1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổi
mới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp
huyện. Bởi, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong những năm qua
hoạt động của UBND cấp huyện đã được đổi mới đáng kể, mang lại hiệu
quả tích cực, đời sống của nhân dân được nâng cao, quyền làm chủ của
nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng
được phát huy... Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động UBND cấp huyện
vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: Bộ máy chính quyền chậm được
sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện
quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn, bồi
dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ.
Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu
của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách
mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ
sở Đảng chưa cao. Còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh
đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham
nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của
dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có
những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ
thống chính quyền chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ;
nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện
của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.…đang minh chứng sự kém hiệu
lực, hiệu quả của UBND cấp huyện.
2
4
- Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức và phương thức hoạt động
của UBND huyện Đan Phượng.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp quan trọng nhằm đổi mới tổ
chức và phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBND huyện Đan
Phượng có thể đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, trong phạm vi của
một khóa luận, tác giả chỉ đề cập vào một số nội dung cơ bản về tổ chức và
phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng (qua khảo sát thực tế
trong hai nhiệm kỳ 1999 - 2004 và 2004 - 2011).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về tổ chức và
phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước đồng thời khóa luận còn kết hợp
với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân
tích, tổng hợp, logic, lịch sử, so sánh, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận gồm 3 chương 9 tiết.
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
5
củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần đảm
bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ
trung ương tới cơ sở”. [15, tr.6-7].
Theo Điều 4, luật tổ chức HĐND và UBND năm 2004 HĐND và
UBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (gọi chung là cấp
huyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Như vậy, chính quyền địa phương được chia thành ba cấp theo đơn vị
hành chính lãnh thổ và các cấp đó được chia thành hai loại: nông thôn và đô
thị. Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của các
cấp chính quyền địa phương và nhằm khai thác tốt những lợi thế, tiềm năng
của mỗi cấp chính quyền địa phương theo những đặc điểm riêng.
Từ những qui định chung trong luật tổ chức HĐND và UBND có thể
hiểu: UBND cấp huyện là cơ quan do HĐND cấp huyện bầu ra, cơ quan chấp
hành của HĐND cấp huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà
nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện.
Từ khái niệm UBND cấp huyện như trên, ta thấy chính chính quyền địa
phương tại mỗi cấp hành chính lãnh thổ bao gồm: HĐND và UBND. UBND
cấp huyện vừa là cơ quan chấp hành và hành chính, vừa là cơ quan nhà nước
cấp huyện. Điều đó phản ánh mối quan hệ giữa tính đại diện và thực thi quyền
7
lực nhà nước; giữa quyền uy và phục tùng trong quản lý hành chính nhà nước.
Đồng thời, cũng chỉ ra mối quan hệ giữa UBND cấp huyện với các cơ quan
và phương thức hoạt động có thể thấy UBND cấp huyện có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
- Sự thống nhất giữa tính chất quyền lực nhà nước và tính tự quản
trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
Ở nước ta chính quyền địa phương được chia thành ba cấp theo đơn vị
hành chính lãnh thổ (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã). Và các cấp đó được chia
thành hai loại: nông thôn và đô thị. Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc
tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền địa phương và nhằm khai thác
tốt những lợi thế của mỗi cấp chính quyền địa phương theo những đặc điểm
vốn có. Bộ máy Nhà nước ta có cấu tạo là bộ máy nhà nước ở Trung ương và
bộ máy Nhà nước ở địa phương, và việc tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước trong toàn hệ thống phải đảm bảo tính liên thông của quyền lực
Nhà nước từ Trung ương xuống địa phương, thể hiện cơ chế quyền lực vừa
độc lập, vừa phụ thuộc, đảm bảo tính liên hệ và kiểm soát lẫn nhau. Thứ nhất
tính chất quyền lực nhà nước thể hiện trong việc tổ chức bộ máy nhà nước,
quan hệ quyền lực theo chiều ngang là sự phân công và phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
thì trong quan hệ theo chiều dọc theo các đơn vị hành chính lãnh thổ thì
quyền lực nhà nước được xác định theo sự phân cấp, phân quyền giữa trung
ương và địa phương và giữa các cấp trong hệ thống chính quyền địa phương
nhằm đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước. Như vậy, rõ rằng UBND cấp huyện mang tính chất quyền
lực nhà nước. Bên cạnh đó nó còn thể hiện tính chất tự quản trong việc thực
hiện quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện ở chỗ hoạt động của UBND cấp
huyện còn là thực hiện ý chí, nguyện vọng của cộng đồng dân cư phù hợp với
đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội và mức độ thực hành dân chủ của người
dân trên địa bàn huyện và chịu sự giám sát của nhân dân. Việc tự chủ của
UBND cấp huyện được thông qua việc quyết định, tổ chức và hoạt động thực
10
Cùng với quá trình xây dựng và củng cố chính quyền, vị trí, vai trò của
UBND cấp huyện với tư cách là cơ quan thực hiện quản lý hành chính ở địa
phương tiếp tục được khẳng định và có những bước phát triển cơ bản qua các
Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992.
