1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế Việt Nam, các doanh
nghiệp phải đối mặt với sức ép cạnh tranh của các đơn vị kinh doanh cùng ngành
nghề trong nước và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt
Nam cần phát huy một cách hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có và tận dụng tối đa
những ảnh hưởng tốt từ ngoại lực là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước như các
chính sách hỗ trợ về tín dụng, chính sách đầu tư cho các ngành trọng điểm. Tuy
nhiên, việc phát huy các yếu tố nội lực vẫn là những giải pháp được đánh giá có
hiệu quả hơn để doanh nghiệp có thể chủ động trong định hướng phát triển của
mình. Phát huy hiệu quả công tác quản trị trong doanh nghiệp như phát huy nguồn
lực con người, phát huy nguồn chất xám là chìa khóa để có thể tiếp tục phát huy các
nguồn lực vật chất trong doanh nghiệp. Để công tác quản trị doanh nghiệp đạt hiệu
quả đặt ra đòi hỏi đối với doanh nghiệp là vận dụng tốt công cụ quản lý như thế
nào? Công tác kế toán nói chung, kế toán quản trị nói riêng đóng vai trò trọng yếu
trong cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị quản lý các yếu tố nguồn lực và
đưa ra các quyết sách phù hợp nhất.
Ngành sản xuất xi măng Việt Nam phát triển gắn liền với từng bước đi lên và
tốc độ đô thị hóa rất nhanh của đất nước. Sau một thời gian tăng trưởng mạnh, từ
năm 2010 đến nay, các doanh nghiệp SX xi măng Việt Nam đứng trước tình trạng
cung vượt cầu. Hàng loạt dây truyền, nhà máy mới chạy cầm chừng, thua lỗ, ngừng
sản xuất bởi chi phí tăng cao, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Khó khăn của
ngành xi măng bắt đầu vào thời điểm năm 2010. Xi măng Việt Nam có giá bán thấp
nhất khu vực ASEAN luôn ở mức dưới 50 USD/tấn trong khi giá xi măng trung
bình trong khu vực là 65-75 USD/tấn. Với nhiệm vụ bình ổn thị trường về giá và
nguồn cung, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, từ năm 2008 đến
nay giá xi măng chỉ tăng khoảng 30% trong khi giá than nhiên liệu chính để sản
hiện đại để vận dụng phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam.
3
Từ những lý do trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng mô hình kế
toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam” làm đề tài
luận án tiến sỹ của mình để có thể phát triển năng lực nghiên cứu khoa học đồng thời
giúp cho ngành sản xuất xi măng phát triển hơn nữa trong công tác quản trị chi phí.
2. Tổng quan đề tài nghiên cứu
Kế toán quản trị chi phí là công cụ cung cấp thông tin phục vụ công tác quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp. Tại các quốc gia trên thế giới, các chuyên gia kế
toán đã quan tâm và nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi
phí nói riêng nhằm giải quyết những bài toán kinh tế khó khăn trong các doanh
nghiệp. Một số lượng lớn các học giả đã và đang xây dựng quan điểm về Kế toán
quản trị trong phạm vi chung như các công trình nghiên cứu của Hesford et al
(2007), Ittner và Larcker (1998b), Otley et al (2007), Scapén và Brơmich (2001),
Selto và Widener (2004), Shields (1997) và Young and Selto (1991). Nhìn chung,
những nghiên cứu đưa ra quan điểm tổng quát về kế toán quản trị. Cụ thể với nội
dung kế toán quản trị chi phí đã có nhiều nhà nghiên cứu tại các nước châu Á và
Châu Mỹ như John Blake, Oriol Amat & Philip Wraith (2008), “Developing a new
national management accounting framework- the Spanish case” định hướng mô
hình kế toán quản trị chi phí trong từng loại doanh nghiệp. Sự phát triển của các
doanh nghiệp đòi hỏi thông tin cung cấp cho các nhà quản trị cần đáp ứng kịp thời.
