HỌC VIỆN KỸ THUẬT MẬT MÃ
KHOA AN TOÀN THÔNG TIN
BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC
PHÁP LUẬT AN TOÀN THÔNG TIN
Chủ đề số 04
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG
LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VIỄN THÔNG
Giảng viên: TS. Nguyễn Tuấn Anh
Nhóm 2
HÀ NỘI, 2015
Ý KIẾN CỦA GIẢNG VIÊN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT...............................................................................
LỜI NÓI ĐẦU...............................................................................................................................
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT PHÁP AN TOÀN THÔNG TIN
.........................................................................................................................................................
1.1. Bộ luật hình sự....................................................................................................3
1.2. Thông tư.............................................................................................................3
1.3. Nghị định của chính phủ....................................................................................4
1.4. Một số chế định cơ bản của Luật hình sự...........................................................4
Chương 2. NHỮNG ĐỔI MỚI CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Giải thích
BLHS
Bộ luật hình sự
TTLT
Thông tư liên tịch
BCA
Bộ Công An
BQP
Bộ Quốc Phòng
BTT&TT
Bộ Thông tin và Truyền thông
VKSNDTC
Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao
ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.
Ở Việt Nam, nếu tính thời gian Internet vào Việt Nam năm 1997 thì tới nay công
nghệ này hoạt động được 18 năm. Theo McAfee thì năm 2009, mức độ nguy hiểm của
tên miền.vn chỉ có 0,9% và đứng thứ 39 trên thế giới, mà đến năm 2010 đã nhảy vọt lên
29,4% lên hạng thứ nhất.Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao diễn biến phức tạp,
qua từng năm loại tội phạm này tăng cả số vụ lẫn mức độ thiệt hại và phương thức ngày
càng tinh vi hơn.
Qua bài báo cáo này chúng ta sẽ tìm hiểu rõ về quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam quy định về các loại tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin như thế nào? Các
dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm, Các chế tài áp dụng với mỗi loại tội phạm ra
sao? Qua các giai đoạn hoàn thiện thì bộ luật đã được sửa đổi bổ sung những gì?..
Hy vọng mọi người sẽ nắm rõ như thế nào là hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực công nghệ thông tin và luôn luôn tuân thủ các quy định của luật hình sự Việt Nam.
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.2
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT PHÁP AN TOÀN
THÔNG TIN
1.1.
Bộ luật hình sự
Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ
của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý
lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
Vậy nghị định và thông tư có chồng chéo lên nhau khi cùng quy định chi tiết
thi hành luật? Khi nghị định và thông tư có quy định khác nhau về cùng 1 vấn đề
thì phải áp dụng văn bản nào?
Theo khoản 2, điều 83, Luật ban hành văn bản pháp luật: “ Trong trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề
thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.”
Như vậy Nghị định có giá trị pháp lý cao hơn thông tư. Nhưng thông tư có
mức độ hợp lý và sát với thực tế hơn so với nghị định vì nghị định do thủ tướng
ban hành theo đề nghị của bộ trưởng ra đời trước còn thông tư do trực tiếp bộ
trưởng ban hành ra đời sau.
1.4.
Một số chế định cơ bản của Luật hình sự
1.4.1. Tội phạm
Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự, Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý hình sự thực hiện, có lỗi, trái pháp
luật hình sự và bị xử lý bằng hình phạt.
1.4.2. Các loại tội phạm
Các dấu hiệu của tội phạm gồm có:
• Tính gây nguy hiểm cho xã hội.
• Tính trái pháp luật hình sự.
• Tính có lỗi.
• Tính phải chịu hình phạt.
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.4
• Điều 226. Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy
tính.
Tuy nhiên, tội phạm công nghệ cao lại chỉ xuất hiện “rầm rộ” khoảng 7, 8
năm trở lại đây và ngày càng có chiều hướng gia tăng. Tính chất nguy hiểm của
loại tội phạm này chính là mối đe dọa của an ninh chính trị. Nhiều quốc gia trên
thế giới cũng đã phát hiện nhiều thông tin mật, nhạy cảm đã bị đánh cắp và nhiều
hệ thống thông tin trọng yếu đã bị tấn công hủy diệt, bởi những tác nhân bên ngoài
và bị sử dụng để tấn công phá hoại hệ thống cơ sở hạ tầng trọng yếu có liên quan.