Hiến pháp 1946 qui định về việc thành lập HĐND và UBHC ở các đơn
vị hành chính trong cả nước; chế độ bầu cử HĐND, nhiệm vụ, quyền hạn của
HĐND, việc bãi miễn đại biểu HĐND và quan hệ của HĐND và UBHC cùng
cấp, đặc biệt là chế độ chịu trách nhiệm của UBHC.
Theo Hiến pháp 1946, về phương diện hành chính, nước ta được chia
thành ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ được chia thành các tỉnh; mỗi tỉnh
được chia thành các huyện; mỗi huyện được chia thành các xã (Điều 57). Tuy
nhiên, phù hợp với điều kiện lịch sử lúc đó và có sự kế thừa lịch sử, Hiến
pháp 1946 qui định: ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có HĐND và UBHC; ở bộ
và huyện chỉ có UBHC (Điều 58). Như vậy, có thể thấy rằng, thời kỳ này,
UBND các cấp (được gọi là UBHC) được thành lập ở tất cả các bộ, tỉnh,
thành phố, thị xã, xã, nhưng ở bộ và huyện không có HĐND. Điều này cho
thấy tính đặc thù trong tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấp
huyện, đó là cùng là cấp huyện nhưng đối với thị xã thì có HĐND, còn ở
huyện thì không có HĐND mà chỉ có UBHC. Hay nói cách khác, việc thành
lập HĐND tùy thuộc vào điều kiện, yêu cầu quản lý đối với từng cấp.
Theo Hiến pháp 1946, HĐND tỉnh, thành phố, thị xã, xã do nhân trực
tiếp bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu. Ở cấp có HĐND thì UBHC do
HĐND cử ra. Còn đối với cấp không có HĐND thì UBHC bộ do HĐND các
tỉnh, thành phố bầu ra; UBHC huyện do HĐND các xã bầu ra. Như vậy, cùng
là UBHC cấp huyện nhưng trong thời kỳ này có sự khác biệt về cách thức cử
và bầu, đó là UBHC thị xã do HĐND thị xã cử ra, còn UBHC huyện do
phần nhiều được giải quyết tại UBND cấp huyện với những cơ quan có thẩm
quyền riêng là các phòng, ban thuộc UBND huyện, do đó, việc luôn đổi mới,
kiện toàn tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện là yếu tố cơ bản nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của UBND cấp huyện ở nước ta
12
hiện nay. Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện phải
được thực hiện đồng bộ trên các phương diện đổi mới cơ cấu tổ chức; mối
quan hệ giữa UBND cấp huyện với các cơ quan, tổ chức hữu quan; vấn đề
cán bộ, công chức; vấn đề thể chế pháp lý và cơ chế, phương thức hoạt động.