Về vai trò của quản trị chi phí và kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp,
Nguyễn Ngọc Huyền (2000) đã trình bày và luận giải những vấn đề về chi phí kinh
doanh, khẳng định phân tích và quản trị chi phí kinh doanh là công cụ không thể
thiếu trong quản trị các doanh nghiệp công nghiệp. Tác giả đã xây dựng phương
pháp tính chi phí kinh doanh theo điểm dạng bảng và đưa ra một số giải pháp chủ
của Gerdin/Accounting, Organizations and Society 30 (2005)- “Management
accounting system design in manufacturing departments: an empirical investigation
using a multiple contingencies approach”. Để phân tích các nhân tố tác động bên
trong doanh nghiệp đến lựa chọn mô hình kế toán quản trị tác giả đã khảo sát 126
doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau trên thế giới và đã khẳng
định được ảnh hưởng của hai nhân tố bên trong của doanh nghiệp tác động trực tiếp
đến thiết kế kế toán quản trị là: Cấu trúc tổ chức (Bộ máy quản lý) và sự phụ thuộc
5
lẫn nhau giữa các phòng ban. Các nghiên cứu trên đã chỉ ra các nhân tố tác động
đến việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp bao gồm các
nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Kiểm soát chi phí luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các cấp quản
trị, các nhà quản trị cần có công cụ kiểm soát. Với nội dung này, Higgins (1952) đã
đưa ra quan điểm: Kế toán trách nhiệm là sự phát triển của hệ thống kế toán được
thiết kế để kiểm soát chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến các cá nhân trong tổ
chức và người chịu trách nhiệm kiểm soát. Hệ thống được thiết kế cho tất cả các cấp
quản lý, là công cụ để kiểm soát hoạt động và chi phí. KTQT là hệ thống kế toán
được xây dựng thành các trung tâm và được quản trị bởi những nhà quản lý đứng
đầu. Các nhà quản lý phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của trung tâm,
bộ phận của mình. Theo Hansen và Mowen (2005), mô hình KTTN được xác định
bởi 4 yếu tố cần thiết là: 1) Phân công trách nhiệm; 2) Thiết lập các biện pháp thực
hiện hoặc các tiêu chuẩn; 3) Đánh giá hiệu suất; 4) Giao phần thưởng. Hệ thống kế
toán trách nhiệm gắn liền với sự phân cấp quản lý, nếu không có sự phân cấp quản
lý sẽ không tồn tại hệ thống kế toán trách nhiệm. Về vấn đề phân quyền, phân cấp
quản lý Đoàn thị Thu Hà và Nguyễn Ngọc Huyền (2009) đã khẳng định phân quyền
là hiện tượng tất yếu khi tổ chức đạt đến quy mô và trình độ phát triển nhất định làm
cho một người hay một cấp không thể đảm đương được mọi công việc quản trị.
sản xuất sản phẩm với điều kiện hiện có của doanh nghiệp (công nghệ, năng lực
quản lý, nguồn nhân lực); Phương pháp phân tích số liệu lịch sử xem xét chi phí và
giá thành của kỳ trước cùng với những thay đổi của kỳ này để xây dựng định mức
chi phí cho kỳ tương lai; Phương pháp điều chỉnh dùng để điều chỉnh chi phí định
mức cho phù hợp với điều kiện hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp.
Các mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung được Kip R Krumwiede (2009),
“Reward and realities of German Cost Accounting”, Strategic Finance, Apr. Vol.
86, Iss. 10, Page 26-34 thể hiện: Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất
như chi phí nhân công là tiêu chuẩn để phân bổ chi phí chung cho từng loại sản
phẩm, dịch vụ; Mô hình phân bổ chi phí chung theo bộ phận: Kế toán sử dụng nhiều
tiêu chuẩn phân bổ khác nhau phù hợp với bản chất của các công việc được thực
hiện ở từng bộ phận (trung tâm chi phí). Mô hình này cho phép xác định giá phí của
7
từng loại dịch vụ, sản phẩm một cách chính xác hơn nhưng lại gặp khó khăn khi các
sản phẩm đa dạng về tính chất, kích cỡ, quy trình sản xuất.