Các điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 1999 này chỉ mang tính nguyên tắc
chung, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng của cơ quan có thẩm quyền xác định
được phạm vi của “mạng máy tính” mà người phạm tội đã lan truyền, phát tán các
chương trình vi-rut hoặc đưa vào mạng máy tính những thông tin trái với quy định
của pháp luật, số lượng máy tính bị làm biến dạng, làm huỷ hoại các dữ liệu để có
thể xử lý bằng hình sự theo khoản 1 của các điều: 224, 225 và Điều 226 Bộ luật
Hình sự, hoặc như các thuật ngữ “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc “gây hậu quả
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”… để định khung truy tố, xét xử và
quyết định hình phạt. Trước sự gia tăng của loại tội phạm này, mà các quy định tại
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.6
ba điều luật trên lại không bao quát hết mọi hành vi phạm tội thực hiện thông qua
sử dụng công nghệ thông tin, nhất là các hành vi phạm tội công nghệ cao đang xảy
ra một cách phổ biến mà hành lang pháp luật liên quan đến vấn đề này vẫn còn
thiếu cũng là nguyên nhân chính khiến nhiều cơ quan tố tụng phải lúng túng khi xử
lý những vụ việc này.
Ví dụ vào năm 2006, trang web moet.gov.vn của Bộ Giáo dục& Đào Tạo bị
hacker tấn công đã tháo ảnh Bộ trưởng trên trang web và thay bằng ảnh của mình.
Hacker này là em Bùi Minh Trí, 17 tuổi, học lớp 12 lý-tin, Trường THPT chuyên
Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Có thể thấy đây chính là những cố gắng của các cơ quan chức năng nhằm tạo
ra hành lang pháp lý ngăn chặn các nguy cơ cao từ lĩnh vực tội phạm công nghệ
thông tin. Đặc biệt Điều 224, 225 và 226 cũng có sửa đổi cơ bản về tên gọi cũng
như những hành vi khách quan trong cấu thành tội phạm của những điều luật này.
Việc sửa đổi ba điều luật nêu trên đều theo hướng thiết kế điều luật cụ thể
hơn, rõ ràng hơn, đưa thêm một số hành vi vào ngay tên gọi của các điều luật,
ngoài ra Luật sửa đổi bổ sung cũng đưa thêm vào cấu thành tăng nặng một số tình
tiết định khung, tăng nặng hình phạt tiền.
2.2.1. Điều 224, Bộ luật hình sự
Việc thay đổi tên gọi của điều luật như trước đây chỉ có quy định hành vi tạo
ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút tin học một cách chung nhất, thì
Luật sửa đổi đã bổ sung thêm một cách cụ thể và quy định rõ về “tính năng gây
hại” cho cả mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số.
Bổ sung một số tình tiết tăng nặng: Có tổ chức; Tái phạm nguy hiểm; Đối
với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, hệ thống thông tin phục vụ an ninh,
quốc phòng; Với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, hệ thống thông tin điều hành
lưới điện quốc gia, hệ thống thông tin tài chính, ngân hang, hệ thống thông tin điều
khiển giao thông.
2.2.2. Điều 225, Bộ luật hình sự
Điều luật này quy định về các hành vi vi phạm các quy định về vận hành,
khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử. Luật sửa đổi, bổ sung đã sửa đổi và
thay bằng theo hướng cụ thể và mở rộng hơn đó là thay thế cụm từ “khai thác”, “sử
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.8
dụng” bằng cụm từ “cản trở” hoặc “gây rối” không chỉ đối với mạng máy tính mà
Đối với hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước; hệ thống thông tin phục vụ
an ninh, quốc phòng; Đối với cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; hệ thống thông tin
điều hành lưới điện quốc gia; hệ thống thông tin tài chính, ngân hàng; hệ thống
thông tin điều khiển giao thông; Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn; Gây
hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.
2.2.5. Điều 226b, Bộ luật hình sự
Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Điều luật này quy định: Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của
cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm
đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; Truy cập bất hợp pháp
vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; Lừa đảo
trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và
thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá
nhân; Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Một số tình tiết tăng nặng: Có tổ chức; Phạm tội nhiều lần; Có tính chất
chuyên nghiệp; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai
trăm triệu đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng; Tái phạm nguy hiểm.
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu
đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng.
Hình phạt tiền là hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền
từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,
cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm
đến năm năm.
thuộc sở hữu của cơ quan, tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ
Mã truy cập: Điều kiện bắt buộc đáp ứng một tiêu chí chuẩn nhất định trước
khi sử dụng, truy cập tới thiết bị, nội dung dữ liệu được bảo vệ.
