DANH SÁCH NHÓM 6
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Hà Thị Ái Nguyên
Nguyễn Thị Hiền Lương
Đoàn Thùy Linh
Phạm Thị Thanh
Lý Thị Phương Nam
Nguyễn Thị Hương
Nguyễn Thị Hoài
Lytar Souvannalath
MỤC LỤC
A.
B.
C.
Mở Bài.
Nội Dung.
I.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động khai thác rừng đối với môi
định pháp luật về phục hồi nguyên trạng rừng sau khai thác” nhóm sẽ tìm
hiểu những vấn đề xoay quanh hoạt động khai thác rừng.
B.
Nội Dung.
I.
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hoạt động khai thác rừng đối
với môi trường.
1. Các loại hình khai thác rừng.
-
-
Chặt dần: Nhằm khai thác nhiều lần trong một kỳ hạn tương đối dài, mấy
lần chặt đầu chỉ làm cho mảng rừng thưa dần, tạo lập tái sinh dưới tán
rừng, chỉ lần cuối cùng mới chặt hết toàn bộ cây rừng trên diện tích khai
thác.
Chặt chọn: Chặt từng cây hoặc từng đám cây đã thành thục và được lặp đi
lặp lại với một khoảng thời gian xác định.
Chặt trắng: Chặt toàn bộ cây rừng trong mảng rừng thành thục, chặt một
lần cùng trong một mùa.
2. Tình hình khai thác rừng ở Việt Nam.
Bảng 1.1: Diễn biến diện tích rừng qua các năm
( Đơn vị tính: triệu ha)
Năm
Loại rừng
Độ che phủ (%)
43,0
27,8
39,5
39,7
40,7
41,0
40,43
1990
2010
2011
2012
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến 31/12/2014.
Nhận xét bảng số liệu:
từng giờ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng rừng tự nhiên.
• Thứ hai, tình hình phục hồi rừng:
Năm 1945 diện tích rừng trồng ở con số không. Đến năm 1991, Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng được ban hành đã góp phần đẩy mạnh đến tình hình phục
hồi rừng của nước ta, công tác trồng rừng được được thực hiện ở hầu hết các
tỉnh đã phần nào làm cho diện tích rừng được phục hồi, trong giai đoạn năm
1990-> 2010 tăng 2,3 triệu hecta rừng trồng.
Giai đoạn 2010-> 2014 diện tích rừng trồng có xu hướng tăng lên, đến năm
2010 diện tích rừng trồng đạt 3,1 triệu hecta, đến năm 2014 diện tích này tăng
lên 3,7 triệu hecta. Trong 4 năm diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể (0,6
triệu hecta).
•
-
-
-
-
-
Có thể thấy, tình hình phục hồi rừng trong những năm gần đây được thực
hiện tốt. Công tác phục hồi rừng được thực hiện giúp diện tích rừng trồng
tăng lên hằng năm.
Mặc dù công tác trồng rừng, phục hồi rừng đạt được nhiều thành tựu, diện tích
rừng trồng tăng lên hằng năm nhưng tổng diện tích rừng trên cả nước tính đến
tháng 12/2014 chỉ có 13,8 triệu hecta, độ che phủ của rừng chỉ còn hơn 40%,
ẩm không khí, thành phần khí quyển và có ý nghĩa điều hòa khí hậu.
- Phá rừng là một nhân tố đóng góp cho sự nóng lên của trái đất và được
coi là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng hiệu ứng nhà
kính. Ở các khu vực bị phá rừng, đất tăng nhiệt nhanh hơn và thời tiết
trở nên nóng hơn, điều này kích thích quá trình bốc hơi nước của đất,
từ đó hình thành các đám mây và dẫn đến lượng mưa sẽ gia tăng.
Có thể thấy rằng tác động của rừng đến môi trường không khí là không hề
nhỏ, một khi rừng bị biến đổi thì dẫn đến môi trường không khí cũng bị ảnh
hưởng theo, mức độ cũng như phạm vi ảnh hưởng lại rất nghiêm trọng nhưng
việc phục hồi thì rất khó khăn.
• Ảnh hưởng đối với môi trường nước:
- Rừng không chỉ có khả năng hấp thụ khí cacbonic mà rừng còn góp
phần giữ ổn định nguồn cấp nước, giảm thiểu nguy cơ hạn hán cũng
như lũ lụt. Rừng còn giúp cân bằng dòng chảy cố định cho các hệ sinh
thái và các trung tâm đô thị. Bởi vậy, suy giảm rừng gây biến động
thủy chế sông ngòi, giảm sự điều hòa của dòng chảy, làm tăng quá
trình bốc hơi giảm lượng nước ngầm, dẫn đến lũ lụt, khô hạn.
- Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do
biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo dự báo thì biến đổi khí hậu sẽ làm cho
các trận bão ở Việt nam thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá
nghiêm trọng hơn. Đường đi của bão dịch chuyển về phía nam và mùa
bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm. Lượng mưa giảm trong mùa
khô và tăng trong mùa mưa, mưa lớn thường xuyên và kéo dài gây
lũ đặc biệt lớn. Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả
thể dẫn đến lũ quét và gây nhiều lũ lụt hơn khi không có rừng bảo vệ.
