Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật - Pdf 35

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dùng pháp luật hoặc đạo đức để cai trị đã trở thành thuật trị nước, an dân từ
ngàn xưa của các nhà nước. Dưới mỗi triều đại, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội đặc thù của mình mà các giai cấp cầm quyền lựa chọn một phương thức
quản lý nhà nước thích hợp, hiệu quả, đó có thể là đức trị (quản lý xã hội bằng đạo
đức), là pháp trị (quản lý xã hội bằng pháp luật) hoặc kết hợp cả hai phương thức đó.
Ở Việt Nam, trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của các triều đại
phong kiến, do chịu ảnh hưởng sâu sắc của các quan điểm Phật giáo, Nho giáo nên
phương thức cai trị xã hội bằng pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật còn bị
xem nhẹ. Chính vì vậy, đạo đức giữ vai trò to lớn trong điều chỉnh các quan hệ xã
hội (QHXH). Cùng với nền văn hóa lúa nước: tương thân, tương ái, đoàn kết, nhân
hòa, khoan dung, trọng nghĩa... hàng loạt QHXH đã được điều chỉnh bằng hệ thống
quy phạm đạo đức. Có thể nói, đạo đức đã len lỏi đến từng mối QHXH, thấm đẫm
trong tư tưởng đối nhân xử thế của người Phương Đông nói chung và người Việt
Nam nói riêng. Khi các QHXH ngày càng phát triển đa dạng và phong phú thì bên
cạnh việc sử dụng các chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh xã hội, các triều đại phong
kiến đã từng bước để ý đến việc xây dựng pháp luật nhằm thể chế hóa những chuẩn
mực đạo đức làm công cụ để điều chỉnh QHXH mang tính công quyền. Trong các
triều đại phong kiến Việt Nam, chúng ta đặc biệt ghi nhận vai trò của triều Lê (Tiền
Lê) với đại biểu Lê Thánh Tông (1442-1497) – Người đã kết hợp nhuần nhuyễn đạo
đức với pháp luật trong thuật trị nước của mình.
Bước sang thời kỳ Pháp thuộc, sự tàn bạo và hà khắc của pháp luật đô hộ lại
càng làm nhân dân có chung tâm lý xa luật, sợ luật bởi sự bóc lột và khai thác kiệt
quệ sức người, sức của, bởi sự bất bình đẳng giữa địa vị của người mất nước và kẻ
cướp nước. Đó là thứ pháp luật thống trị, xa rời những giá trị nhân văn bảo vệ quyền
con người và tất yếu nó bị nhân dân phản đối.
Bước ngoặt có tính lịch sử của thuật dựng nước, giữ nước, xây dựng đất nước
phồn thịnh bằng pháp luật gắn liền với công lao và sự nghiệp giải phóng dân tộc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở Người, đi tìm con đường giải phóng dân tộc, cứu nước,
cứu dân cũng đồng thời là quá trình nhận thức, khẳng định vai trò, giá trị của pháp

đức tồn tại và phát triển lâu bền.
Những năm gần đây, hàng loạt các văn bản pháp luật của nhà nước đã thể
hiện sự pháp luật hóa những giá trị đạo đức thành chuẩn mực pháp luật để điều
chỉnh những quan hệ phát triển không ngừng của đời sống xã hội như Luật Hôn
nhân và gia đình (2000), Bộ luật Lao động (2002), Pháp lệnh cán bộ công chức
(2003), Bộ luật Dân sự (2005)... Bên cạnh đó, sự thừa nhận và khuyến khích của nhà
nước đối với xây dựng hương ước mới, xây dựng bảo tồn những phong tục tập quán
có ý nghĩa trong hình thành và phát triển nhân cách con người mới lại một lần nữa