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.11
Quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet: Quyền
quản lý, vận hành, khai thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet của cá nhân, tổ chức.
Hệ thống dữ liệu thuộc bí mật nhà nước: Hệ thống thông tin do cơ quan, tổ
chức quản lý có chứa những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói
có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,
kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nưóc không công bố hoặc
chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì sẽ gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và được bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật
nhà nước.
Hệ thống thông tin phục vụ an ninh: Hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức
chứa đựng những dữ liệu có liên quan đến việc bảo đảm sự ổn định, phát triển bền
vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc.
Hệ thống thông tin phục vụ quốc phòng: Hệ thống thông tin của tổ chức, cơ
quan nhà nước chứa đựng những dữ liệu có liên quan đến việc bảo vệ đất nước
Hệ thống thông tin điều hành lưới điện quốc gia: Hệ thống thông tin phục vụ
hoạt động quản lý, vận hành các công trình điện của quốc gia để truyền tải năng
lượng điện từ nơi sản xuất điện đến cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng điện.
Hệ thống thông tin điều khiển giao thông: Hệ thống thông tin của cơ quan
nhận thấy trong năm 2008, 800 công ty này đã mất tổng cộng 4,6 tỉ USD giá trị tài
sản trí tuệ và phải chi ra 600 triệu USD để khắc phục thiệt hại do bị tấn công.
Như vậy giá trị tài sản để định tội là 5.2 tỉ USD.
3.3.
Tội phát tán vi-rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt
động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số
(Điều 224)
3.3.1. Khách thể của tội phạm
Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông được xếp vào
chương XIX: “Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Do
đó, nhóm tội phạm này xâm phạm đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực an toàn
trật tự xã hội. Nói một cách cụ thể, tội phạm loại này xâm hại đến an toàn trong
hoạt động tin học và viễn thông, gây ra những những ách tắc, rối loạn và thiệt hại
về nhiều mặt cho đời sống xã hội.
3.3.2. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể thực hiện tội phạm là chủ thể thường, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự (từ đủ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm về mọi hành vi phạm tội, từ đủ 14
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.13
tuổi đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) và có năng lực trách nhiệm hình sự. Mức
hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 224 BLHS quy định là tù từ 5 năm đến 12
năm (thuộc tội phạm rất nghiêm trọng), phạm tội thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều
224 BLHS sẽ được xếp loại là tội phạm nghiêm trọng. Do đó, người từ đủ 16 tuổi
phạt theo khoản 2 Điều 224 BLHS.
• Khung 3: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười hai năm đối
với các tình tiết định khung tăng nặng.Gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng quy định tại điểm c khoản 3 Điều 224 Bộ luật hình sự là gây
thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên theo
khoản 4 Điều 6 Thông tư liên tịch 10//2012.
• Hình phạt bổ sung quy định mức phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm
mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
3.4. Tội cản trở hoặc gây rối hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng Internet, thiết bị số (Điều 225)
3.4.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS là xâm phạm đến hoạt
động an toàn của hệ thống máy tính và viễn thông.
3.4.2. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm quy định tại Điều 225 BLHS là chủ thể thường, tương
tự như chủ thể của tội phạm tại Điều 224 BLHS.
3.4.3. Mặt khách quan của tội phạm
Các dạng hành vi phạm tội có thể thuộc một trong các trường hợp sau:
• Tự ý (được hiểu là thực hiện hành vi một cách cố ý khi không có sự
đồng ý của chủ thể quản lý phần mềm, dữ liệu kỹ thuật số) xoá, làm
tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu thiết bị số.
• Ngăn chặn trái phép (được hiểu là hành vi trái pháp luật được thực
hiện một cách cố ý làm gián đoạn hoặc làm cho không thực hiện
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.15
Tr.16
đó đáng chú ý là điểm b khoản 2 Điều 225 BLHS “Lợi dụng quyền
quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet”. Trong
đó quyền quản trị mạng được hiểu là quyền quản lý, vận hành, khai
thác và duy trì hoạt động ổn định hệ thống mạng máy tính, mạng viễn
thông, mạng Internet.Tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định
tại khoản này là thiệt hại vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến
dưới năm trăm triệu đồng.
• Khung 3: Quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười hai năm tương
ứng với một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự,
Hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 Điều 225 BLHS
là thiệt hại vật chấtcó giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên.
• Hình phạt bổ sung: Quy định như Điều 224 BLHS.