Kế toán quản trị đã được các nhà khoa học trong nước nghiên cứu qua từng
giai đoạn khác nhau. Giai đoạn ban đầu khi kế toán quản trị còn đang rất mới mẻ đối
với Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt (1995) trong luận án “Vấn đề hoàn thiện kế toán
Việt Nam” đã trình bày phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài
chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những đề xuất về
kế toán quản trị trong các công trình này là những đề xuất mang tính sơ khai nhất
của hệ thống kế toán quản trị. Phạm Văn Dược (1997) đã nghiên cứu về “Phương
hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh
nghiệp Việt Nam”. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã có những nghiên cứu cụ
thể và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tiễn trong các
doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn mang tính chất chung
chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt của kế toán
nam; Văn Thị Thái Thu (2008) nghiên cứu hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi
phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn
ở Việt Nam; Hoàng Văn Tưởng (2010) nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị với
việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp
Việt Nam; Nguyễn Quốc Thắng (2010) nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi
phí, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp thuộc ngành giống cây trồng Việt
Nam. Các tác giả đã hệ thống hoá những nội dung lý luận chung về tổ chức kế toán
quản trị từ đó định hướng những nội dung cần hoàn thiện cho từng ngành kinh
doanh đặc thù được nghiên cứu. Nội dung kế toán quản trị được hoàn thiện trong
các công trình nghiên cứu như tổ chức bộ phận kế toán quản trị trong bộ máy kế
toán; vận dụng phương pháp phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí để nhận
diện chi phí; xây dựng hệ thống dự toán; phương pháp xác định chi phí; phương
pháp phân tích thông tin phục vụ quá trình ra quyết định. Các tác giả đều đã khai
thác công dụng của kế toán quản trị trong cung cấp thông tin cho quản lý của nhiều
ngành sản xuất kinh doanh khác nhau.
Về nội dung xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí đã có các công trình
của tác giả Phạm Thị Thủy (2007) nghiên cứu xây dựng mô hình kế toán quản trị
chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm Việt Nam; Trần Thế Nữ (2011)
ngiên cứu xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp thương
mại quy mô nhỏ và vừa ở Việt Nam. Tuy nhiên, các tác giả chưa làm rõ được mô
hình kế toán quản trị chi phí là gì? Các yếu tố cấu thành cụ thể? Thực chất các tác
9
giả thực hiện tổ chức các nội dung kế toán quản trị chi phí như phân loại chi phí,
lập dự toán chi phí, phân tích biến động của chi phí phục vụ quá trình ra quyết
định. Những nội dung đạt được của các công trình này định hướng để tác giả xây
dựng các nội dung cho công nghệ sản xuất thông tin về chi phí trong mô hình kế
toán quản trị chi phí.
trị hiện đại vào doanh nghiệp như ABC, ABM, BSC, các phương pháp xác định chi
phí định mức, các mô hình phân bổ chi phí sản xuất chung... Các công trình nghiên
cứu trong nước tập trung khai thác tổ chức nội dung kế toán quản trị chi phí cho các
doanh nghiệp gắn liền với các ngành kinh doanh đặc thù theo hướng bổ khuyết. Các nội
dung được xây dựng như: xây dựng bộ máy kế toán QTCP, lập dự toán và định mức
chi phí, phương pháp xác định chi phí thực hiện, phân tích biến động chi phí. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu thiết kế mô hình kế toán quản trị chi phí với
các yếu tố cấu thành cho một doanh nghiệp hay một ngành kinh doanh cụ thể.