12


thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của nhà nước về vai trò của đạo đức trong đời sống
xã hội. Có thể thấy giữa pháp luật và đạo đức luôn có mối quan hệ chặt chẽ qua lại
với nhau.
Chỉ thị 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Đẩy
mạnh nghiên cứu tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới"
là một bằng chứng hết sức sâu sắc và rõ ràng trong việc Đảng và Nhà nước nhận
định vai trò to lớn của sự kết hợp giữa pháp luật với đạo đức khi xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn hiện
nay.
Tuy nhiên, việc xây dựng thành một hệ thống chuẩn mực các giá trị đạo đức
mới-đạo đức cách mạng còn là công việc phức tạp và nhạy cảm trong đời sống chính
trị hiện nay. Hiệu quả của sự kết hợp pháp luật và đạo đức trên từng lĩnh vực của đời
sống xã hội cũng là rất khác nhau, nó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách lâu
dài, thống nhất cả về lý luận và thực tiễn để có thể đưa ra một cái nhìn tổng quát và
hữu hiệu, đem lại lợi ích thiết thực cho quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN ở nước ta hiện nay.
Xuất phát từ những lý do phân tích nêu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài:
"Kết hợp pháp luật và đạo đức trong quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay" để làm

5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ta về lý luận
nhà nước, pháp luật và lý luận về QLNN.
Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là các phương pháp nghiên
cứu truyền thống của khoa học xã hội: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn,
phương pháp phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp tâm lý xã hội...
6. Bố cục đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đạo đức và pháp luật;
Chương 2: Thực trạng và giải pháp kết hợp đạo đức và pháp luật trong quản
lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy, Cô khoa Luật - Trường Đại
Học Cần Thơ đã truyền đạt kiến thức cho tác giả trong suốt thời gian ngồi trên giảng

12


đường đại học, giúp tác giả có thể tiếp thu những kiến thức quý giá để hoàn thành
bài viết này.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cám ơn Ths Huỳnh Thị Sinh Hiền đã tận
tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện, quan tâm tốt nhất để giúp đỡ tác giả hoàn
thành tốt luận văn. Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đã có sự cố gắng, nỗ lực của
bản thân cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn nhưng cũng
không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của quý Thầy, Cô để bài viết được hoàn thiện hơn.

12


con người không thể đơn độc, con người phải quan hệ với con người để tác động
vào tự nhiên. Sự tác động lẫn nhau giữa người và người là hệ quả của hoạt động vật

12


chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận
thức.
Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển
của xã hội loài người, C. Mác, Ph. Ăngghen cho rằng "lao động là điều kiện cơ bản
đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người". Rằng "người ta phải ăn, ở, mặc, đi lại
trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật…". Xuất phát từ con người thực tiễn,
chứ không phải con người thuần túy ý thức hay con người sinh học, hai ông đi đến
quan niệm về phương thức sản xuất quyết định đối với toàn bộ các hoạt động của
con người, xã hội loài người. Trong "Lời tựa" của tác phẩm "Góp phần phê phán
chính trị - kinh tế học", Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết
định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức
của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ
quyết định ý thức của họ". Luận điểm này chính là chìa khóa để khám phá tất cả
các hiện tượng xã hội trong đó có đạo đức.
Như vậy, đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở bên
ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự biểu hiện của
những năng lực "tiên thiên", nhất thành bất biến của con người. Với tư cách là sự
phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều kiện sinh hoạt vật chất
của xã hội, của cơ sở kinh tế. "Xét cho cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ
trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh tế của xã hội lúc bấy giờ".
1.1.2. Nguồn gốc của pháp luật
Theo học thuyết Mác - Lênin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử
có cùng quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong, do đó những nguyên nhân làm
xuất hiện nhà nước cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật.

xã hội của đạo đức. Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc thù tính
thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau. Coi đạo đức như là một hình thái
ý thức xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa học cho việc
luận chứng tính dân tộc của đạo đức. Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo
đức vừa chịu chi phối bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý
thức xã hội khác (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo …). Tổng thể những nhân
tố ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau, tạo thành bản sắc dân tộc.
- Tính giai cấp:
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai trò, địa vị
khác nhau trong hệ thống kinh tế, xã hội và do đó mà họ có các lợi ích khác và đối
nghịch nhau. Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã phản ảnh và khẳng
định lợi ích của mỗi giai cấp. Ý thức đạo đức giúp mỗi giai cấp hiểu được lợi ích
của nó, hiểu được những cách thức, biện pháp bảo vệ và khẳng định lợi ích giai
cấp. Mặt khác, mỗi giai cấp đều sử dụng đạo đức của mình như là công cụ bảo vệ
lợi ích của mình. Như vậy, tính giai cấp của đạo đức là sự phản ánh và sự thể hiện
lợi ích của các giai cấp thống trị.
- Tính nhân loại:
Tính nhân loại của đạo đức tồn tại ở hình thức thấp là biểu hiện của
những quy tắc đơn giản, thông thường nhưng lại cần thiết để bảo đảm trật tự bình
thường cho cuộc sống hàng ngày của con người. Biểu hiện cao hơn trong tính
nhân loại của đạo đức lại ở những giá trị đạo đức tiến bộ nhất trong từng giai
đoạn phát triển của lịch sử những giá trị đạo đức này thường thường là những giá trị
đạt được ở giai cấp tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại.
Đi đến tột đỉnh các giá trị đạo đức của giai cấp tiến bộ của từng thời kỳ lịch sử, nhân
loại sẽ bắt gặp đạo đức của mình tương ứng với các thời kỳ lịch sử đó.

