Thực trạng phát triển ngành dịch vụ trên địa bàn thành phố viêng chăn - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Phát triển ngành dịch vụ là một xu hướng tất yếu đang diễn ra
trên thế giới. Đó là một trong những mục tiêu rất quan trọng trong
việc phát triển kinh tế đất nước. Trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế, dịch vụ sẽ ngày càng đóng góp tỉ trọng lớn vào sự phát
triển kinh tế đất nước. Bởi dịch vụ vừa là cầu nối giữa các yếu tố
“đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất, thúc đẩy phân công
lao động xã hội, vừa tác động tích cực đến sự phát triển cơ bản,
toàn diện của các ngành công nghiệp và nông nghiệp. Thành phố
Viêng Chăn là vùng trọng điểm phát triển công nghiệp của nước
Lào, thu hút ngày càng nhiều lao động đến sinh sống nên nhu cầu
về dịch vụ tăng nhanh. Thực tế trên địa bàn Thành phố Viêng Chăn
thời gian qua, cơ cấu ngành dịch vụ có chuyển biến tích cực, phát
triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, thu hút được sự tham gia của
nhiều thành phần kinh tế và tỉ trọng đóng góp GDP của ngành
không ngừng tăng cao. Tuy nhiên quy mô của ngành dịch vụ trên
địa bàn Thành phố Viêng Chăn còn nhỏ bé, chưa phát triển tương
xứng với tiềm năng, nhiều thị trường tiêu thụ còn bỏ ngỏ. Sự tác
động của ngành dịch vụ tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành
phố Viêng Chăn không cao và còn hạn chế trong việc đảm bảo tính
ổn định của cơ cấu kinh tế trong vùng đồng thời sự gắn kết giữa
các ngành dịch vụ chưa được chặt chẽ, nhiều loại hình dịch vụ còn
nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền.


2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Từ góc độ kinh tế - chính trị, nghiên cứu sự phát triển ngành
dịch vụ với tư cách là một hoạt động kinh tế đặc thù, một khâu
trong quá trình tái sản xuất.
Đề tài tập trung nghiên cứu sự phát triển ngành dịch vụ trên

vụ trên địa bàn Thành phố Viêng Chăn.
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH DỊCH VỤ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VIÊNG CHĂN
1.1. Ngành dịch vụ và sự cần thiết phát triển ngành dịch vụ
trên địa bàn thành phố viêng chăn
1.1.1.

Khái niệm, phân loại và vai trò của ngành dịch vụ

1.1.1.1. Khái niệm ngành dịch vụ
Tuy nhận thức chung về dịch vụ tương đối đồng nhất nhưng
khái niệm về dịch vụ là một vấn đề chưa hoàn toàn sáng tỏ. Mỗi
một khái niệm xuất phát từ sự nhìn nhận về dịch vụ trên một khía
cạnh khác nhau nên luôn có sự khác nhau nhất định.


Theo quan điểm truyền thống thì dịch vụ là “những sản
phẩm vô hình được sản xuất để đáp ứng một nhu cầu nào đó của
người tiêu dùng vì mục đích sinh lời. Trước đây theo quan điểm
của các nhà kinh tế thì của cải vật chất được hình thành trong xã
hội là do các ngành sản xuất đem lại, như các ngành nông
nghiệp, công nghiệp, xây dựng… Trong khi đó, các ngành dịch
vụ được coi là không tạo ra giá trị mới và do vậy sản phẩm của
ngành này được coi là vô hình. Tuy nhiên, định nghĩa này cũng
dựa trên tính chất cơ bản của dịch vụ và làm rõ được 2 vấn đề:
Thứ nhất, dịch vụ là một sản phẩm, là kết quả của quá
trình lao động và sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó
của con người.
Thứ hai, khác với hàng hóa, thuộc tính của dịch vụ là vô

hay dịch vụ do sự đan xen giữa chúng. Nhìn chung, trên góc độ
quản lý, các nước chấp nhận liệt kê một danh mục các sản phẩm
dịch vụ hơn là chỉ đơn thuần xuất phát từ khái niệm, ví dụ như
Hệ thống phân loại hàng hóa chủ yếu (CPC) của Liên Hiệp
Quốc.