Từ khoảng trống trong nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước tác
giả muốn tiếp tục khai thác để phát huy tính hữu hiệu của kế toán quản trị trong
công tác quản trị. Về mặt lý luận, tác giả gắn kết mối quan hệ giữa khoa học kế toán
quản trị và khoa học quản trị doanh nghiệp thông qua phân tích nhu cầu thông tin
cần thiết của các cấp quản trị trong doanh nghiệp, là cơ sở để xây dựng mô hình kế
toán quản trị chi phí vận dụng cho các doanh nghiệp. Về mặt thực tiễn, qua nghiên
cứu về thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất xi măng
hiện nay, nhu cầu thông tin của các cấp quản trị trong doanh nghiệp, tác giả hoàn
thiện mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt
Nam với hai nhân tố cấu thành là mô hình bộ máy kế toán QTCP kết hợp với công
nghệ sản xuất thông tin về chi phí (Các nội dung và quy trình thực hiện KTQT CP
và các phương pháp, kỹ thuật KTQT CP) để sản phẩm khoa học sẽ mang tính ứng
dụng cao.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tổng hợp các vấn đề lý luận của kế toán
quản trị chi phí trong các doanh nghiệp và đặc điểm của các doanh nghiệp sản xuất
xi măng Việt Nam từ đó xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí vận dụng cho
các doanh nghiệp sản suất xi măng Việt Nam. Để thực hiện được tác giả nghiên cứu
chuyên khảo được biên dịch, tạp trí chuyên ngành trong và ngoài nước, công trình
nghiên cứu khoa học khác như luận án, luận văn, đề tài khoa học... để có thể khẳng
12
định và khái quát lại những mặt đã đạt được của các công trình từ đó tìm ra điểm
trống nghiên cứu. Đồng thời, bằng phương pháp này tác giả có thể tập hợp được các
kiến thức lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu để khái quát thành mô hình kế
toán quản trị chi phí chung cho các doanh nghiệp.
* Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
Các thông tin sơ cấp sẽ được thu thập thông qua điều tra khảo sát các DN.
Khảo sát: Các phiếu khảo sát được thiết kế để thu thập thông tin từ các DN về:
Quy mô và đặc điểm bộ máy quản lý, thẩm quyền và quy trình kiểm soát thông tin
về chi phí; Đặc điểm dây truyền công nghệ sản xuất; Mô hình tổ chức sản xuất.
Thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp: Mô hình bộ máy kế toán
quản trị chi phí; thực trạng các nội dung và phương pháp kế toán quản trị như dự
toán chi phí, định mức chi phí, phương pháp xác định chi phí, phân tích thông tin
về chi phí, báo cáo kế toán về chi phí. Đặc thù ngành nghề kinh doanh và các nhân
tố tác động trực tiếp đến việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị chi phí tại các doanh
nghiệp. Các số liệu này sẽ được tổng hợp để phản ánh thực trạng kế toán quản trị chi
phí tại các doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để khẳng định sự phù hợp của mô hình
xây dựng cho các doanh nghiệp.
Tham vấn ý kiến chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên gia sẽ được thực hiện
thông qua tham vấn ý kiến chuyên gia có trình độ chuyên môn sâu về lý luận (Các
chuyên gia là nhà nghiên cứu có am hiểu sâu sắc về kế toán quản trị chi phí) để hình
thành hệ thống lý luận về mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp sản
xuất và mô hình cụ thể cho ngành xi măng. Về mặt thực tiễn, tác giả tham vấn ý
kiến của nhân viên nghiệp vụ và các cấp lãnh đạo tại các doanh nghiệp sản xuất xi
măng Việt Nam Việt Nam để nghiên cứu đề tài luận án cho ngành sản xuất xi măng.
mô hình kế toán quản trị chi phí tại các DN sản xuất xi măng
Việt Nam
2
Phương pháp phân Phân tích tác động của các nhân tố tới các yếu tố cấu thành
tích định tính.
của hệ thống kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp
sản xuất xi măng Việt Nam.
3
Phân tích so sánh Vận dụng mô hình được lựa chọn vào các doanh nghiệp sản
đối chứng.
xuất xi măng Việt Nam để so sánh, đối chiếu sự tương thích
và phù hợp từ đó khẳng định sự đúng đắn trong lựa chọn mô
hình được xây dựng.
Cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu:
Để có thể thực hiện được mục tiêu nghiên cứu tác giả sẽ thực hiện nghiên cứu
theo quy trình công việc như sau:
14
Mô hình kế toán quản trị chi phí
cho các doanh nghiệp sản xuất
15
chức bộ máy quản lý, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất xi măng. Từ đó, tác giả
xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí phù hợp với các DN SX xi măng Việt Nam.
6. Bố cục của luận án
Ngoài bố cục khác theo quy định, luận án được kết cấu 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh
nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp sản xuất
xi măng Việt Nam
Chương 3: Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp
sản xuất xi măng Việt Nam
16
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI
PHÍ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Quan điểm và bản chất mô hình kế toán quản trị chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh thể hiện những hao phí các nguồn lực đầu vào của
doanh nghiệp cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Kiểm soát chi phí sản xuất kinh
doanh là hoạt động thiết yếu của bất kỳ doanh nghiệp nào. Nhận diện được các loại
chi phí, các nhân tố ảnh hưởng đến phát sinh chi phí nhằm kiểm soát chi phí có thể
cho phép doanh nghiệp tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần làm tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp. Để thực hiện được mục tiêu này, nhà quản trị cần có căn
cứ để đo lường và ra quyết định kinh doanh liên quan trực tiếp đến chi phí như:
Đặc điểm chung của các loại mô hình là không nhất thiết phải giống 100% cái nó
cần thể hiện miễn là nó thoã mãn được yêu cầu cơ bản nhất của người sáng tạo nó
đặt ra.
Mô hình chủ yếu được phân loại theo hai tiêu thức hình thức và chức năng.
Theo hình thức có: Công thức, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, sa bàn, vật mẫu. Theo chức
năng có mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình lô gic, mô hình toán.
Mô hình cấu trúc được vận dụng nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu tổ chức sản
xuất, kinh doanh. Mô hình cấu trúc là mô hình thể hiện các thành phần bên trong
của sự vật, hiện tượng (không nhất thiết hiện tượng, sự vật đó phải là một hệ thống).
Từ mô hình cấu trúc các tác giả đã đưa ra các khái niệm cụ thể về mô hình kinh
doanh như Chesbrough và Rosenbloom (2000); Hamel (2000); Linder và Cantrell
(2000), Petrovic; Osterwalder (2004)…Tác giả đồng tình với khái niệm của
Osterwalder, Pigneur và Tucci(2005) đưa ra: “Một mô hình kinh doanh là một công
cụ quan niệm chứa một bộ có nhiều phần tử và các quan hệ của chúng và cho phép
thể hiện lý luận doanh nghiệp của một công ty nào đó. Nó miêu tả giá trị khả năng
chào hàng của một công ty trong một hoặc nhiều loại khách hàng và nó cũng miêu
tả thuật kiến trúc của công ty và mạng lưới đối tác nó dùng để tạo lập, tiếp thị, giao
hàng giá trị nói trên và vốn liếng quan hệ, nhằm phát sinh các dòng doanh thu có
khả năng lợi nhuận và chống đỡ, kéo dài được”[42]. Đã có nhiều tập đoàn và các
tác giả xây dựng các mô hình kinh doanh riêng cho đơn vị mình như là một bí quyết
để đưa hoạt động kinh doanh đi đến thắng lợi như các mô hình: mô hình con cua;
18
mô hình 3D; mô hình quản lý công việc…Mô hình kế toán quản trị chi phí cũng là
một mô hình cấu trúc vận dụng riêng cho công việc của kế toán quản trị trong bộ
phận kế toán của doanh nghiệp.
Theo quan điểm của tác giả, mô hình kế toán quản trị chi phí thuộc loại mô
hình cấu trúc khái quát hóa các yếu tố cấu thành đồng bộ là công cụ kiểm soát chi
Các hoạt động đầu vào gồm các hoạt động liên quan tới giao dịch với nhà
cung cấp; chuẩn bị sẵn sàng để SX, chế tạo, KD sản phẩm. Các hoạt động SX, chế
tạo gồm các hoạt động liên quan tới việc sử dụng các nguồn lực trong SX, chế tạo,
KD sản phẩm. Các hoạt động đầu ra gồm các hoạt động liên quan với việc giao
19
tiếp, giao dịch với khách hàng. Các hoạt động quản trị, điều hành thể hiện tại sơ đồ
1.2 gồm: lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động, kiểm soát tổ chức và ra quyết định, các
hoạt động này không thể tách rời nhằm phục vụ 3 nhóm hoạt động trên [32, tr20].