12


1.3.2. bản chất của pháp luật


12


dụng trong thực tế đời sống. Mặt khác, nhu cầu về pháp luật là nhu cầu tự thân của
bộ máy nhà nước, nhà nước cần pháp luật để làm công cụ quản lý xã hội. Như vậy,
để phát huy được hết vai trò và sức mạnh của mình pháp luật cần đến nhà nước và
ngược lại.
- Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội:
Trong tổ chức và quản lý kinh tế, pháp luật lại càng có vai trò to lớn. Bởi
vì, chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước có phạm vi rộng và phức
tạp, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ nhà nước cần xác lập, điều hành và
kiểm soát. Do vậy, nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào từng hoạt động mà
chỉ thực hiện việc quản lý ở tầm vĩ mô và mang tính chất hành chính - kinh tế. Quá
trình quản lý kinh tế không thể thực hiện được nếu không dựa vào pháp luật.
- Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới:
Bên cạnh chức năng phản ánh, pháp luật còn có tính tiên phong, định hướng
cho sự phát triển của các quan hệ xã hội. Có thể nói, pháp luật có vai trò quan trọng
trong việc tạo dựng ra những quan hệ mới. Trên cơ sở xác định thực trạng xã hội
với những tình huống cụ thể, điển hình, tồn tại và tái diễn thường xuyên ở những
thời điểm cụ thể trong xã hội nhà nước đề ra pháp luật để điều chỉnh kịp thời và
phù hợp.
- Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang
giao giữa các quốc gia:
Có thể nói, pháp luật là công cụ hữu hiệu giúp nhà nước thực hiện tốt chức
năng đối nội và đối ngoại của mình. Hơn nữa, pháp luật cũng là một tiêu chí quan
trọng để đánh giá mức độ phát triển và văn minh của một quốc gia. Một hệ thống
pháp luật tiến bộ, hoàn thiện sẽ giúp nhà nước củng cố và nâng cao địa vị của mình
trên trường quốc tế.
1.5. Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong nhà nước pháp quyền

Chân-Thiện-Mỹ. Pháp luật và đạo đức cũng có một số điểm khác biệt, song đó
không phải là sự đối lập, mâu thuẫn xung đột với nhau mà sự khác biệt đó thể hiện
điểm mạnh, điểm yếu khác nhau giữa pháp luật và đạo đức khi cùng thực hiện chức
năng điều chỉnh các QHXH.
Thế mạnh của pháp luật là khả năng điều chỉnh rõ ràng, dứt khoát, theo ý chí
của giai cấp cầm quyền đối với các QHXH cơ bản của đất nước. Sự điều chỉnh này
thống nhất trên một phạm vi rộng theo những trình tự, cơ chế luật định, đặc biệt là sự
đảm bảo thực hiện pháp luật bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước với hệ thống cơ quan
bảo vệ pháp luật: Tòa án, Quân đội, Cảnh sát, Nhà tù…
Trong khi đó, thế mạnh của đạo đức lại là khả năng tham gia điều chỉnh tất cả
mọi mối quan hệ xã hội, mọi góc độ tình cảm trong đời sống giữa cá nhân và nhà

