nghiên cứu - trao đổi
30 - Tạp chí luật học
Vấn đề Quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự
Dơng Tuyết Miên *
hi xây dựng các CTTP cụ thể tại Phần
các tội phạm của Bộ luật hình sự
(BLHS), nhà làm luật đ dự liệu và quy định
loại và mức hình phạt áp dụng cho các tội
phạm đó. Tuy nhiên, trên thực tế, khi ngời
phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mặc dù
tòa án có thể tuyên cho ngời phạm tội hình
phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt
nhng xét về mức độ tơng xứng giữa tội
phạm và hình phạt thì hình phạt đó vẫn còn
nặng. Vì vậy, luật cho phép tòa án quyết
định hình phạt dới mức thấp nhất của khung
hình phạt hoặc chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn. Trờng hợp này, khoa
học luật hình sự gọi là quyết định hình phạt
nhẹ hơn quy định của BLHS.
Trong BLHS năm 1985, chế định quyết
định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS
đợc quy định tại khoản 3 Điều 38 nhng
cha có tên gọi riêng nh BLHS hiện hành.
Cụ thể nh sau: "Khi có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt
các tình tiết giảm nhẹ rất đa dạng, phong
phú, nhà làm luật không thể dự liệu đợc hết.
Do vậy, luật đ trao quyền cho tòa án tùy
từng vụ án cụ thể xác định các tình tiết có ý
nghĩa giảm nhẹ TNHS cho bị cáo. Nếu so
sánh giữa 2 loại tình tiết giảm nhẹ nói trên
thì những tình tiết quy định ở khoản 1 Điều
38 có tính phổ biến hơn và đợc tổng kết từ
thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm.
Do vậy, ở mức độ nhất định, những tình tiết
giảm nhẹ này có giá trị pháp lí cao hơn
những tình tiết giảm nhẹ do tòa án tự xác
định. Cần lu ý rằng các tình tiết giảm nhẹ
do tòa án tự xác định phải là những tình tiết
có ý nghĩa thực sự trong việc giảm nhẹ
TNHS cho bị cáo. Tuy nhiên, trong thực tiễn
vận dụng, tại một số bản án, một số tình tiết
giảm nhẹ đợc xác định thuộc loại nói trên
cha phải là những tình tiết có ý nghĩa giảm
nhẹ TNHS cho bị cáo nh bị cáo là sinh viên,
bị cáo đ từng công tác tại địa phơng, các bị
cáo là anh em ruột Qua nghiên cứu 184
bản án có áp dụng khoản 3 Điều 38 BLHS
K
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ
hơn khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ đồng thời
hành vi phạm tội của bị cáo tơng ứng với
mức thấp của khung hình phạt. Nghĩa là
trong trờng hợp phạm tội này, nếu ngời
phạm tội không có nhiều tình tiết giảm nhẹ
thì cũng chỉ bị phạt ở mức thấp của khung
hình phạt. Nhng do có nhiều tình tiết giảm
nhẹ, nếu tòa án tuyên hình phạt ở mức thấp
của khung hình phạt thì hình phạt đó vẫn còn
nghiêm khắc không tơng xứng với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội và nhân thân ngời phạm tội. Do đó,
trong trờng hợp này, luật cho phép tuyên
hình phạt dới mức thấp nhất của khung hình
phạt. Ví dụ, Bản án số 1389/HSPT ngày
22/7/1999 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao tại Hà Nội đ kết luận Hoàng
Văn C phạm tội lu hành tiền giả theo khoản
1 Điều 98. Theo hồ sơ vụ án, từ tháng 9 năm
1998, Hoàng Văn C đ nhận 100.000 đồng
tiền Việt Nam giả do một ngời Trung Quốc
đa tại Lạng Sơn để tiêu thụ thử. Hoàng Văn
C đ tiêu thụ trót lọt mà không bị phát hiện.