Lập kế hoạch
Đánh giá và
Ra quyết định
Tổ chức và
điều hành
hiệu chỉnh
(Kiểm soát)
Kiểm tra
(Kiểm soát)
Sơ đồ 1.2. Các chức năng quản trị doanh nghiệp
Quyết định của nhà quản trị tại từng khâu trong quy trình hoạch định và kiểm
lý; đồng thời phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán tiếp kỳ cho kỳ tương lai.
Để thể hiện tốt vai trò, chức năng cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh
nghiệp cần tổ chức tốt công tác kế toán quản trị chi phí. Quá trình tổ chức phải đảm
bảo tính đồng bộ giữa các yếu tố: Các nội dung kế toán quản trị chi phí, bộ máy kế
toán quản trị chi phí phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Đây là
quá trình thực hiện 3 giai đoạn công việc nói chung của kế toán quản trị: Lập dự
toán; Nhận diện đo lường thông tin của các hoạt động; Phân tích thông tin về kết
quả và hiệu năng của hoạt động.
Như vậy, Mô hình kế toán quản trị chi phí thể hiện khái quát hai yếu tố cấu thành
gồm sự phối hợp của bộ máy nhân sự thực hiện kế toán quản trị chi phí và nội dung,
quy trình cùng các phương pháp, kỹ thuật kế toán quản trị chi phí vận dụng nhằm thực
hiện mục tiêu cung cấp thông tin chi phí cho các cấp quản trị nội bộ đơn vị.
Mô hình kế toán quản trị chi phí
Mô hình bộ máy kế
toán quản trị chi phí
Kết hợp
Công nghệ SX thông tin về CP:
1, Các nội dung và quy trình thực
hiện KTQT CP
2, Các phương pháp, kỹ thuật kế
toán quản trị chi phí
Sơ đồ 1.3: Các yếu tố cấu thành mô hình kế toán quản trị chi phí
21
22
1.2.1. Yêu cầu xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí
Mô hình kế toán quản trị chi phí xây dựng trong doanh nghiệp cần đảm bảo các yêu
cầu như sau:
Cung cấp kịp thời và đầy đủ các thông tin theo yêu cầu của các cấp quản trị nội bộ có
thẩm quyền về chi phí theo từng nội dung, của từng công việc, bộ phận, dự án, sản phẩm,
đơn hàng. Thông tin cung cấp phục vụ việc ra quyết định trong từng giai đoạn quản trị doanh
nghiệp như lập kế hoạch, triển khai kế hoạch, kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện.
Cung cấp chính xác các thông tin theo yêu cầu quản lý của nhà quản trị. Các thông
tin của kế toán quản trị cung cấp mang tính định hướng tương lai như thông tin dự báo hoàn
toàn không thể chủ quan khẳng định được tính chính xác tuyệt đối nhưng cần phải bám sát
với những nghiệp vụ phát sinh trong đơn vị để có thể đảm bảo tính chính xác.
Các thông tin kế toán quản trị cung cấp phải đảm bảo tính chi tiết, cụ thể
phù hợp với nội dung theo yêu cầu thông tin của nhà quản trị. Thông tin kế toán
quản trị cung cấp phải đảm bảo tính so sánh được nhằm nhận diện thông tin
nhanh và chính xác.