12


nước, cá nhân với cá nhân và cá nhân với chính bản thân mình. Bằng cơ chế điều
chỉnh từ bên trong, đạo đức tác động đến đời sống tình cảm, danh dự, uy tín của con
người để từ đó hình thành nhiều cách xử sự phù hợp với chuẩn mực chung của xã
hội, thực hiện chúng bằng niềm tin nội tâm, sự tự giác và sức ép của dư luận xã hội.
Trong QLNN, phương pháp quản lý có hiệu quả nhất là biết kết hợp các phương
thức quản lý khác nhau trên cùng một đối tượng nhằm bổ sung, lấp đầy khoảng
trống trong nhau. Tuy pháp luật và đạo đức không phải là hai công cụ duy nhất được
dùng trong QLNN, song đây là hai công cụ cơ bản đem lại hiệu quả tối ưu và lâu
bền.
Vì vậy, tìm ra một phương thức kết hợp cả hai loại công cụ trên là một công
việc vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật trong QLNN. Điều này là
vô cùng cần thiết với Việt Nam hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta đang tiến hành
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Một mô hình QLNN bằng pháp luật. Tuy nhiên hệ thống pháp luật của ta vẫn chưa
thực sự đầy đủ và đồng bộ, ý thức pháp luật của một bộ phận nhân dân còn chưa
cao, chưa đồng đều. Mặt khác, từng là một nước thuộc địa nửa phong kiến, người

nay. Đây cũng là sự thể chế hóa các quan điểm của Đảng về xây dựng NNPQ trong
thời kỳ đổi mới được bắt đầu đề cập đến từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII, trong
phần “Những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới” đã nêu rõ nhiệm vụ thứ bảy của
chúng ta là “xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Nội dung
chủ yếu của nhiệm vụ này là: Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện NNPQ
Việt Nam, đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt
trong đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng
XHCN. Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở
rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân
và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo. Tiếp đến là các văn kiện của
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX đều nhất quán và làm rõ hơn về mặt
nội dung của nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đó là tăng cường pháp
chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời
coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức. Đặc biệt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X lần
đầu tiên đã đưa ra 5 đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN trong đó nhấn
mạnh đến đặc trưng QLNN bằng Hiến pháp, pháp luật “Đảm bảo cho Hiến pháp và
các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội”. Như vậy, có thể thấy quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN đã từng bước được ghi nhận và hiện thực hóa bởi tính ưu việt vốn có của nó, đã
trở thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ
quá độ đi lên CNXH.
Nhà nước pháp quyền được các độc giả, các nhà lý luận chính trị nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng dù có nghiên cứu để nhận diện dưới bất kỳ góc
độ nào thì đặc trưng cơ bản và hàng đầu của NNPQ đó là Nhà nước quản lý xã hội

12


bằng pháp luật. Pháp luật là tối thượng, là chuẩn mực cao nhất để điều chỉnh hành vi

tại độc lập mà chúng tồn tại trong mối quan hệ hữu cơ gắn bó, tương trợ lẫn nhau.
Đã qua rồi cái thời nhân loại “mò mẫm” nghiên cứu nên theo “Đức trị” hay theo

