Mối quan hệ
giữa chính
sách và
pháp luật
1
Mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật
Với những đặc thù riêng, chính sách và pháp luật tác động
đến đời sống xã hội theo các mức độ khác nhau, nhưng
chúng có mối quan hệ gắn kết, phối hợp, hỗ trợ cho nhau
cùng phát huy tác dụng đối với các hoạt động kinh tế – xã
hội. Từ thực tiễn Việt Nam, tác giả đề cập đến nội dung
nêu trên và liên hệ đến việc đổi mới quy trình lập pháp của
Quốc hội
Khái quát về pháp luật và chính sách
Pháp luật là nh
ững quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, do Nh
à
nước ban hành theo trình t
ự, thủ tục luật định nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội và đư
ợc bảo đảm thực hiện bằng
sức mạnh của Nhà nước. Pháp luật một mặt hư
ớng dẫn,
điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ x
ã
ộng
nhanh và kịp thời, mạnh mẽ, toàn di
ện đến cả nhận thức,
thái độ và hành vi c
ủa các chủ thể bị tác động. Đặc biệt,
chính sách điều chỉnh động cơ, tạo động lực cho h
ành vi,
hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể.
Chính sách có vai trò định hư
ớng cho các hoạt động kinh
tế – xã hội; khuyến khích các hoạt động kinh tế – xã h
ội
theo định hư
ớng; phát huy những mặt tốt của nền kinh tế
thị trường và hạn chế những tiêu c
ực của nó; tạo lập sự
cân đối trong phát triển; kiểm soát và phân ph
ối nguồn lực
cho quá trình phát triển; tạo lập môi trư
ờng thích hợp cho
các hoạt động kinh tế – xã h
ội, giúp cho các thực thể vận
đ
ộng phát triển theo đúng quy luật; phối hợp hoạt động
giữa các cấp độ, các bộ phận để tạo nên tính h
ệ thống chặt
chẽ trong quá trình vận động của thực thể.
Mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật
Vai trò của chính sách đối với pháp luật
ổn định.
Điều này có nghĩa, khi m
ột chính sách có quá nhiều thay
đổi hoặc không có những lộ trình c
ụ thể sẽ gây khó khăn,
phức tạp cho việc xây dựng và thực thi pháp luật. Vì v
ậy,
các nhà ho
ạch định chính sách phải tính toán thời gian,
điều kiện áp dụng để đưa chính sách vào cu
ộc sống. Đồng
thời, họ phải là những người có khả năng chia vi
ệc thực
thi chính sách thành các giai đo
ạn khác nhau với các mục
tiêu và lộ trình cụ thể, tránh những bất lợi cho quá tr
ình
xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Thứ ba, chính sách là m
ột trong các nguồn tạo ra những
thể chế pháp luật mới. Hay nói cách
khác, do chính sách là
công cụ thể hiện thái độ chính trị của Đảng lãnh đ
ạo để
điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra theo định hư
ớng,
nên pháp luật được ban hành cùng các quy đ
ịnh cụ thể cho
mỗi loại quan hệ. Thông thường, sau khi Nhà nư
ớc ban
có tính linh hoạt và thích nghi với thực tế xã hội cao h
ơn
pháp luật nhưng không thể tồn tại và phát huy tác d
ụng
nếu thiếu pháp luật bởi hệ thống pháp luật tạo n
ên khuôn
khổ pháp lý quy định và điều chỉnh tất các các quan hệ x
ã
hội. Chính sách do Nhà nước ban hành phải căn cứ vào h
ệ
thống pháp luật hiện hành và về nguyên tắc không đư
ợc
trái với các quy định của pháp luật. Do đó, không th
ể xây
dựng chính sách có hiệu quả và kh
ả thi khi không nắm
được tất cả những quy định pháp lu
ật đang điều chỉnh lĩnh
vực liên quan đến chính sách đó.
Ví dụ: Điều 5, Hiến pháp năm 1992 quy định “
Nhà
nư
ớc thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng
bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng b
ào
5
dân tộc thiểu số”. Từ quy định này, nhiều chính sách d
ành
cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được hoạch định và th
thực thi chính sách mới. Về nguyên t
ắc, khi hoạch định chính
sách phải căn cứ vào nhiều yếu tố, trong đó có căn c
ứ pháp
luật. Tuy nhiên, vi
ệc hoạch định chính sách có thể bị cản trở
khi pháp lu
ật chứa đựng trong bản thân nó những yếu tố
không bền vững, thiếu tính khả thi và thường xuyên thay đổi.