1.2.2. Nguyên tắc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí
Mô hình kế toán quản trị chi phí là công cụ cung cấp thông tin cho công tác
quản trị các nguồn lực trong doanh nghiệp. Do vậy, thông tin kế toán quản trị chi
phí cung cấp cần đảm bảo tính đáng tin cậy và có giá trị sử dụng cao đối với quản
trị nội bộ doanh nghiệp. Khi xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cần thực
hiện theo các nguyên tắc:
Nguyên tắc khách quan: Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cần
nắm vững quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, như tính phù hợp với
trình độ quản lý hiện tại và nhu cầu mở rộng cũng như nâng cấp trong tương lai,
có như vậy hệ thống kế toán quản trị chi phí mới có thể cung cấp kịp thời và đầy
nghiệp sẽ lựa chọn mô hình phù hợp. Với kế toán tài chính đang được vận dụng
tại các doanh nghiệp đã thể hiện tính thống nhất trong toàn nền kinh tế quốc dân
nhưng kế toán quản trị, cụ thể là kế toán quản trị chi phí chịu sự tác động của các
nhân tố bên trong và bên ngoài của từng doanh nghiệp khác nhau nên thể hiện
tính đa dạng và phong phú.
Nhân tố môi trường bên ngoài.
Môi trường pháp lý gồm hệ thống các văn bản pháp luật, quy định của Nhà
nước cụ thể là Luật kế toán, chuẩn mực kế toán và các thông tư hướng dẫn định
24
hướng cho hoạt động kế toán trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị cần phải tạo
hành lang pháp lý để định hướng như cho các nội dung kế toán quản trị cụ thể
trong doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp với ngành nghề kinh doanh, quy mô doanh
nghiệp, điều kiện sản xuất và nhu cầu thông tin khác nhau sẽ chủ động lựa chọn
phù hợp. Những định hướng căn bản mang tính pháp lý cần thiết đối với các
doanh nghiệp vận dụng mô hình kế toán quản trị chi phí của đơn vị mình. Các quy
định của pháp luật và văn bản dưới luật đối với hoạt động của ngành nghề cụ thể.
Môi trường kinh doanh là nhân tố tác động đến việc lựa chọn và vận dụng
mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh
cạnh tranh lành mạnh tạo động lực tích cực cho các doanh nghiệp tìm ra các giải
pháp phát huy sức mạnh và năng lực của doanh nghiệp để đứng vững và phát triển
trên thị trường. Đối với môi trường kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh, các
yếu tố độc quyền chi phối thị trường sẽ triệt tiêu ý muốn cải tiến, phát triển của
các doanh nghiệp không có lợi thế. Từ đó tác động tiêu cực đến nhu cầu vận dụng
các phương pháp quản lý hiện đại nhằm đưa ra các giải pháp phát huy hiệu quả
nguồn lực và các điều kiện sản xuất của doanh nghiệp.
Môi trường thông tin tích cực cũng là động lực tốt khuyến khích các doanh
các tổ chức có quy mô lớn và bố trí phòng ban theo chức năng thì việc chính thức
hóa hệ thống thông tin được quy chuẩn thông qua chi phí tiêu chuẩn, hệ thống kế
hoạch là cơ sở kiểm soát hoạt động và đảm bảo tính đáng tin cậy của thông tin. Xây
dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cụ thể là xây dựng các trung tâm chi phí và
trung tâm trách nhiệm nhằm đánh giá tính tiết kiệm, kết quả và hiệu quả theo từng
bộ phận.
Nhân tố quy trình công nghệ: Loại hình quy trình công nghệ sản xuất, tính
phức tạp của quy trình công nghệ tác động trực tiếp đến địa điểm phát sinh chi phí.
Mức độ hao tốn các nguồn lực tại các giai đoạn công nghệ, các khâu sản xuất là đối
tượng quan tâm và kiểm soát của các nhà quản trị. Do đó, việc thiết kế mô hình kế
toán quản trị chi phí phải phù hợp với quy trình công nghệ để nhận diện, xác định
và tính đúng các loại chi phí phát sinh để có các giải pháp tiết kiệm chi phí cụ thể.
Nhân tố trình độ và năng lực nhân sự: Trình độ và năng lực của nhà quản lý
quyết định trực tiếp đến khả năng có cho phép vận dụng mô hình kế toán quản trị
chi phí tại doanh nghiệp hay không. Đồng thời, sản phẩm của quá trình hệ thống