Chủ tịch UBND huyện có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ
những văn bản sai trái của cơ quan thuộc UBND cấp xã; đình chỉ thi hành
nghị quyết sai trái của HĐND cấp xã đồng thời đề nghị HĐND huyện bãi bỏ
những nghị quyết đó. Thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa
phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến,
kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương; phối hợp với các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân
cùng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ở
địa phương.
Như vậy, qua những qui định của các hiến pháp về vị trí, chức năng,
nhiệm vụ của UBND cấp huyện cho thấy, cho dù về tên gọi có sự thay đổi
qua các thời kỳ (UBHC, UBND), nhưng về bản chất, UBND cấp huyện là cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện quản lý hành chính đối
với các vấn đề trên địa bàn huyện về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng...
Từ khái lược lịch sử tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện và
những qui định pháp luật hiện hành cho thấy, UBND cấp huyện là cơ quan
quản lý hành chính nhà nước có vai trò quan trọng nhất ở địa phương, là cấp
hành của HĐND cấp huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịu
trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước
cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện. UBND thực hiện chức năng
quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống
nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở.
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề. Bản thân bộ máy
nhà nước, mà UBND cấp huyện là một bộ phận không đổi mới tổ chức và
14
hoạt động theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thì không thể hoàn
thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện cho thấy bên
cạnh những ưu điểm, những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiện
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình vẫn còn những yếu kém cần phải
khắc phục kịp thời như bệnh quan liêu, mệnh lệnh, vi phạm dân chủ, quản lý
thiếu tập trung, thống nhất, thiếu trật tự kỷ cương, bộ máy cồng kềnh, làm
việc kém năng suất… những khuyết điểm, tồn tại đó đã làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thi nhệm vụ, quyền hạn
của UBND cấp huyện.
Tình hình kinh tế, chính trị và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ
trên thế giới thay đổi về cơ bản đòi hỏi chúng ta phải đổi mới về tổ chức và
phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của UBND cấp
huyện nói riêng để có thể đáp ứng kịp với diễn biến của tình hình và tốc độ
phát triển của thời đại.
Là một cấp cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương trong
hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, việc đổi mới tổ chức và phương
thức hoạt động của UBND cấp huyện không thể nằm ngoài những yêu cầu,
đông; đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau 25 dặm; phía đông đến
địa giới huyện Yên Sơn 8 dặm, phía nam đến địa giới huyện Từ Liêm tỉnh Hà
Nội 13 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai 12 dặm”.
Huyện được đặt từ thời Trần, đến thời Minh chiếm đóng thì huyện tên
là Đan Sơn thuộc Châu Từ Liêm, phủ Giao Châu. Năm 1888 sau khi vua
Đồng Khánh cắt Hà Nội cho Pháp. Huyện được nhập về phủ Hoài Đức tỉnh
Hà Đông.
Sau cách mạng tháng Tám (1945), cấp phủ bị bãi bỏ, nên từ tháng
8/1945 đến tháng 3/1947, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
.Tháng 9/1991 đến tháng 7/2008 huyện Đan Phượng là một trong 14
đơn vị hành chính của tỉnh Hà Tây theo quyết định của Quốc hội tại kì họp
thứ 9 (khóa VIII) họp vào tháng 8/1991.
Từ ngày 01/8/2008 đến nay huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà
Nội theo Nghị quyết 15 - NQ/QH.
Từ ngày thành lập đến nay, gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của Tổ quốc
qua những chặng đường lịch sử từ đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ, đến hoà bình lập lại và hiện nay trong thời kỳ đổi mới của đất nước,
UBND huyện Đan Phượng đã chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã,
thị trấn trong huyện thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm
bảo an ninh, trật tự mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, Nghị quyết
HĐND huyện đã đề ra trong từng thời kỳ, góp phần vào việc thực hiện thắng
17
lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố nói riêng và cả
nước nói chung. Đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan thuộc UBND huyện
ngày càng được tuyển chọn chặt chẽ, đảm bảo về chất lượng và số lượng;
được đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nhằm tham mưu giúp việc kịp
thời, chính xác cho HĐND, UBND huyện.