Thứ hai, ho
ạch định chính sách mới cũng thách thức sự
nhất quán, không mâu thu
ẫn của hệ thống pháp luật quốc
gia, nhất là khi h
ệ thống chính sách thiếu nhất quán, mâu
6
thu
ẫn, hạn chế lẫn nhau giữa các chính sách chung của
qu
ốc gia hoặc giữa các chính sách của quốc gia với các
chính sách cụ thể của từng địa phương… Ví d
ụ: chính sách
nhập khẩu xe gắn máy của cơ quan nhà nước ở trung
ương
không phù hợp với chính sách điều tiết, quản lý cơ s
ở hạ
tầng giao thông của các địa phương nên bu
ộc nhiều địa
đồng bộ hệ thống pháp lu
ật. Đặc biệt quan tâm đến mối
quan hệ giữa chính sách và pháp luật vì nh
ững phân tích
trên đã khẳng định vai trò c
ủa chính sách đối với việc xây
7
dựng đồng bộ hệ thống pháp luật. Thiết nghĩ, các nh
à
hoạch định chính sách và pháp luật nên th
ực hiện song
song một số giải pháp sau:
Yêu cầu đối với hoạch định chính sách
- Coi trọng việc tập hợp các thông tin pháp luật li
ên
quan đến việc hoạch định các chính sách đ
ể tránh mâu
thuẫn, chồng chéo và đ
ể các văn bản quy phạm pháp luật
được xây dựng trên nền tảng hệ thống chính sách t
ương
đối ổn định.
- Quan tâm đến sự hài hoà các l
ợi ích bằng việc dự liệu
các tác động trước mắt và ảnh hưởng lâu dài c
ủa chính
sách đối với bản thân đối tượng được thụ hưởng và v
ới
toàn xã hội trên cơ sở tính toán cụ thể các biện pháp nh
bồi dưỡng.
- Tính đ
ến mặt trái của chính sách, bảo đảm không để
chính sách bị lợi dụng. Vi
ệc tính toán không chỉ giúp hạn
chế những thiệt hại về vật chất mà còn c
ả những thiệt hại
về tinh thần, trong đó quan trọng nhất là ni
ềm tin của nhân
dân vào chính sách, pháp luật Nhà nước, nhất l
à trong quá
trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã h
ội chủ nghĩa ở
nước ta.
- Tính toán thời điểm công bố chính sách, nhất là nh
ững
chính sách mang tính nhạy cảm đến lợi ích của người dân.
Trong trường hợp cần thiết nên tiến hành các ho
ạt động
thăm dò phản ứng và dư luận xã hội trước khi công bố.
Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội
Phân tích và quyết định chính sách trước khi bắt tay v
ào
việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, vấn đề n
ày
cần được làm mạnh và triệt để hơn để có cái nhìn tổng thể
,
lựa chọn được những giải pháp tối ưu, bư
ớc đi thích hợp
năng xây dựng chính sách và pháp luật ở các trường đ
ào
tạo chuyên ngành. Hiện nay, phần lớn những ngư
ời hoạch
định chính sách và pháp luật thực thi nhiệm vụ trên cơ s
ở
kinh nghiệm và quá trình học tập không bài bản, nên d
ẫn
đến những bất cập của chính sách và pháp luật l
àm cho
những quy định trên văn bản khó phát huy đư
ợc tác dụng
và hiệu quả thực tế, dẫn đến phải sửa đổi, b
ổ sung nhiều
lần trong một khoảng thời gian ngắn.
Để thực hiện có hiệu quả quyền h
ành pháp và tư pháp,
Nhà nước đã thành lập Học viện Hành chính qu
ốc gia,
Học viện Tư pháp, Trường Cao đẳng kiểm sát, Trư
ờng
Bồi dưỡng thẩm phán. Nên chăng, trong một tương lai g
ần
nước ta sẽ hình thành Trường Đào t
ạo kỹ năng lập pháp để
đào tạo đội ngũ cán bộ lập pháp chuyên nghi
ệp, đồng thời,
tháo gỡ đư
ợc khó khăn cho các đại biểu dân cử hiện nay
trong việc tham gia xây dựng pháp luật. /.
Việc giải quyết nhằm thay đổi hoặc duy trì một hiện trạng
nào đó. Khi nói tới chính sách công là bao gồm những dự
định của nhà hoạch định chính sách và các hành vi thực
hiện những dự định đưa lại kết quả thực tế. Vì vậy, chính
sách công được hiểu là "Những quy định về sự ứng xử của
nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng
đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm
C
12
thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng" (1). Hay chính
sách công cũng chính là "Một chuỗi các quyết định hành
động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung
đang được đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục
tiêu xác định" (2).
