MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................................. 3
1.1. Các khái niệm ................................................................................................................. 3
1.2. Thực trạng quản lý chất thải y tế trên thế giới ................................................................ 3
1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam ............................................................... 6
1.4. Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng trên
thế giới ................................................................................................................................. 13
1.5. Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành y tế TP Hải Phòng ............................. 17
1.6. Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế.............................................................. 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................... 22
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu ............................................................... 22
2.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 22
2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu ............................................................................................... 26
2.4. Vật liệu nghiên cứu ....................................................................................................... 29
2.5. Thu thập và xử lý số liệu .............................................................................................. 29
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu............................................................................................ 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .............................................................................. 32
3.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế .................................................................................. 32
3.2. Thực trạng kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế ............................................ 49
Chương 4 BÀN LUẬN ....................................................................................................... 58
4.1. Thực trạng quản lý chất thải y tế .................................................................................. 58
4.2. Kiến thức, thực hành về quản lý chất thải y tế.............................................................. 68
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 73
1. Thực trạng quản lý chất thải y tế ở Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng ................. 73
2. Kiến thức, thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh
Phổi Hải Phòng………………………………………………………………………….....74
KIẾN NGHỊ........................................................................................................................ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 76
Bảng 3.16. Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải
y tế theo nhóm chất thải. ............................................................................................... 52
Bảng 3.17. Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ
đựng chất thải y tế ........................................................................................................... 53
Bảng 3.18. Kiến thức về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và vệ sinh
viên theo nhóm chất thải và mã màu .......................................................................... 54
Bảng 3.19.Liên quan giữa học tập với kiến thức về phân loại chất thải y tế của
nhân viên y tế và vệ sinh ................................................................................55
Bảng 3.20. Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về tác hại của chất
thải y tế đối với sức khỏe con người .......................................................................... 56
Bảng 3.21. Kiến thức của bệnh nhân với thực hành bỏ rác đúng quy định...... 57
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
Hình 3.1. Nhân lực trực tiếp quản lý chất thải y tế tại bệnh viện ....................... 48
Hình 3.2. Tỉ lệ nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế quản lý
chất thải y tế .................................................................................................................... 49
Hình 3.3. Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về phân loại chất thải y
tế theo nhóm chất thải ................................................................................................... 51
Hình 3.4. Kiến thức của nhân viên y tế và vệ sinh viên về mã màu dụng cụ
đựng chất thải y tế .......................................................................................................... 52
Hình 3.5. Kiến thức về phân loại chất thải y tế của nhân viên y tế và vệ sinh
khám và điều trị. Trong quá trình hoạt động Bệnh viện đã phát sinh ra một
2
lượng lớn chất thải rắn y tế, tuy nhiên công việc thu gom, quản lý và xử lý
chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do CTYT, ngày
01/10/2013, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê
duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
đến năm 2020; bao gồm 10 bệnh viện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
chưa hoàn thành xử lí triệt để theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg, trong đó
có bệnh viện Lao và bệnh phổi Hải Phòng.
Để đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường của Bệnh viện Lao
và Phổi Hải Phòng trong thời gian qua, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu đề
tài: “Thực trạng và kiến thức thực hành trongcông tác quản lý chất thải y
tế tại bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014” với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý
chất thải y tế tại Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014.
2. Mô tả kiến thức, thực hành trong công tác quản lý chất thải y tế tại
bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng năm 2014.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm
Chất thải y tế là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
và tác động xấu lên sức khỏe con người. Khi nhu cầu khám chữa bệnh của
chất thải...); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm
giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải
nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với
việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với
CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm
khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ
sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên
y tế [43], [45], [49], [58].
1.2.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại,
quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của NVYT trong việc khám,
chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa
phòng [25].
Bảng 1.1. Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới [7].
Tổng lượng
CTYT nguy hại
CTYT(kg/GB)
(kg/GB)
Bệnh viện trung ương
4,1 - 8,7
0,4 - 1,6
Bệnh viện tỉnh
Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện nhỏ ở Ấn Độ cho
thấy phần lớn các chất thải y tế không được phân loại thành chất thải lây
nhiễm hay không lây nhiễm, mà chứa chung trong các container hở [48].
