lượng
Ca2+ đáng kể theo mùa màng.
4,3
10,8
Mẫu
M9
0,095
0,073
0,86
2,52
3,6
13,4
đất
M10
0,197
0,164
1,17
2,80
5,8
16,3
canh
M11
0,190
0,148
0,83
2,80
8,9
19,6
tác
M15
0,140
0,114
33,4
Mẫu M6
trầm M7
0,162
0,106
1,04
2,80
6,0
27,3
tích
M12
0,117
0,112
1,44
2,52
6,4
34,2
M13
0,089
0,007
1,12
0,84
5,8
16,3
M14
0,044
0,069
0,91
1,68
3,2
luỹ Cd trong đất canh tác. Tại mẫu M1 (nằm cạnh đường vận chuyển than ra cảng Điền
Công) và mẫu M10 (gần kho than của xí nghiệp Sông Uông) nên hàm lượng Cd ở đây cao
hơn tất cả các mẫu đất canh tác khác. Hàm lượng Cd trong các mẫu trầm tích đáy chịu tác
động của dòng chảy và mức độ nhận thải từ khai trường và nhà máy nhiệt điện nên có sự
khác biệt giữa các mẫu nghiên cứu. Mẫu M7 ít chịu tác động nhất của hoạt động khai thác
than và chế độ nuôi trồng thuỷ sản ở đây là quảng canh chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên
nên hàm lượng Cd trong trầm tích đáy thấp nhất.
Bảng 4. Hàm lượng một số KLN trong đất khu vực nghiên cứu
Ký hiệu mẫu
As (ppm)
Cd (ppm)
Hg (ppm)
Pb (ppm)
M1
1,348
6,65
0,324
7,31
M8
1,121
4,33
0,100
31,01
M9
0,932
6,42
0,146
5,61
M10
2,516
M6
0,633
5,73
0,196
36,60
M7
0,781
1,94
0,133
21,11
Mẫu trầm M12
1,123
6,39
0,342
6,17
tích
M13
4,787
3,51
1,247
23,81
M14
1,422
6,60
0,207
17,39
Áo
5
5
100
Lan) và thấp hơn các mẫu trầm tích đáy (Pbts tại các mẫu trầm tích vẫn thấp hơn tiêu
chuẩn cho phép). Tuy nhiên, đã có sự tích luỹ Pb trong các mẫu đất trầm tích đáy nên cần
được quan tâm hơn đến các nguồn thải. Cũng như hàm lượng Cd, hàm lượng Pb cao nhất
ở trầm tích đáy M3 - 36,6 ppm, có thể là do sự giao thông nước với sông Sinh, đặc biệt
khi lấy mẫu nước trong đầm đã được tháo cạn nên khả năng tích tụ các KLN là rất cao.
Trong các mẫu đất canh tác thì hàm lượng Pb cao nhất ở mẫu M8 – 31,01 ppm, do nước
tưới ở đây đang sử dụng nước sông Uông.
4. KẾT LUẬN
1. Đất thị xã Uông Bí chủ yếu là đất chua đến rất chua (pH dao động 2,39-5,52),
chỉ có hai trong số 14 mẫu đất nghiên cứu có pH ở mức trung tính (M1, M3 có pH H2O
tương ứng là 7,73 và 7,43; pHKCl = 7,63 và 7,0). Xét về hàm lượng các nguyên tố dinh
dưỡng đa lượng (NPK) thì đất thị xã Uông Bí đều ở mức trung bình và nghèo, riêng chỉ
tiêu kali dễ tiêu (K2Odt) nhìn chung ở mức giàu, trừ các mẫu M15, M17 nơi trồng rau bón
phân kali không cân đối nên kali dễ tiêu ở mức nghèo.
2. Theo ngưỡng ô nhiễm kim loại nặng trong đất của TCVN 7209-2002 và tiêu
chuẩn của một số nước Châu Âu thì đất ở Uông Bí chưa bị ô nhiễm các nguyên tố Pb, Hg,
As. Riêng Cd đã có dấu hiệu ô nhiễm nặng, hầu hết ở các mẫu đất nghiên cứu hàm lượng
Cd đều vượt quá TCVN 7209-2002 khoảng 1,0-4,0 lần; so với tiêu chuẩn của Ba Lan thì
vượt 0,7 – 2,6 lần. Có dấu hiệu tích luỹ các KLN (As, Hg, Pb) trên các mẫu đất chịu tác
động trực tiếp của hoạt động khai thác, vận chuyển than và nhà máy nhiệt điện Uông Bí.
3. Hàm lượng các kim loại nặng trong đất ở khu vực nghiên cứu có sự khác nhau
giữa đất canh tác và trầm tích đáy đầm nuôi trồng thuỷ sản. Trên đất canh tác chúng chịu
ảnh hưởng mạnh của chế độ nước thải tưới và hoạt động khai thác, vận chuyển than. Đất
sử dụng nước tưới từ hồ Yên Lập có mức độ ô nhiễm KLN thấp hơn đất sử dụng nước
tưới sông Uông và sông Sinh. Đất bên cạnh đường vận chuyển than có sự tích luỹ KLN
nhiều hơn. Trên các mẫu trầm tích đáy hàm lượng các KLN chịu tác mạnh của dòng chảy,
mức độ ô nhiễm nước mặt, chế độ thuỷ triều và hình thức nuôi trồng thuỷ sản.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Văn Khoa và cs. Phương pháp phân tích đất - nước - phân bón - cây trồng. Nxb.
Giáo dục. 2000.