Do hám lời C đ sang Trung Quốc bỏ ra
250.000 đồng tiền Việt Nam thật để mua
500.000 đồng tiền Việt Nam giả đem về Việt
Nam tiêu thụ. Tại Hải Phòng C đ tiêu thụ
hết 350.000 đồng tiền giả. Khi bị bắt, C còn
giữ trong ngời 150.000 đồng tiền giả.
hình phạt khác nhẹ hơn. Ví dụ: Nguyễn Văn
A phạm tội theo khoản 1 Điều 206 nhng vì
A có 3 tình tiết giảm nhẹ, hành vi của A lại
tơng ứng với mức thấp của khung hình phạt nghiên cứu - trao đổi
32 - Tạp chí luật học
nếu tuyên cho A 3 tháng tù vẫn còn nghiêm
khắc thì tòa án quyết định chuyển sang hình
phạt khác nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ.
Qua nghiên cứu 184 bản án có áp dụng
khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985 thì không
có trờng hợp nào tòa án quyết định chuyển
sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Tìm
hiểu phần các tội phạm BLHS năm 1985 cho
thấy chỉ có 2 điều luật quy định mức thấp
nhất của khung hình phạt là 3 tháng tù. Đó là
tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (khoản 1
Điều 206); tội không chấp hành các quyết
định hành chính về c trú bắt buộc, cấm c
trú, quản chế hoặc lao động bắt buộc (Điều
213). Rất nhiều điều luật quy định mức phạt
tù thấp nhất áp dụng cho ngời phạm tội là 3
tháng tù nhng trong những trờng hợp này
tù có thời hạn lại đợc quy định là chế tài lựa
chọn bên cạnh cải tạo không giam giữ hoặc
cảnh cáo (Điều 212, 214, 215, 216 ), do
vậy, mức thấp nhất của khung hình phạt sẽ là
Khi giảm nhẹ hình phạt cho ngời phạm
tội theo khoản 3 Điều 38 BLHS năm 1985,
tòa án phải ghi rõ lí do của việc giảm nhẹ
trong bản án. Quy định này mang tính chất
bắt buộc nhằm đề cao tính nghiêm túc của
biện pháp này và hạn chế việc giảm nhẹ hình
phạt tuỳ tiện đối với ngời phạm tội. Mặt
khác, nó cũng là cơ sở để tòa án cấp trên
giám sát, kiểm tra việc xét xử của tòa án cấp
dới, phát hiện và sửa chữa kịp thời những
sai sót của tòa án cấp dới.
Mặc dù khoản 3 Điều 38 BLHS năm
1985 đ đợc Nghị quyết số 01/89/HĐTP
hớng dẫn thi hành nhng vẫn cha triệt để.
Khoản 3 Điều 38 quy định: "Khi có nhiều
tình tiết giảm nhẹ, tòa án có thể quyết định
một hình phạt dới mức thấp nhất mà điều
luật đ quy định " nhng lại không quy
định rõ thấp nhất ở mức độ nào, do đó, có thể
gây ra những cách hiểu khác nhau và việc
vận dụng sẽ không thống nhất, bởi vì điều
luật quy định về tội phạm cụ thể có thể có
một khung hình phạt hoặc nhiều khung hình
phạt. Có tòa án tuyên cho bị cáo hình phạt
quá nhẹ, không tơng xứng với tính chất mức
độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đồng
thời lại chênh lệch rất lớn so với mức thấp
nhất của khung hình phạt mà bị cáo đợc áp
dụng. Ví dụ: T.Đ.L là thủ kho vũ khí, trong
thời gian dài đ chiếm đoạt và bán trái phép
(1)
.
Nhằm khắc phục hạn chế nói trên của
khoản 3 Điều 38, trên diễn đàn khoa học luật
hình sự, nhiều tác giả đ đa ra giải pháp
khác nhau nhng đa phần đều thống nhất là
"việc giảm hình phạt trớc hết phải lấy mức
thấp nhất của khung hình phạt đ đợc quy
định đối với trờng hợp phạm tội đó là cơ sở,
sau đó mới quyết định hình phạt dới mức cơ
sở đó nhng hình phạt đó không phải là dới
mức thấp nhất mà điều luật đ quy định mà
phải nằm trong khung hình phạt nhẹ hơn kế
tiếp trớc đó hoặc kế tiếp sau đó"
(2)
.