1.2.3. Quản lý chất thải y tế
Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp
xử lý chất thải đúng cách. Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải
bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT. Tổn thương
này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu
là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn. Có khoảng
50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh
nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [68].
Việc xử lý chất thải y tế hầu như đã được giải quyết ở các nước phát
triển với công nghệ đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng. Dựa trên việc
6
đánh giá vòng đời cho thấy lò vi ba có hiệu suất sinh thái đạt hiệu quả tốt
nhất, tiếp theo là công nghệ hấp khử trùng [57]. Các nhà khoa học ở các nước
Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải để thay thế: như
Philipin đã áp dụng phương pháp xử lý khí, mùi của rác bằng các thùng rác có
nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng
đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa;
Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối
nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [43].
1.3. Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
1.3.1. Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm
1998, cho thấy tỉ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ
sở y tế rất khác nhau.
rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp
cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất [23], [8].
Tính riêng cho 36 bệnh viện thuộc Bộ Y tế quản lý, theo khảo sát năm
2009, tổng lượng CTR y tế phát sinh trong 1 ngày là 31,68 tấn, trung bình là
1,53 kg/giường/ngày. Lượng chất thải phát sinh tính theo giường bệnh cao
nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 3,72 kg/giường/ngày, thấp nhất là bệnh viện Điều
7
dưỡng - Phục hồi chức năng Trung Ương và bệnh viện Tâm thần Trung Ương
2 phát sinh 0,01 kg/giường/ngày. Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác
nhau giữa các bệnh viện tùy thuộc số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa
hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng
vật tư tiêu hao được sử dụng [26].
1.3.2. Thành phần và phân loại chất thải y tế
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trong thành phần CTYT có khoảng 10%
chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% chất thải độc hại như chất phóng xạ,
chất gây độc tế bào và các hóa chất độc hại khác phát sinh trong quá trình
chẩn đoán, điều trị [68].
Căn cứ vào các đặc điểm lý, hoá, sinh học và tính chất nguy hại, chất
thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm dựa theo Quyết định số
43/2007/QĐ- BYT ngày 30/11/ 2007 của Bộ Y tế về quản lý CTYT [6]:
* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt
hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn
của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ
và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm
máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ
thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học
nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu,
vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
9
1.3.3. Quản lý chất thải y tế
Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật,
nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các
bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường. Nhiều
bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ
thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân
loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ. Thực trạng như sau [16],
[8], [ 27], [2]:
* Về quản lý rác thải:
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi
các cấp từ Trung Ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định
ở các bệnh viện khá cao.
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự
quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực
lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký
hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp
phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó.
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản
lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc
số lượng bệnh nhân và người nhà… Tuy nhiên, nồng độ chất thải rắn lơ lửng
(SS), chất hữu cơ (như BOD5), và các chất dinh dưỡng (như Nitơ, phốt pho)
trong nước thải bệnh viện có thể không cao như nước thải đô thị. Nồng độ
BOD5 thay đổi từ 80-180 mg/l [11].
Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành
phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở
các bệnh viện tuyến huyện. Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có
tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa,
nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát
11
nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4%
hở và 42,3% vừa kín vừa hở [14].
Nhiều nghiên cứu về chất lượng của nước thải bệnh viện đã được thực
hiện và các phát hiện chính được tóm tắt trong bảng 1.3 dưới đây:
Bảng 1.3. Các thông số ô nhiễm trong nước thải [11]
TT
Bệnh
viện
pH
DO H2S
BOD5
mg/ mg/
mg/l
COD
mg/l
6.97 1.89 4.05 119.8
263.2
2.555
46.1
218.6
6.91 1.34 7.48 163.9
314.4
1.71
38.9
210
7.12 1.59 4.84 139.2
279.9
1.44
38.9
1.15
46.1
222.2
2.3
Phụ sản
7.21 1.33 7.73
321.9
0.99
53.2
251.3
1.3
167
* Về xử lý khí thải bệnh viện: Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý
khí thải hoặc có hốt hút hơi khí độc tại các khoa/phòng Xét nghiệm, X quang,
còn đa phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải.