12


“Pháp trị”, vấn đề bây giờ là đưa ra một phương thức kết hợp hài hòa giữa pháp
luật và đạo đức để đạt hiệu quả điều chỉnh cao nhất. Chỉ có dựa trên nền tảng các giá
trị đạo đức, truyền thống tiến bộ của dân tộc, pháp luật mới dễ triển khai thực hiện
và có sức sống lâu bền, dẻo dai trong cuộc sống. Chỉ có kết hợp hài hòa các giá trị
của pháp luật và của đạo đức, mới có thể tác động tích cực nhất định tới con người,
nhằm xây dựng con người có văn hóa pháp lý cao, có phẩm chất đạo đạo đức lành
mạnh, có ý thức chấp hành tốt pháp luật và các quy tắc, chuẩn mực khác của cộng
đồng xã hội.
Đặc biệt, trong hoạt động xét xử của tòa án, của các cơ quan bảo vệ pháp
luật... sự gắn bó, kết hợp giữa pháp luật và đạo đức càng đóng vai trò quan trọng.
Khi giải quyết những vụ án cụ thể, các hành vi VPPL phải xem xét cả nhân phẩm
của người vi phạm pháp luật pháp luật. Nhiều trường hợp, tình huống cụ thể, thực tế
của vụ án phải được đánh giá bằng cả các tiêu chí pháp luật và đạo đức, nếu không
chúng ta rất khó xác định tính chất hành vi, mục đích tội phạm như thói lưu manh,
côn đồ, trục lợi, vô liêm sỉ, tư lợi, đê hèn, bất nhân. Đặc biệt đối với việc ly hôn,
nuôi dạy con cái, cấp dưỡng sau khi bố mẹ ly hôn… là những trường hợp không chỉ
đòi hỏi ở các chủ thể về mặt trách nhiệm pháp lý mà cả về mặt đạo đức, trách nhiệm,
lương tâm đối với con cái, xã hội.
Trong thực tế, ít khi có sự VPPL mà lại không vi phạm quy tắc đạo đức, vì
vậy khi xét xử, ngoài việc căn cứ vào pháp luật là cán cân công lý, người làm công
tác áp dụng pháp luật còn phải dựa vào đạo đức để xét xử đúng người, đúng tội.
Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đòi hỏi quan trọng về tiêu chuẩn của người
làm công tác xét xử là đạo đức phải trong sáng, vô tư, nhân ái, bao dung, nhưng
cũng hết sức lý trí và nguyên tắc. Luật pháp phải được xây dựng trên cơ sở đạo đức,

nền tảng đạo đức nhất định. Những quan điểm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức đóng
vai trò là tiền đề tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng lên các quy định cụ thể của pháp
luật.
Trong bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại những quan niệm, quan điểm và các quy
tắc nhất định, chúng luôn gắn bó chặt chẽ đối với đời sống con người. Đạo đức hình
thành từ trong cuộc sống hàng ngày của con người, trên cơ sở thừa nhận của cộng
đồng. Khi cộng đồng thừa nhận một quan điểm, quan niệm nào đó, họ thực hiện nó
một cách tự giác bằng lương tâm và tình cảm của họ. Chính vì vậy, khi pháp luật
được xây dựng phù hợp với đạo đức, nó không chỉ được đảm bảo thực hiện bằng các
biện pháp nhà nước mà còn được đảm bảo bằng dư luận xã hội và quan trọng hơn,
nó đã được đảm bảo bằng chính lương tâm, tình cảm của chủ thể. Ngược lại, nếu
không được xây dựng trên cơ sở đạo đức, không phù hợp với đạo đức xã hội, pháp
luật sẽ rất khó đi vào đời sống. Trong trường hợp đó, pháp luật khó có thể được thực
hiện nhờ sự tự nguyện, tự giác của các thành viên trong xã hội. Ngược lại, có khi họ
còn tìm cách chống đối, vi phạm pháp luật đặc biệt là trong các lĩnh vực nhạy cảm
như hôn nhân, gia đình, dân số, sinh sản...

12


Sự tác động của đạo đức đến hoạt động xây dựng pháp luật thể hiện ở chỗ:
Trên cơ sở các quan điểm, tư tưởng đạo đức, nhà làm luật đặt ra các quy phạm pháp
luật không trái với đạo đức xã hội, phù hợp với những quan điểm, tư tưởng đạo đức
ấy và cao nhất là thể chế hóa chúng thành các QPPL. Nó cũng được thể hiện qua
việc nhà làm luật thừa nhận một phong tục, tập quán đạo đức nào đó, biến chúng
thành tập quán pháp, thừa nhận cách giải quyết các vụ việc cụ thể trên thực tế là tiền
lệ pháp để áp dụng giải quyết các vụ việc tương tự về sau. Điều chỉnh hành vi con
người bằng pháp luật, nhà nước không mong muốn gì hơn khi hành vi ấy trở thành
thói quen trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày của họ. Chính vì vậy, pháp luật- công
cụ để tổ chức quản lý xã hội phải được xây dựng trên cơ sở truyền thống đạo đức,