3.5. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng
viễn thông, mạng Internet (Điều 226)
3.5.1. Khách thể của tội phạm
Cũng giống như tội phạm Điều 224, Điều 225 BLHS, tội phạm quy định tại
Điều 226 cũng xâm phạm khách thể là sự an toàn của hoạt động trong lĩnh vực
công nghệ thông tin và viễn thông.
3.5.2. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
3.5.3. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội được thể hiện ở một trong các dạng sau:
• Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet (gọi chung là
mạng) những thông tin trái pháp luật, thông tin trái pháp luật ở đây
được hiểu là những thông tin vi phạm các điều cấm của pháp luật (như
thông tin bôi xấu danh dự, nhân phẩm của người khác, các thông tin
đồng cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đên
ba năm.
• Khung 2: Điều 226 BLHS quy định về một số tình tiết định khung
tăng nặng trách nhiệm hình sự, đáng chú ý là tình tiết gây hậu quả rất
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.18
nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, đã được hướng dẫn định
lượng cụ thể như sau: gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm
triệu đồng trở lên; hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ
chức, dẫn đến việc cơ quan, tổ chức bị xâm phạm giải thể hoặc phá
sản.
• Hình phạt bổ sung: phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu
đồng, các quy định khác giống như Điều 225.
3.6.
Tội truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
Internet hoặc thiết bị số của người khác (Điều 226a)
3.6.1. Khách thể của tội phạm
Tội phạm xâm phạm đến sự an toàn trong hoạt động của lĩnh vực công nghệ
thông tin và viễn thông.
3.6.2. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là chủ thể thường.
3.6.3. Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở các dạng sau:
• Truy nhập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng internet, mạng viễn
• Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn quy định tại điểm c khoản 3
Điều 226a Bộ luật hình sự là thu lợi bất chính có giá trị từ một trăm
triệu đồng trở lên.
3.6.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý.
3.6.5. Hình phạt
Điều 226a quy định ba khung hình phạt:
• Khung 1: Quy định mức phạt tiền từ phạt tiền từ hai mươi triệu đồng
đến hai trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.
• Khung 2: Điều 226a BLHS quy định về một số tình tiết định khung
tăng nặng trách nhiệm hình sự, đáng chú ý là tình tiết gây hậu quả
nghiêm trọng: gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm mươi triệu
đồng đến dưới hai trăm triệu đồng và thu lợi bất chính: gây thiệt hại
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.20
về vật chất có giá trị từ hai mươi triệu đồng đến dưới một trăm triệu
đồng.
• Khung 3: Một số tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự,
Thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn quy định tại điểm c khoản 3
Điều 226a Bộ luật Hình sự là thu lợi bất chính có giá trị từ một trăm
triệu đồng trở lên, Hành vi gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 226a Bộ luật Hình sự
(tuy tính chất, mức độ hành vi khác nhau nhưng có cùng khung hình
phạt) là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ hai trăm triệu đồng trở
lên.
• Hình phạt bổ sung: phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu
đồng, các quy định khác giống như Điều 226.
được sự cho phép của người đó để truy cập vào tài khoản không phải
của mình để chiếm đoạt tài sản.
• Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn
tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng nhằm chiếm đoạt
tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hành vi lừa đảo ở đây thể hiện ở
việc sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật về
một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thương mại điện tử, kinh
doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu
trên mạng nhằm tạo niềm tin cho người chủ tài sản, người quản lý tài
sản, làm cho họ tưởng là thật và mua, bán hoặc đầu tư vào lĩnh vực
đó.
• Hành vi khác nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Hành vi khác ở đây có thể là gửi tin nhắn lừa trúng thưởng nhưng thực
tế không có giải thưởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo
bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhưng không giao hàng
hoặc giao không đúng số lượng, chủng loại, chất lượng thấp hơn hàng
quảng cáo và các hành vi tương tự.
Một số tình tiết là định khung tăng nặng của điều luật như phạm tội nhiều
lần, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng và đặc biệt nghiêm trọng được hướng dẫn cụ thể tại các khoản 5, 6, 7, 8, 9
Điều 10 Thông tư hướng dẫn.
Cần chú ý là khi xem xét dấu hiệu hậu quả là tình tiết định khung tăng nặng
thì không được căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà phải xác định đó là thiệt
hại xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt (Điều 3 Thông tư hướng dẫn).
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MỘT SỐ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN-VIỄN THÔNG
Tr.22