Môi trường đất đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi hoạt động khai thác rừng bừa
bãi, ảnh hưởng đến quá trình thoái hóa đất, độ dinh dưỡng trong đất cũng vì
thế mà giảm dần ảnh hưởng đến nền nông nghiệp của nước ta cũng như sinh
hoạt của người dân.
• Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
- Sự giảm sút đa dạng sinh học, nhất là giảm sút diện tích rừng đã
thúc đẩy sự gia tăng biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng ngược lại sự
nóng lên toàn cầu cũng đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển
của các loài sinh vật và đa dạng sinh học.
- Hậu quả do biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra ngày một rõ ràng,
trong đó có tác động lên đa dạng sinh học, nguồn tài nguyên quý giá
của đất nước. Rồi đây trái đất sẽ tiếp tục nóng thêm, mực nước biển
cũng sẽ cao hơn
- Dựa vào một số nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới như ở quần đảo
Maldavies, Banglades và một số vùng khác, kết hợp với điều kiện tự
nhiên của Việt Nam, chúng ta có thể dự báo hậu quả của biến đổi khí
hậu sẽ tác động mạnh lên 2 vùng đông bằng lớn là đồng bằng sông
Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ
sinh thái rừng trong cả nước. Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến
vùng đất ngập nước của bờ biển Việt Nam, nghiêm trọng nhất là các
khu vực rừng ngập mặn của Cà Mau, TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu,
Nam Định.
-
Hai vùng đồng bằng, rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nước rất
giàu có về các loài sinh vật, là những hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị
sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái.
Biến đổi khí hậu với các hệ quả của nó như lũ lụt, hạn hán, cháy
rừng, sói mòn và sạt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng
sinh học nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là hệ sinh thái rừng
nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số
lượng cá thể ít, cũng vì thế mà sẽ tăng nguy cơ diệt chủng của động
thực vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm, bệnh dịch mới có
thể phát sinh.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khai thác rừng.
•
Nguyên nhân khách quan:
- Áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh, di cư tự do từ nơi
khác đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác, những đối tượng này chủ
yếu là những hộ nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, sinh kế chủ yếu
dựa vào khai thác tài nguyên rừng. Nhận thức về bảo vệ rừng còn hạn
chế, do đó vẫn tiếp tục phá rừng kiếm kế sinh nhai, lấy đất canh tác
hoặc làm thuê cho bọn đầu nậu, kẻ có tiền để phá rừng hoặc khai thác
•
gỗ, lâm sản trái phép.
- Do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hàng nông, lâm sản tăng cao,
nhu cầu về đất canh tác các mặt hàng này cũng tăng theo, nên đã kích
thích người dân phá rừng để lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao
hoặc buôn bán đất, sang nhượng trái phép.
- Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới,
nhiều công trình xây dựng, đường xá và cơ sở hạ tầng khác được xây
-
hoặc tiếp tay, làm thuê cho bọn đầu nậu.
Hầu hết các chủ rừng không đủ năng lực bảo vệ rừng được giao, lực
lượng bảo vệ rừng mỏng, thiếu kinh phí cho hoạt động bảo vệ rừng,...
nhất là các Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ. Một số
chủ rừng chưa phối hợp tốt với chính quyền địa phương và các ngành
chức năng trong công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý đất đai, dẫn
đến tình trạng để rừng bị phá, lấn chiếm đất trái pháp luật mà không
có biện pháp ngăn chặn kịp thời; một số chủ rừng khác còn có biểu
hiện buông xuôi, thiếu trách nhiệm, không có biện pháp ngăn chặn
-
kịp thời và hiệu quả.
Một số địa phương cấp phép thành lập các xưởng chế biến lâm sản,
nhưng không theo quy hoạch, không gắn được cơ sở chế biến với
vùng nguyên liệu, đồng thời các cơ quan chức năng thiếu kiểm tra,
giám sát các hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản và nguồn gốc
nguyên liệu nhập, xuất xưởng, nên các cơ sở chế biến lợi dụng thu
mua gỗ bất hợp pháp để sản xuất kinh doanh. Mặt khác, vẫn còn tồn
tại tình trạng lập hồ sơ khống, mua bán hồ sơ, quay vòng hồ sơ để vận
-
chuyển tiêu thụ gỗ bất hợp pháp.
Kiểm lâm ở một số địa phương chưa tham mưu kịp thời cho các cấp
có thẩm quyền, nhất là ở địa phương trong việc đảm bảo chấp hành
Tuyên dương (bằng khen, tiền thưởng..) những ai can đảm đứng ra tố cáo
những người chặt phá rừng bừa bãi, những người báo kịp thời cho cán bộ
kiểm lâm, cơ quan chức năng về hành vi chặt phá rừng.
- Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng theo
quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức các lực lượng truy quét
lâm tặc phá rừng tại địa phương. Ngăn chặn kịp thời các trường hợp khai
thác, phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Chỉ đạo xử lý nghiêm khắc các tổ
chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và những người bao che,
tiếp tay cho lâm tặc. Những địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trái
phép thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải kiểm điểm làm rõ trách
nhiệm và bị xử lý theo quy định.
- Hỗ trợ công cụ để trấn áp lâm tặc cho lực lượng kiểm lâm.
II.
Hạn chế trong quy định pháp luật và một số kiến nghị hoàn
thiện quy định pháp luật về phục hồi nguyên trạng rừng sau
khai thác.
- Pháp luật cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài thuê rừng và đất nông
nghiệp, trong khi theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
nước ta bình quân chỉ 0,15 ha rừng/đầu người, thấp hơn nhiều mức bình quân
thế giới 0,6 ha/đầu người. Trong khi đó nhu cầu về đất lâm nghiệp của nước
ta là rất lớn. Vậy tại sao không chia đất rừng cho đồng bào miền núi làm,
khắc phục cái đói cho họ, để cho người cày có ruộng, mà lại cho cá nhân, tổ
chức nước ngoài thuê. Nếu chia đất cho đồng bào miền núi để đầu tư vào
trồng rừng thì họ có thể thực hiện “đa cây, đa con”, trồng xen kẽ rừng phòng
hộ với rừng sản xuất. Còn giao rừng cho cá nhân, tổ chức nước ngoài thì đa
số tập trung vào rừng sản xuất, từ đó tình trạng khai thác rừng ngày một tăng
lên. Đó là chưa tính tới các vấn đề về quốc phòng an ninh.
-
Những tỉnh đã ký cho cá nhân, doanh nghiệp nước ngoài thuê, thì phải
lạm dụng sơ hở này để khai thác rừng kiệt quê.
-
-
Quy định này cần được nêu cụ thể hơn về tỷ lệ, khối lượng được phép
khai thác để các địa phương dễ dàng thực hiện và giám sát việc thực
hiện.
Điều 22, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, quy định các nguyên tắc
giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng là
chưa đầy đủ.
Cần bổ sung hai nguyên tắc này:
+ Công khai, minh bạch, có sự tham gia và đồng thuận (theo đa số) của
cộng đồng dân cư sở tại.
+ Theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt, để tránh chuyển đổi rừng tùy tiện.
-
Hầu hết các hành vi khai thác rừng trái phép đều bị xử phạt hành chính. Về
trách nhiệm hình sự, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sđ, bs 2009) quy định: Điều
175. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng , Điều 176. Tội
vi phạm các quy định về quản lý rừng. Tuy nhiên hành vi đó phải đáp ứng
điều kiện phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính hoặc
Đối với luật đất đai 2013 và luật bảo vệ và phát triển rừng 2004.
+ Ở Luật đất đai 2013 quy định như sau tại điều 17, Nhà nước trao quyền sử
dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức:giao đất không thu
tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất;quyết định cho thuê đất thu
tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời
gian thuê.
+ Điều 6 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy định: nhà nước trao quyền sử
dụng rừng cho chủ rừng thông qua các hình thức: giao rừng, cho thuê rừng,
và có thêm quyền sở hữu rừng là rừng trồng
+ Kế hoạch quy hoạch sử dụng đất ở địa phương thì do UBND tỉnh và huyện
thực hiện (căn cứ điều 39, điều 40, Luật đất đai 2013 )
+ Ở điều 17, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 quy định thêm UBND xã ,
phường, thị trấn tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng của địa phương theo sự hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp
trên trực tiếp
Đối với Luật đa dạng sinh học và Luật bảo vệ và phát triển rừng .
+ Trong Luật đa dạng sinh học 2008 tại điều 16, quy định, Khu bảo tồn bao
gồm: Vườn quốc gia; Khu dự trữ thiên nhiên; Khu bảo tồn loài - sinh cảnh;
Khu bảo vệ cảnh quan.
+ Trong khi trong Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 điều 4 lại quy
định, Khu bảo tồn thiên nhiên gồm: khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài sinh cảnh.
Điều này đã dẫn đến tính thiếu thống nhất trong quy định của pháp luật . Dẫn
đến việc áp dụng trong công tác phân loại và bảo vệ rừng gặp nhiều khó
khăn.
Cần quy định lại việc phân loại khu bảo tồn cho phù hợp giữa Luật đa
dạng sinh học 2008 và Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 . Và quy
định các hình thức giao rừng trong Luật bảo về và phát triển rừng cho
phù hợp với luật đất đai. Về quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển
8. Quyết định 1828/QĐ-BNN-TCLN ngày 11/08/2011 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố số liệu hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2010.
9. Quyết định 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/08/2012 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố số liệu hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2011.
10. Quyết định 1739/QĐ-BNN-TCLN ngày 31/07/2013 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố số liệu hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2012.
Quyết định 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 28/07/2014 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố số liệu hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2013.
12. Quyết định 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/08/2015 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn về công bố số liệu hiện trạng rừng
toàn quốc năm 2014.
13. />14. />15. />16. />11.