Dịch vụ có các đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, dịch vụ là vô hình nên khó xác định: Quá trình
sản xuất tạo ra sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa…
Nhất định, có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất
theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ
không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm cụ thể,
không cầm nắm được và do đó khó có thể xác định chất lượng
dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa.
Chính vì vậy các công tác lượng hóa, thống kê, đánh giá chất
lượng và quy mô cung cấp dịch vụ của một công ty, nếu xét ở
tầm vĩ mô trở nên khó khăn hơn so với hàng hóa hữu hình rất
nhiều.
Thứ hai, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu
dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản
xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Do đó, hàng
hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi
khác theo cung cầu của thị trường. Khác với hàng hóa, quá trình
cung ứng dịch vụ gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Thông thường,
việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người
cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ.
Thứ ba, dịch vụ không lưu trữ được. Do sản xuất và tiêu
dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất được
dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.

chốt là công nghiệp và nông nghiệp thì ngày nay lĩnh vực được
quan tâm đến nhiều cũng như chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
GDP lại là lĩnh vực dịch vụ.
1.1.1.2. Phân loại ngành dịch vụ
Vấn đề phân loại dịch vụ hiện nay trên thế giới có rất nhiều
cách phân chia ngành dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào mục đích
khác nhau. Các tiêu thức để phân chia ngành dịch vụ:
Dịch vụ mang tính thương mại và dịch vụ không mang tính
thương mại:
Dịch vụ mang tính thương mại là những dịch vụ được thực
hiện, được cung ứng nhằm mục đích thu lợi nhuận và vì mục
tiêu là kinh doanh. Ví dụ dịch vụ quảng cáo để bán hàng, dịch
vụ môi giới…
Dịch vụ không mang tính chất thương mại (dịch vụ phi
thương mại) là những dịch vụ được cung ứng không nhằm mục
đích kinh doanh, không vì mục đích thu lợi nhuận. Những dịch
vụ này bao gồm các dịch vụ công cộng, thường do các Đoàn thể,
các tổ chức xã hội phi lợi nhuận cung ứng hoặc do các cơ quan
Nhà nước cung ứng khi cơ quan này thực hiện chức năng nhiệm
vụ của mình.


Cách phân loại này giúp chúng ta xác định mục tiêu, đối
tượng và phạm vi của ngành dịch vụ. Không phải tất cả các loại
dịch vụ đều có thể được trao đổi hay mua bán. Rất nhiều dịch vụ
không thể thương mại hóa được, ví dụ như dịch vụ công cộng.
Chỉ khi nào dịch vụ trở thành một “hàng hóa” thực sự (hàng hóa
vô hình), được mua bán, trao đổi (cung cấp) trên thị trường theo
đúng quy luật cung cầu và các quy luật của thị trường như các
hàng hóa hữu hình khác thì lúc đó dịch vụ mới trở thành đối

Thương mại dịch vụ (tiếng Anh là trade in service) là khái
niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ hay
khái niệm dùng để nhấn mạnh khía cạnh thương mại, tính chất
thương mại trong lĩnh vực dịch vụ hay nói cách khác thương
mại dịch vụ là sự trao đổi dịch vụ giữa các cá nhân tổ chức với
nhau vì mục đích kinh doanh sinh lời. Như vậy thương mại dịch
vụ khác với thương mại hàng hóa ở đối tượng trao đổi, đối với
thương mại hàng hóa thì đối tượng trao đổi là hàng hóa - các sản
phẩm hữu hình, còn đối với thương mại dịch vụ thì đối tượng
trao đổi lại là dịch vụ - các sản phẩm vô hình.


Về bản chất thương mại dịch vụ là sự trao đổi, mua bán các
loại dịch vụ trong đó người mua được thỏa mãn nhu cầu về dịch
vụ đó, còn người bán (nhà cung cấp dịch vụ) cung ứng được
dịch vụ cần tiêu thụ và thu được lợi nhuận.
WTO/GATT đã phân biệt 4 hình thức cung cấp dịch vụ
như sau:
Phương thức 1: (Cung cấp qua biên giới) là việc doanh
nghiệp dịch vụ của một nước bán hay cung cấp cho người tiêu
dùng của nước khác thông qua các hệ thống thông tin, viễn
thông ví dụ: Dịch vụ tư vẫn kỹ thuật, thiết kế, tư vấn pháp lý,
dịch vụ điện thoại quốc tế…
Phương thức 2: (Tiêu dùng dịch vụ ngoài lãnh thổ) là
doanh nghiệp dịch vụ của một nước bán dịch vụ cho người tiêu
dùng của nước khác tại nước mình. Trường hợp này đòi hỏi
người tiêu dùng của nước mua sang nước bán để sử dụng dịch
vụ. Ví dụ người tiêu dùng A sang nước B để du lịch hoặc khám
chữa bệnh.
Phương thức 3: (Hiện diện thương mại) là việc doanh