9,8%/năm), cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng hợp lý và toàn diện, đời
sống của người dân được cải thiện rõ rệt.
Huyện Đan Phượng là một vùng đất nông nghiệp với lợi thế là khí hậu
ôn hoà, ruộng vườn phì nhiêu, có truyền thống sản xuất nông nghiệp với trình
độ thâm canh cao. Những năm gần đây, huyện đã có xu hướng giảm diện tích
đất lúa chuyển sang phát triển trang trại, vườn trại, vườn ruộng, dành quỹ đất
cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Mặc
dù diện tích đất có giảm nhưng năng suất và sản lượng luôn ổn định, giá trị
sản xuất trên một đơn vị diện tích không ngừng tăng lên. Hiện nay, đây là một
trong những địa phương cung cấp rau, quả cho thị trường Hà Nội và các thị
trường lân cận, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.
Đan Phượng cũng đã xây dựng được các vùng sản xuất cây con tập
trung như vùng sản xuất lúa chất lượng cao Đan Phương, Song Phượng; vùng
sản xuất rau Phương Đình, Song Phượng, Đan Phượng; vùng trồng ngô ngọt
Song Phượng, Trung Châu; vùng trồng dưa chuột Phương Đình; vùng trồng
cây ăn quả Thượng Mỗ, Phương Đình…
Huyện Đan Phượng cũng là vùng đất bãi và có diện tích đồng cỏ lớn
nên thích hợp cho ngành chăn nuôi. Mô hình chăn nuôi ruộng - vườn - trại
ngày càng phát triển trên địa bàn, cho thu nhập từ 50 -100 triệu đồng/ha, thậm
chí có vùng lên đến 300 triệu đồng/ha.
Đan Phượng cũng là địa phương phát triển mạnh về công nghiệp,
thương mại và dịch vụ, với tốc độ phát triển gần 30%/năm, tập trung vào các
ngành chế biến lâm sản, thực phẩm, đồ uống, dệt may và sản xuất vật liệu xây
dựng. Để đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển công nghiệp, Đan Phượng đã và
đang tích cực triển khai xây dựng các cụm, điểm công nghiệp: Cụm công
nghiệp Tân Lập, cụm công nghiệp thị trấn Phùng, điểm công nghiệp Đan
Phượng, Phương Đình, Liên Hà, Liên Trung, Tân Hội…
19
20
2.2. Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng,
thành phố Hà Nội
2.2.1. Số lượng, cơ cấu, chất lượng thành viên UBND
huyện Đan Phượng
- Số lượng, chất lượng thành viên UBND huyện
Nhiệm kỳ 1999 - 2004: Thực hiện Luật tổ chức HĐND và UBND năm
1994, và Nghị định 174/CP ngày 29/9/1994 của Chính phủ về cơ cấu thành
viên và Phó chủ tịch UBND các cấp; kỳ họp thứ nhất HĐND huyện tháng
12/1999 đã bầu 9 thành viên UBND huyện gồm Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch, 6
Ủy viên UBND phụ trách công tác: Tổ chức chính quyền, Văn phòng UBND,
Thanh tra, Địa chính, Công an, Quân sự.
Do thực hiện luân chuyển cán bộ, trong nhiệm kỳ, HĐNH đã bầu bổ
xung 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 2 Ủy viên UBND huyện. Thành viên
UBND huyện hiện có Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 5 Ủy viên UBND (khuyết
Ủy viên Ủy ban phụ trách Văn phòng HĐND và UBND). [ 21, tr.1].
Trình độ đào tạo:
+ Về chuyên môn: trình độ Đại học có 8/8 người, tăng 3 so với đầu
nhiệm kỳ.
+ Về trình độ chính trị: Trình độ Cao cấp có 3/8 người, tăng 3; trình độ
Trung cấp có 5/8 người, tăng 1 so với đầu nhiệm kỳ.
Quy chế làm việc của UBND huyện ngày 8/3/2000 đã quy định nhiệm
vụ cụ thể của mỗi thành viên UBND và quy định quan hệ công tác với các cơ
quan đoàn thể đơn vị.