Ở nước ta, chính sách được hiến định tại Điều 26 Hiến
pháp 1992, sửa đổi năm 2001: "Nhà nước thống nhất quản
lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách ". Như vậy, chính sách công là một trong những
công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Song hiện nay đang tồn
tại cụm từ "chính sách của Đảng và Nhà nước". Thực tế, ở
nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc
vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính
sách - Đó chính là những căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban
13
trình hoạch định chính sách do nhà nước ta ban hành, theo
tôi, được thực hiện theo sơ đồ sau:
Quy trình hoạch định chính sách ở nước ta được thực
hiện tuần tự các bước như sau: Nêu lý do hoạch định chính
sách, xây dựng dự thảo các phương án chính sách, lựa chọn
phương án dự thảo tốt nhất, hoàn thiện phương án lựa chọn,
thẩm định phương án chính sách, quyết nghị ban hành
chính sách, công bố chính sách. Trong thực tế, các chính
sách công của nước ta chủ yếu được thể chế hoá bằng nghị
quyết của Chính phủ nên quy trình hoạch định chính sách
công được tiến hành theo quy định ban hành nghị quyết của
Chính phủ tại các điều 59, 60, 61, 62, 63, 64 của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm1996, sửa đổi năm
2002.
Thời gian qua, việc hoạch định chính sách công ở
nước ta đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế,
thực thi đem lại hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là đã góp
phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong
hơn 20 thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, quy trình
hoạch định chính sách công như nêu trên cũng còn bộc lộ
một số tồn tại, đó là: các kiến nghị hoạch định chính sách
chủ yếu xuất phát từ các cơ quan nhà nước được giao
nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc dự thảo chính sách
thường là do các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan đặc
biệt của Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
15
Trung ương thực hiện. Như vậy, chính sách công được ban
hành dựa trên suy xét, phân tích tình hình thực tế và trên cơ
sở những mong muốn quản lý của từng cơ quan nhà nước.
hành nghị quyết của Chính phủ. Trong khi đó, nghị quyết
của Chính phủ là văn bản quy phạm pháp luật mang tính
bắt buộc thực hiện. Hiện nay, quy trình hoạch định chính
sách công được thực hiện theo quy định về soạn thảo, ban
hành nghị quyết của Chính phủ trong Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 1996 sửa đổi 2002 còn mang
tính chất khung chưa phân công rõ trách nhiệm, nghĩa vụ
và cả chế tài đối với tập thể hoặc cá nhân trong từng khâu,
công đoạn từ soạn thảo, lựa chọn phương án, thẩm định,
ban hành
Quy trình hoạch định chính sách còn bị khép kín; việc
lấy ý kiến tham gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh
trực tiếp của chính sách còn ít, nếu có thì hình thức; việc
tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành chưa thể hiện tính chủ
động. Mặt khác, chưa có quy định cụ thể để huy động được
trí tuệ của nhân dân, các chuyên gia, các nhà khoa học
tham gia vào hoạch định chính sách là vô hình chung làm
hạn chế cách nhìn nhận, giải quyết vấn đề. Chẳng hạn,
trong hoạch định chính sách việc dự báo chính sách rất
quan trọng. Thời gian qua, khi một số biến động về giá cả,
tình trạng lạm phát trên thế giới và ở nước ta, cho thấy việc
17
dự báo chính sách còn nhiều yếu kém. Dự báo chính sách
phải dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn. Nếu trong hoạch
định chính sách không có sự tham gia của các chuyên gia,
nhà khoa học thì việc dự báo chính sách gặp rất nhiều khó
khăn. Trong quá trình hoạch định chính sách công chưa tạo
được kênh thông tin tốt nhất để tiếp thu ý kiến đóng góp
của những đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách. (Việc
quốc tế./.
Ghi chú:
(1) Giáo trình hoạch định chính sách công, Học viện
Hành chính Quốc gia, Tr 21.
(2) Thuật ngữ Hành chính, Học viện Hành chính quốc
gia, Tr 53.
19
Phân tích chính sách tài chính thời mở cửa
Cập nhật: 30/4/2008 09:01
Hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường toàn cầu
và khu vực, đặc biệt là kể từ khi gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) đã tạo ra nhiều cơ hội và
thách thức hơn đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó,
cải cách tài khoá và tài chính công trở nên cấp thiết và
phức tạp hơn, đòi hỏi phân tích chính sách cẩn trọng để
xây dựng các chính sách phù hợp, hỗ trợ tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế.
Để giải quyết yêu cầu này, Bộ Tài chính (MOF) đã thành
lập Nhóm Tư vấn Chính sách (PAG) nhằm đưa ra các ý
kiến tư vấn chính sách độc lập và có chất lượng cho Bộ
trưởng Tài chính và các lãnh đạo của Bộ. PAG có trách
nhiệm thiết lập hạ tầng cơ sở phân tích chính sách trong bộ,
và xây dựng năng lực phân tích chính sách cho các đơn vị
và cơ quan khác trực thuộc MOF.
20