phẩm hữu hình. Với cách hiểu này người ta cho rằng dịch vụ
thương mại là một nhánh nhỏ, là một bộ phận ngành nhỏ trong
toàn bộ hệ thống ngành thương mại dịch vụ, là một bộ phận của
ngành thương mại dịch vụ có quan hệ chặt chẽ với thương mại
hàng hóa. Nhưng hiểu một cách chính xác hơn thì dịch vụ
thương mại là một sản phẩm và là một bộ phận của dịch vụ.
Dịch vụ thương mại là một khái niệm cho hoạt động dịch vụ
trong ngành thương mại.
Từ khái niệm về dịch vụ và dịch vụ thương mại ta có thể
phân biệt hai loại hình này như sau:
Thương mại dịch vụ là khái niệm rộng dùng để chỉ tất cả
các hành vi cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích thu
lợi nhuận. Như vậy chỉ các dịch vụ được đem ra mua bán trên
thị trường nhằm thu lợi nhuận thì mới được coi là mang tính
chất thương mại và nằm trong khái niệm thương mại dịch vụ.
Còn dịch vụ thương mại là nghĩa hẹp hơn, chỉ bao gồm các loại
hình dịch vụ phục vụ cho việc sản xuất, mua bán, trao đổi hàng
hóa trên thị trường. Như vậy khái niệm thương mại dịch vụ bao
trùm khái niệm dịch vụ thương mại. Nhưng đây chỉ là cách hiểu
ở những nước có thương mại dịch vụ không phát triển, do đặc
điểm của cơ sở kinh tế, do trong lịch sử cũng như do cách quan
niệm của nền kinh tế kém phát triển đặc biệt là do nền kinh tế kế
hoạch hóa, xuất phát từ quan điểm không thừa nhận thương mại


là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nên ở những nước
này người ta không quan tâm đến vai trò của thương mại hàng
hóa cũng như vai trò của thương mại dịch vụ.
Ngày nay, cách nhìn nhận trên về thương mại dịch vụ đã

hàng hóa trở thành một chức năng độc lập tách khỏi sản xuất.
Thương mại là một trong những ngành kinh tế quốc dân độc lập,
ra đời và phát triển cùng với sự phân công lao động xã hội.
Thương mại còn là một lĩnh vực hoạt động nằm trong một khâu
của quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm: thương mại hàng hóa
và thương mại dịch vụ. Như vậy thương mại dịch vụ chính là
quá trình mà ở đó các sản phẩm dịch vụ được cung cấp từ nhà
cung ứng dịch vụ tới tay người tiêu dùng dịch vụ. Dịch vụ
thương mại là một sản phẩm và là một bộ phận của dịch vụ.
Dịch vụ bao gồm rất nhiều ngành như: Dịch vụ tài chính, dịch
vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ hàng hóa…
Dịch vụ thương mại là một khái niệm cho hoạt động dịch vụ
trong ngành thương mại.


1.1.1.3. Vai trò của ngành dịch vụ trong nền kinh tế thị
trường
Thứ nhất: Ngành dịch vụ là bộ phận cấu thành và càng giữ
vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nếu như một nền kinh tế mà không có sự trao đổi hàng hóa
thì nền kinh tế đó sẽ diễn ra như thế nào?, Các thương nhân sẽ
sử dụng phương tiện chuyên chở của mình đưa hàng hóa từ nơi
cung cấp đến nơi tiêu thụ, tự tìm kiếm khách hàng và việc mua
bán thanh toán được diễn ra trực tiếp. Trong nền kinh tế như
vậy, khối lượng hàng hóa được trao đổi và giao dịch là rất nhỏ,
tốc độ lưu thông hàng hóa chậm và hiệu quả hoạt động trao đổi
hàng hóa thấp. Cùng với sự phát triển của sản phẩm sản xuất,
của lưu thông và trao đổi hàng hóa đã diễn ra quá trình phân
công lao động ở đó một số công đoạn trong quá trình phân phối
đã được tách riêng bằng việc hình thành các thương nhân

phối, bảo hiểm…) để sản xuất và tiêu thụ. Những quốc gia có
mức thu nhập cao hơn sẽ có điều kiện hơn để đầu tư cả về cơ sở
vật chất và nguồn nhân lực cho sự phát triển và mở rộng khu