1.3.4. Biện pháp xử lý chất thải y tế
*Về xử lý chất thải rắn y tế:
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn
26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ
yếu tập trung ở các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [16].
* Về xử lý nước thải bệnh viện:
Hiện có khoảng 100-150 trong số 1100 bệnh viện (hay khoảng 10-15%
số bệnh viện) có trạm XLNT bệnh viện đưa vào hoạt động. Tại các bệnh viện
13
như BV Quân đội 108, BV Bạch Mai, BV Hai Bà Trưng, Hà Nội (Xây dựng
mới), BV Việt Tiệp, BV Nhi TP Hải Phòng, BV Đa khoa TP Huế, BV Nhi
Thuỵ Điển Hà Nội và BV Uông Bí, BV Nhi Thành phố Hồ Chí Minh ... có
trạm XLNT với công nghệ xử lý sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính hoặc
kết hợp xử lý bằng phương pháp hóa học, Viện Khoa học Việt Nam nay là
Viện Khoa học và Công nghệ Quốc Gia đã xây dựng và vận hành trạm XLNT
bằng hóa học và sinh học [11].
1.4. Tác hại và nguy cơ của chất thải y tế đối với môi trường và sức khỏe
cộng đồng trên thế giới
Chất thải bệnh viện tồn tại ở ba dạng rắn, lỏng, khí và chúng có khả
năng chuyển từ pha này sang pha khác hoặc được cố định vào một pha nào đó
do quá trình biến đổi vật lý, hoá học và sinh học [29]. Mặc dù lượng chất thải
bệnh viện so với tổng lượng thải sản sinh từ sản xuất công nghiệp và sinh
hoạt,… không lớn, nhưng xét về mặt độc hại và nguy hiểm (đặc biệt là rác
thải y tế và nước thải từ khâu điều trị bệnh, phóng xạ…) thì chúng gây ô
nhiễm môi trường đáng kể, ảnh hưởng đến sức khoẻ và quá trình phát triển
lâu dài của con người [37].
CTYT là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây
bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ...Các
tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: Qua
ngầm) [5].
1.4.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khoẻ cộng đồng
1.4.2.1. Nguy cơ và tác động của vật sắc nhọn
Các vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết xước và thường xuyên đâm
thủng da mà còn làm nhiễm khuẩn tại các vị trí gây xước và chọc thủng.
Người ta đặc biệt quan tâm tới bơm kim tiêm vì nó tạo ra phần chất thải chính
là các vật sắc nhọn và thường bị nhiễm khuẩn bởi máu của người bệnh. Ước
tính mỗi năm trên thế giới sử dụng 12.000 bơm tiêm. Hàng năm có khoảng 8 -
15
16 triệu người viêm gan B; 2,3 - 4,7 triệu người viêm gan C và 8.000 - 16.000
người nhiễm HIV do tái sử dụng bơm kim tiêm không tiệt trùng [13].
1.4.2.2. Nguy cơ và tác động của chất thải nhiễm khuẩn
Bảng 1.4. Các loại nhiễm khuẩn, tác nhân gây bệnh và đường lây nhiễm [13]
STT Dạng nhiễm khuẩn
1
Tác nhân gây bệnh
Nhiễm khuẩn đường Vi khuẩn tiêu hoá: Vibrio,
tiêu hoá
2
Nhiễm khuẩn hô hấp
3
Chất tiết qua da
6
AIDS
HIV
7
Nhiễm khuẩn huyết
Tụ cầu
Máu
8
Viêm gan A
Vi rút viêm gan A
Phân
9
Viêm gan B và C
Vi rút viêm gan B và C
lượng và cường độ lây nhiễm. Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như
đau đầu, buồn nôn, ngủ gà. Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng
xạ có hoạt tính cao cũng có thể bị nhiều tổn thương nghiêm trọng như cắt cụt
một phần của cơ thể, vì vậy những chất thải này cần phải được xử lý nghiêm
ngặt đúng quy định [3].