nhận, củng cố, bảo vệ các giá trị đạo đức tiến bộ, pháp luật giữ vai trò quan trọng
trong việc loại trừ những quan điểm, tư tưởng, chuẩn mực đạo đức lạc hậu, phản tiến
bộ ra khỏi đời sống xã hội.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có tính bảo thủ tương đối mạnh mẽ, nó
ăn sâu bám rễ trong tâm lý của mỗi người dân, nó trở thành thói quen xử sự lặp đi, lặp
lại trong từng thành viên của cộng đồng cũng như cả cộng đồng. Có những quan
niệm, quy tắc đạo đức đã từng tồn tại hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm, vì
vậy không đơn giản mà trong một sớm một chiều người dân có thể từ bỏ nó, thay đổi
nó mặc dù điều kiện thực tế cho sự tồn tại của nó đã mất đi.
Trong những trường hợp này, pháp luật là phương tiện hữu hiệu để loại bỏ
chúng, bằng các quy định cụ thể, pháp luật cấm thực hiện những hành vi theo các
quan niệm, quan điểm, đạo đức lạc hậu. Pháp luật quy định các biện pháp tuyên
truyền, vận động các chủ thể trong xã hội, không thực hiện các hành vi theo các
quan niệm, chuẩn mực đạo đức cũ. Pháp luật quy định các biện pháp chế tài nghiêm
khắc đối với các chủ thể thực hiện những hành vi theo quan niệm, tư tưởng đạo đức
cũ, lạc hậu. Đồng thời, pháp luật khuyến khích, kể cả bắt buộc các chủ thể trong xã
hội phải thực hiện những hành vi theo quan điểm đạo đức mới thậm chí có trường
hợp “trái ngược” với quan điểm đạo đức cũ. Tuy nhiên, quá trình xây dựng pháp luật
này, phải lưu ý quan điểm phủ định biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, để kế
thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, tránh tư tưởng cực
đoan, phủ định sạch trơn quá khứ.
Bốn là, kết hợp pháp luật với đạo đức phải góp phần ngăn chặn sự thoái hóa
xuống cấp đạo đức, ngăn chặn việc hình thành những quan niệm, quan điểm đạo
đức trái thuần phong mỹ tục của dân tộc và tiến bộ xã hội, định hướng thúc đẩy việc
hình thành những quan niệm đạo đức mới.
Pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp
của đạo đức. Khi các giá trị đạo đức truyền thống không được nhận thức đúng mức,
công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức trong gia đình, nhà trường bị coi nhẹ, khi
những quan niệm, quan điểm đạo đức bên ngoài có điều kiện ảnh hưởng mạnh mẽ đến
quan niệm sống, lối sống của người dân trong nước thì các giá trị đạo đức truyền

cộng đồng thừa nhận và được thực hiện nghiêm chỉnh, tự nguyện, tự giác tích cực
với niềm tin nội tâm. Trong trường hợp này, pháp luật đã mang tính đạo đức, các
quan điểm, quan niệm về pháp luật vì thế cũng trở thành các quan niệm, tư tưởng
đạo đức. Khi đó cộng đồng đánh giá một con người không chỉ dựa trên các tiêu chí
đạo đức mà còn dựa trên thái độ, ý thức của họ đối với pháp luật, hành vi thực hiện
pháp luật của họ. Sẽ không được đánh giá là một con người hoàn hảo từ góc nhìn của
đạo đức, nếu người đó có các hành vi VPPL. Như vậy, có thể thấy pháp luật trong

12


những trường hợp này đã định hướng và góp phần hình thành những quan niệm, quan
điểm đạo đức mới.
Trong điều kiện hiện nay, rất nhiều quan niệm, quan điểm đạo đức mới đang
hình thành, cần được cổ vũ và thừa nhận. Bằng việc thừa nhận, khuyến khích các
hành vi thể hiện những quan điểm đạo đức mới, pháp luật góp phần khẳng định một
cách chính thức những quan niệm, quan điểm đạo đức đó. Khi ấy, những quan niệm,
quan điểm đạo đức mới tồn tại một cách chính thức và không thể đảo ngược. Việc
làm hình thành những quan niệm, quan điểm đạo đức mới cũng thể hiện ngay trong
việc pháp luật loại trừ những quan điểm, quan niệm đạo đức cũ lạc hậu. Như trên đã
trình bày, một trong những cách loại bỏ những quan niệm đạo đức cũ là cấm chỉ và
trừng trị nghiêm các hành vi theo đạo đức cũ, đồng thời khuyến khích thậm chí bắt
buộc thực hiện những hành vi theo quan điểm đạo đức mới. Bằng cách đó, pháp luật
góp phần khẳng định quan điểm đạo đức mới, tạo cơ sở cho nó tồn tại, phát triển
một cách hợp pháp lâu bền.