vực dịch vụ hơn các nước khác. Hiện nay các nước có đóng góp
vào GDP cao là Mỹ (72%), Pháp (71%), Nhật Bản (60%)… Một
số nước ở Đông Nam Á có tỷ lệ đóng góp của ngành dịch vụ
vào GDP khá cao như Thái Lan (50%), Malaysia (45%)…
Ngành dịch vụ góp phần thúc đẩy sản xuất, lưu thông,
phân phối hàng hóa, thúc đẩy thương mại hàng hóa phát triển
trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế.
Các ngành dịch vụ là cầu nối giữa các yếu tố đầu vào và
đầu ra trong quá trình sản xuất hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm.
Buôn bán quốc tế, đặc biệt là buôn bán hàng hóa sẽ không thể
vận hành nếu như không có dịch vụ vận tải, dịch vụ thanh toán.
Chính sự ra đời và phát triển của dịch vụ đã góp phần khắc phục
được trở ngại về địa lý, đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa,
thúc đẩy nhu cầu buôn bán, trao đổi hàng hóa từ nước này sang
nước khác, từ khu vực địa lý này sang khu vực địa lý khác.
Trong quá trình chuyên chở hoặc lưu thông, hàng hóa luôn bị đe
dọa bởi những rủi ro nên sự ra đời của dịch vụ bảo hiểm làm
cho thương mại quốc tế trở nên an toàn hơn, ít tổn thất hơn. Các
dịch vụ ngân hàng cũng cho phép khâu thanh toán được diễn ra
một cách có hiệu quả, giúp cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu
đạt được mục đích trong quan hệ buôn bán. Các dịch vụ viễn
thông, thông tin cũng có vai trò hỗ trợ cho các hoạt động thương
mại trong việc kích cầu, rút ngắn thời gian ra quyết định mua



dịch vụ vận tải, 10USD cho dịch vụ viễn thông, 10USD cho
dịch vụ quảng cáo, 30USD cho các dịch vụ khác có liên quan tới
sản xuất và chỉ có 20USD cho nguyên vật liệu và còn lại là các
chi phí khác như tiền lương, quản lý… Như vậy giá trị dịch vụ
trong một sản phẩm chiếm tới 60% giá trị của hàng hóa và tỷ lệ
này ngày càng có xu hướng gia tăng với sự phát triển của khoa
học kỹ thuật và sự xuất hiện các phương thức kinh doanh mới.
Ngành dịch vụ có tác động tích cực đối với phân công lao
động xã hội.
Thương mại hình thành và phát triển gắn liền với sự phân
công lao động xã hội. Hay nói cách khác, phân công lao động xã
hội là tiền đề cho sự ra đời và phát triển thương mại. Ngược lại
sự phát triển của thương mại cũng góp phần làm cho phân công
lao động sâu sắc hơn. Đặc biệt trong sản xuất ngày càng chuyên
môn hóa cao hơn. Các nhà sản xuất tận dụng được lợi thế về quy
mô bằng việc chỉ chuyên môn hóa trong lĩnh vực sản xuất cụ thể
và sử dụng một cách hiệu quả các dịch vụ thương mại do các
nhà cung ứng dịch vụ cung cấp. Nền kinh tế càng phát triển thì


thương mại dịch vụ càng phát triển phong phú và đa dạng. Hiện
nay, sự phát triển của dịch vụ phản ánh trình độ phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia. Người ta thấy rằng trình độ phát triển kinh
tế của một nước càng cao thì tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu
ngành kinh tế của nước đó càng lớn. Bởi thương mại dịch vụ
phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn
hóa, tạo điều kiện cho các lĩnh vực sản xuất khác phát triển. Sự
tăng trưởng của ngành thương mại dịch vụ là động lực cho sự
phát triển kinh tế.
Vai trò của dịch vụ được phản ánh rõ nét nhất ở số lượng

Bảng 1.1: Cán cân thương mại thế giới giai đoạn 19962003


Năm
Cán
cân
hàng
hóa
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Cán
cân
dịch vụ
Xuất
khẩu
Nhập
khẩu
Cán

ĐVT

Tr.Kíp

1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003

74

63

83

129 1290 1385

Tr.Kíp 1010 1049 1099 1161 1147 1219 1285

cân
hàng
hóa và
dịch vụ

Tr.Kíp

173

141

2

-146

-110

-94

-124


XN
hàng


Tổng
XN
Nguồn: Thống kê của Ngân hàng Thế giới
Thứ ba: Ngành dịch vụ tạo ra một số lượng rất lớn việc làm
cho người lao động.
Ngành dịch vụ đã tạo ra khối lượng việc làm rất lớn cho
người lao động. Tỷ lệ lao động làm trong các ngành dịch vụ không
những ngày càng tăng cao mà còn chiếm tỷ trọng lớn hơn hẳn so
với các ngành kinh tế khác. Ở những nước có trình độ phát triển
cao thì tỷ lệ lao động làm trong ngành này chiếm 70-80% tổng số
lao động của nền kinh tế. Ở các nước đang phát triển số lượng lao
động chưa chiếm ưu thế như ở các nước phát triển song có thể thấy
xu hướng tăng nhanh tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành
dịch vụ là rõ rệt, có khoảng 20-30% số lao động làm việc trong khu
vực dịch vụ và con số này đang tăng với tốc độ rất nhanh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status