Những tai nạn nghiêm trọng bởi các chất thải bệnh viện bị nhiễm
phóng xạ đã được ghi nhận bởi các cơ quan truyền thông quốc tế ở thành phố
Brasilia năm 1998, có 4 người chết vì hội chứng phóng xạ cấp tính và 28
người bị bỏng phóng xạ nặng [5].
17
1.5. Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành y tế TP Hải Phòng
* Về rác thải
Theo khảo sát của Sở Y tế Hải Phòng năm 2012 [27]: Tổng số giường
bệnh trên địa bàn thành phố Hải Phòng có hơn 7.600 giường bệnh, mỗi ngày
các cơ sở y tế trong Thành Phố phát sinh khoảng hơn 7 tấn chất thải y tế,
trong đó có khoảng 1,05 tấn chất thải y tế nguy hại (chiếm 15%). Lượng chất
thải y tế phát sinh trung bình là 1,0 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải
nguy hại khoảng 0,18 kg/giường bệnh/ngày. Lượng chất thải y tế nguy hại của
các bệnh viện trong Thành Phố thay đổi từ 0,06 – 0,23 kg/giường bệnh/ngày.
* Về nước thải:
Theo khảo sát của Sở Y tế Hải Phòng năm 2012 [27]:
- Hiện trạng các công trình xử lý nước thải tại địa bàn Thành Phố:
+ Trạm xử lý nước thải của bệnh viện của BV đa khoa Hữu Nghị Việt
Tiệp thành phố Hải Phòng được đầu tư năm 2002 công suất 600m3/ngày đêm
theo công nghệ V69 hiện nay vẫn đang hoạt động đáp ứng yêu cầu nhưng
cũng đã xuống cấp.
+ Hệ thống xử lý nước thải của BV Đa khoa Kiến An, BV Ngô Quyền
1.6.1. Kiến thức, thực hành của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý chất thải
y tế
Trong quản lý CTYT, yếu tố con người là rất quan trọng. Cho dù có hệ
thống xử lý chất thải có hiện đại nhưng nếu các cán bộ y tế, những người liên
quan trực tiếp đến công tác quản lý, xử lý chất thải và cộng đồng không nhận
thức rõ tác hại và tầm quan trọng của CTYT đối với công tác bảo vệ môi
trường và sức khoẻ thì hệ thống đó hoạt động cũng không hiệu quả.
Qua kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu
Dung (2003) cho thấy: phần lớn những người được phỏng vấn biết được sự
nguy hại của chất thải lâm sàng, còn những chất thải khác số người biết chỉ
thanh tra còn hạn chế, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe [5].
1.6.2.3. Về kinh phí và trang thiết bị xử lý chất thải
Việc đầu tư kinh phí cho xử lý chất thải tại các cơ sở y tế còn gặp rất
nhiều khó khăn. Các cơ sơ y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có
khả năng tự cân đối kinh phí đầu tư các công trình xử lý chất thải. Kinh phí
cho xử lý chất thải chưa được tính vào chi phí đầu giường bệnh nên khó khăn
trong việc duy trì hoạt động xử lý chất thải.
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi là bệnh viện chuyên khoa, năm 2014 có
quy mô công suất là 250 giường bệnh. Kết quả khám chữa bệnh: tổng số lần
khám bệnh 116.208 lượt, số BN điều trị nội trú 2.853 lượt, số BN điều trị
ngoại trú 2.000 lượt, số lượng xét nghiệm 323.186 lượt. Do đó lượng chất thải
phát sinh bao gồm chất thải sinh hoạt và CTYTNH sẽ gây ảnh hưởng đến môi
trường là rất lớn.
21
Với những lý do như vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này tại
Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Hải Phòng để đánh giá công tác bảo vệ môi
trường tại đây sau khi có quyết định Quyết định số 1788/QĐ-TTg về việc phê
duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
đến năm 2020.