12


CHƯƠNG 2


12


khi xã hội Việt cổ bước vào thời kỳ có nhà nước cho đến khi chính thức có pháp luật
thành văn là một khoảng cách quá dài so với nhiều quốc gia khác. Mãi đến thời nhà
Lý, nước ta mới chính thức có pháp luật thành văn (Bộ Hình thư ban hành năm
1042). Luật pháp Việt Nam ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của Nho giáo,
mang đậm dấu ấn Nho giáo.
Trong số bốn bộ luật của thời kỳ phong kiến Việt Nam, bộ luật Hồng Đức
(Quốc Triều Hình luật) dưới thời Lê Thánh Tông được coi là tiêu biểu nhất. Bộ luật
được xây dựng trên cơ sở đạo đức Nho giáo là cơ bản, ngoài ra cũng thể hiện các giá
trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Việc ghi nhận đó xét đến cùng chính là nghệ
thuật cai trị xã hội của Nhà nước, là điều kiện đảm bảo sự tồn tại của chính bản thân
pháp luật, là chính sách thông minh, dũng cảm của các nhà làm luật Triều Lê.
Do những điều kiện khách quan về địa lý, khí hậu, đặc trưng của nền sản xuất
nông nghiệp, đấu tranh liên miên... nên trong giai đoạn này, đạo đức chiếm ưu thế
hơn trong việc điều chỉnh các QHXH. Lối sống tình nghĩa “thương người như thể
thương thân” là triết lý phát triển đạo đức Việt Nam. Truyền thống đấu tranh dựng
nước và giữ nước, ý thức cộng đồng dân tộc là nền tảng cho sự hình thành và phát
triển những nhân tố tích cực trong pháp luật của Nhà nước phong kiến Việt Nam qua
nhiều thế kỷ.
Nhìn từ một góc độ khác, với ưu thế điều chỉnh của đạo đức, con người
dường như hòa tan vào cộng đồng, vai trò cá nhân ít được thể hiện. Sự cấu kết của cá
nhân với cộng đồng trở thành yêu cầu đạo đức, chính nó quy định ý nghĩa cuộc đời mỗi
cá nhân. Người ta coi thực hiện bổn phận đạo đức đối với người khác, với xã hội là
niềm vui, là nhu cầu cuộc sống. Đức hy sinh, sự cam chịu, phục tùng thụ động đã được
coi là những phẩm chất nổi trội của cá nhân con người trong xã hội cổ truyền. Con
người hầu như không có khái niệm về quyền pháp lý mà chủ yếu là bổn phận, đạo đức.
Pháp luật đối với người dân quá xa lạ và đồng nghĩa với trừng phạt nên họ thường thờ

Khuynh hướng chung của việc điều chỉnh pháp luật thời kỳ này là tập trung
khẳng định và củng cố nền kinh tế hiện vật, phương pháp lãnh đạo hành chính bao
cấp, mệnh lệnh, là việc đề ra vô số những cấm đoán và hạn chế, tiêu diệt tính năng
động, tự chủ, sáng tạo của con người. Con người từ phương diện pháp lý và đạo đức
chủ yếu được quan tâm, đánh giá với tư cách là một thực thể xã hội, nặng về nghĩa
vụ, bổn phận, trách nhiệm với tập thể. Nhìn chung, các văn bản pháp luật không tạo
được động lực cho sự phát triển xã hội, phát triển cá nhân một cách toàn diện. Công
tác xây dựng pháp luật chủ yếu mang tính giải pháp tình thế và áp đặt chủ quan,
nhiều khi thoát ly thực tế. Thực trạng kinh tế, xã hội và pháp luật đó đã dẫn đến một
hệ quả về mặt ý thức là sự coi thường, thờ ơ, bất chấp pháp luật, tâm lý ngại ra pháp
luật, ra pháp luật đồng nghĩa là xấu, là liên lụy, phạm pháp.
Bước sang thời kỳ đổi mới đất nước, dưới tác động của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, pháp luật và đạo đức đều có sự biến đổi mạnh mẽ. Phạm vi điều

12



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status