Chế định quyết định hình phạt nhẹ hơn
quy định của BLHS đợc sửa đổi về cơ bản
trong BLHS năm 1999. Lần đầu tiên, tên gọi
của chế định này đ đợc ghi nhận chính
thức trong BLHS. Từ khoản 3 Điều 38 BLHS
năm 1985, chế định này đ đợc tách ra
thành 1 điều độc lập. Theo BLHS năm 1999,
chế định này đợc quy định tại Điều 47 với
nội dung nh sau : "Khi có ít nhất 2 tình tiết
giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của
Bộ luật này, tòa án có thể quyết định một
hình phạt dới mức thấp của khung hình
phạt mà điều luật đ quy định nhng phải
trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của
của khung nhng không đợc thấp hơn mức
tối thiểu mà luật quy định cho loại hình phạt
đó. Ví dụ, theo Điều 33 BLHS thì tù có thời
hạn có mức tối thiểu là 3 tháng tù. Tòa án có
thể quyết định hình phạt cho bị cáo dới mức
thấp nhất của khung nhng không thể thấp
hơn 3 tháng tù.
Trong trờng hợp có nhiều tình tiết giảm
nhẹ có thể áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn
thì phải chuyển sang loại hình phạt nhẹ hơn
liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 28
BLHS. Ví dụ, nếu mức thấp nhất của khung
hình phạt là 3 tháng tù thì khi đó không thể
tuyên hình phạt dới mức thấp nhất của
khung mà phải chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn nhng phải là hình phạt
nhẹ hơn liền kề của tù có thời hạn - hình phạt nghiên cứu - trao đổi
34 - Tạp chí luật học
cải tạo không giam giữ chứ không phải là
trục xuất vì trục xuất chỉ áp dụng đối với
ngời phạm tội là ngời nớc ngoài. Nếu loại
hình phạt nhẹ hơn liền kề đó là cảnh cáo thì
hình phạt đợc áp dụng là hình phạt cảnh cáo
chứ không lấy lí do bị cáo phạm tội trong
trờng hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng
đợc khoan hồng để miễn hình phạt cho
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử
hình) nhng vì bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ
quy định ở khoản 1 Điều 46 nên tòa án đ
vận dụng Điều 47 cho bị cáo đợc hởng
hình phạt dới mức thấp nhất của khung hình
phạt là 10 năm tù. Tuy nhiên, khoản 3 Điều
112 lại quy định hình phạt là tù 20 năm, tù
chung thân hoặc tử hình. Điều đó có nghĩa là
khoản 3 Điều 112 không phải là khung hình
phạt nhẹ hơn liền kề. Nh vậy, hình phạt mà
tòa án tuyên cho bị cáo thực tế lại tơng ứng
với mức hình phạt của khung 1. Trờng hợp
này, mặc dù hình phạt mà toà án tuyên cho
bị cáo không thấp hơn nhiều so với mức thấp
nhất của khung hình phạt nhng vì điều luật
không quy định khung hình phạt nhẹ hơn
liền kề khung hình phạt đợc áp dụng nên
hình phạt mà thực tế toà án tuyên cho bị cáo
lại thuộc về một khung hình phạt khác, cách
xa khung hình phạt đợc áp dụng.
Nhìn chung chế định quyết định hình
phạt nhẹ hơn quy định của BLHS năm 1999
đ tỏ ra phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên
Điều 47 vẫn còn bộc lộ hạn chế trong áp
dụng nh đ phân tích ở trên. Để việc vận
dụng chế định này có hiệu quả trong thực
tiễn, chúng tôi cho rằng Điều 47 nên sửa lại
nh sau:
Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này,