Hàng năm, UBND huyện đã nghiêm túc kiểm điểm hoạt động của tập
thể và mỗi thành viên, đánh giá những ưu điêm và tồn tại trong quản lý điều
hành thực hiện các Nghị quyết của Huyện ủy, của HĐND huyện, nhiệm vụ
cấp trên giao và pháp luật của Nhà nước.
viên, trong đó có Chủ tịch UBND huyện, 02 Phó Chủ tịch UBND huyện và
05 Uỷ viên UBND huyện.
- Chủ tịch UBND huyện: do HĐND huyện bầu theo giới thiệu của
Chủ tịch HĐND trong số các đại biểu HĐND. Phó Chủ tịch và các thành viên
khác của UBND huyện do HĐND huyện bầu theo sự giới thiệu của Chủ tịch
UBND theo danh sách đề cử chức vụ từng người. Việc bầu cử Chủ tịch và các
thành viên khác của UBND huyện được tiến hành bằng bỏ phiếu kín. Những
22
người giữ các chức vụ trên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình ngay sau
khi được HĐND huyện bầu.
Chủ tịch UBND huyện chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ và nghiêm
túc các nhiệm vụ và quyền hạn mà Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
đã quy định. Chủ tịch UBND huyện lãnh đạo công tác của tập thể UBND
huyện, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Chủ tịch
UBND các xã, thị trấn; chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, và cùng tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động
của UBND trước HĐND huyện và UBND thành phố Hà Nội; trực tiếp chỉ
đạo, điều hành các công việc lớn, quan trọng, các vấn đề có tính chiến lược
trên tất cả các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND huyện, phụ
trách các lĩnh vực sau:
+ Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắn hạn;
công tác quy hoạch, tài chính, tín dụng, địa giới hành chính, tài nguyên
môi trường;
+ Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
quốc phòng, quân sự địa phương, chỉ đạo chung công tác tiếp dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân;
+ Công tác cải cách hành chính, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ,
cá nhân về ngành, lĩnh vực được phân công trước Chủ tịch UBND và cùng
tập thể UBND huyện chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBND huyện
trước cơ quan nhà nước hữu quan theo quy định của pháp luật. UBND huyện
Đan Phượng có 5 Ủy viên gồm:
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chánh Văn phòng HĐND và UBND
huyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức việc tham mưu tổng hợp, phục vụ
hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND; giúp UBND
và chủ tịch UBND huyện trong chỉ đạo, điều hành các hoạt động chung của
bộ máy hành chính nhà nước, giúp chủ tịch UBND huyện tổ chức việc điều
hòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện,
HĐND và UBND cấp xã để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của
UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện; bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ
thuật cho hoạt động của HĐND và UBND huyện;
24
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Trưởng Công an huyện chịu trách nhiệm
chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, quản lý giáo dục tội phạm;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự
huyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mặt công tác
quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng và củng cố nền quốc phòng
toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn huyện;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chánh thanh tra huyện chịu trách nhiệm
chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng, chống tham nhũng trên địa bàn huyện;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tham mưu, giúp
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Phòng Tài chính - kế hoạch
11
Phòng Kinh tế
13
Phòng Quản lý đô thị
9
Phòng Tài nguyên và Môi trường
8
Phòng Văn hoá và Thông tin
5
Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
7
Phòng Giáo dục và Đào tạo
14
Phòng Tư pháp
4
Phòng Y tế
4
Số
Trình độ chuyên môn
Trình độ LLCT
lượng Cao Đại CĐ Còn Cử Cao Trung
học học -T
lại nhân cấp
cấp
H
27
0
15
5
7
1
5
7
Số
Lượng
lãnh
đạo
8
0
1
1
4
5 (nam)
11
0
8
3
0
0
1
2
3
(2 nam
+ 1 nữ)
0
2
3 (nam)
Thanh tra
Phòng
Tài chính
- kế
hoạch
Phòng
Kinh tế
Phòng
Quản lý