Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học, Viện sau đại
học và toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, thầy cô
đã trực tiếp tham gia giảng dạy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn
thành luận văn này.
Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn tới TS. Đỗ Thị Mai Thơm – Cô giáo đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn này.
Xin cảm ơn Lãnh đạo Công ty TNHH VIPCO HLONG và các đồng nghiệp đã
cung cấp tài liệu, thông tin quý báu để hoàn thành luận văn; Cảm ơn gia đình, bạn
bè đã động viên, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này.
Dù đã cố gắng, trong quá trình làm luận văn không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Tác giả rất mong được đón nhận được sự chỉ dẫn, góp ý của các nhà khoa học,
cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Hải Hà
Học viên: Nguyễn Hải Hà
i
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
Luận văn
Bảng 2.12. Cơ cấu lao động trong công ty năm 2015....................................................................69
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KDXD: Kinh doanh xăng dầu
DVĐLHH: Dịch vụ đại lý hàng hải
SXKD: sản xuất kinh doanh
DN: doanh nghiệp
VN: Việt Nam
DT: doanh thu
TSCĐ: tài sản cố định
LNTT: Lợi nhuận trước thuế
LNST: Lợi nhuận sau thuế
Học viên: Nguyễn Hải Hà
ii
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
VCSH: vốn chủ sở hữu
TSLĐ: tài sản lưu động
NPT: nợ phải trả
Học viên: Nguyễn Hải Hà
iii
Hiệu quả trong sử dụng chi phí
Tỷ suất lợi nhuận : 2011 - 2015
Khả năng thanh toán
Tài sản ngắn hạn
28
30
33
36
38
42
44
2.9
Vốn kinh doanh của công ty : 2011 - 2015
46
2.10
Vốn cố định của công ty : 2011 - 2015
48
2.11
2.11
2.12
2.13
Doanh thu : 2011 - 2015
28
2.2
Lợi nhuận sau thuế : 2011 - 2015
34
2.3
Doanh thu, chi phí, lợi nhuận : 2011 - 2015
35
2.4
Tỷ suất lợi nhuận
40
2.5
Thu nhập bình quân
56
2.6
doanh chính của Công ty, chiếm 98% tổng doanh thu và trên 80% lao động,
tình hình kinh doanh xăng dầu từ năm 2010 đến năm 2015 gặp nhiều khó
khăn, quy mô thị trường liên tục giảm sút, các chủ tàu/ người khai thác tàu
vẫn trong tình trạng chạy tàu rỗng, khai thác không hiệu quả, gánh nặng về
chi phí tài chính để mua hoặc đóng tàu từ những năm trước dồn lại không thể
giải quyết được là các khó khăn cơ bản, các chủ tàu lớn trong hệ thống của
VINALINES, VINASHIN đều trong tình trạng thua lỗ lớn, tình trạng tài
chính hết sức khó khăn, nguồn chi trả tiền thanh toán nhiên liệu dựa vào vay
ngân hàng là chính, các chủ tàu hoặc công ty khai thác tàu nhỏ gặp khó khăn
về nguồn hàng như đã nêu và tiếp tục phải giảm số trọng tải tàu, thanh toán
kém, khả năng tài chính yếu, số lượng công ty nhỏ giải thể, không có khả
năng thanh toán tới trên 40%.
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
1
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
b) Khả năng cạnh tranh của Công ty:
i. Đối với hình thức bán tài xuất tàu biển: Việc VIPCO không được trực tiếp
bán hàng tạm nhập, tái xuất đã ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và sự cạnh tranh
của Công ty trên thị trường, số lượng khách hàng đối với hình thức bán hàng
này giảm sút mạnh.
ii. Đối với hình thức bán nội địa:
- Chiết khấu bán đại lý của Tập đoàn luôn thấp hơn các bên giao đại lý
khác như PETEC, PV oil…
" Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật
lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”. Từ khái niệm khái quát này có
thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như
sau:
H = K/C
Với : H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào
đó;
K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế;
C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó.
Khái niệm ngắn gọn: “ hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động
kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để
đạt được kết quả đó”.
“Quan điểm này đã đánh giá giá tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn
lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Quan niệm như thế có thể
tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng
của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động
khác nhau của chúng”.
Từ định nghĩa như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả
kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh: là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu
và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
“Đối với các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong
nền kinh tế, các cơ chế quản lý khác nhau thì có mục tiêu hoạt động khác
nhau. Trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
3
nhau:"Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg...)
và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu...)
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
4
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ
lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí
kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và
"Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa
sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền
- Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước sử dụng
phổ biến đó là: “hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một qúa trình)
kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để
đạt được mục tiêu đã xác định”.
Có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất
kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau :
“hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi
dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác)
nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra”.
1.1.1.2. Ý nghĩa:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị
thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh: “Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động
sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng
phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề
ra”.
Trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tế như
là nhiệm vụ, mục tiêu để thực hiện. Vì các nhà quản trị khi nói đến các hoạt
động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó. Do
vậy “hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công cụ để thực hiện nhiệm
vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh”.
1.1.2. Nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh:
1.1.2.1. Bản chất:
Khái niệm: “hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của
hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để
đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp”.
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
6
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
Thứ nhất: “phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là mối
quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố
đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp”.
Do đó để tính được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ta
phải tính kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. “Nếu xét mối quan hệ giữa kết quả
và hiệu quả thì kết quả nó là cơ sở và tính hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết
“các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là không cao nhưng các chỉ tiêu có
liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì chúng ta
không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả, mà
phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả”. Như vậy các chỉ
tiêu hiệu quả và tính hiệu quả trước mắt có thể là rái với các chỉ tiêu hiệu quả
lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài,
nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài.
1.1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng tới SXKD :
+ Nhân tố khách quan
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
8
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
- Môi trường quốc tế và khu vực: “Các xu hướng chính trị trên thế giới,
các chính sách bảo hộ và mở cửa của các nước trên thế giới, tình hình
chiến tranh, sự mất ổn định chính trị, tình hình phát triển kinh tế của các
nước trên thế giới... ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm cũng như việc lựa chọn và sử dụng các yếu tố
đầu vào của doanh nghiệp. Do vậy mà nó tác động trực tiếp tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp”. Môi trường kinh tế ổn định
cũng như chính trị trong khu vực ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp
trong khu vực tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi góp
là các yếu tố tác động trực tiếp tới cung cầu của từng doanh nghiệp. Nếu
tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dân cao, các chính sách của Chính
phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến
động tiền tệ là không đáng kể, lạm phát được giữ mức hợp lý, thu nhập
bình quân đầu người tăng... sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và ngược lại. Các
điều kiện tự nhiên như : các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thơi
tiết khí hậu,... ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu,
năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
10
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ... do đó
ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong
vùng”. Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ, tình hình ứng
dụng của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất trên thế giới cững
như trong nước ảnh hưởng tới trình độ kỹ thuật công nghệ và khả năng
đổi mới kỹ thuật công nghệ của doanh nghiệp do đó ảnh hưởng tới năng
suất chất lượng sản phẩm tức là ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp;
- Môi trường ngành: “mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
cùng một ngành với nhau ảnh hưởng trực tiếp tới lượng cung cầu sản
phẩm của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng tới giá bán, tốc độ tiêu thụ sản
tranh rất lớn cho các doanh nghiệp, nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến
việc hình thành các mục tiêu chiến lược và các chính sách trong kinh
doanh của doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc thực hiện
thành công chiến lược kinh doanh đã lựa chọn của doanh nghiệp”. Cho
nên hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào môi trường văn hoá trong doanh nghiệp;
- Các yếu tố mang tính chất vật lý và hoá học trong doanh nghiệp như:
“không khí, không gian, ánh sáng, độ ẩm, độ ổn, các hoá chất gây độc hại là
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian lao động, tới tinh thần và sức
khoẻ của lao động do đó nó ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng lao động của
doanh nghiệp, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới độ bền của máy móc thiết bị,
tới chất lượng sản phẩm. Vì vậy ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp”;
- Môi trường thông tin : “hệ thống trao đổi các thông tin bên trong
doanh nghiệp ngày càng lớn hơn bao gồm tất cả các thông tin có liên quan
đến từng bộ phận, từng phòng ban, từng người lao động trong doanh nghiệp
và các thông tin khác. Để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh thì
giữa các bộ phận, các phòng ban cũng như những ngưòi lao động trong doanh
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
12
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
nghiệp luôn có mối quan hệ ràng buộc đòi hỏi phải giao tiếp, phải liên lạc và
trao đổi với nhau các thông tin cần thiết. Hiệu quả các hoạt động sản xuất
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân tài sản cố định
đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
+ Chỉ tiêu lao động:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của mỗi người lao động vào
lợi nhuận.
+ Các tỷ số về khả năng hoạt động:
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản
của doanh nghiệp. Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài
sản khác nhau như tài sản lưu động, tài sản cố định. Do đó, các nhà phân tích
không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản mà còn
chú trọng tới hiêụ quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành tổng tài sản của
doanh nghiệp. Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu trong tính toán các tỷ
số này để xem xét khả năng hoạt động của doanh nghiệp.
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
14
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
+ Vòng quay tiền:
Tỷ số này được xác định bằng cách chia doanh thu trong năm cho tổng
Lãi sau thuế
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
15
Luận văn
GVHD: TS. Đỗ Thị Mai Thơm
Doanh lợi tiêu thụ
Doanh thu thuần
sản phẩm
Doanh lợi vốn chủ sở hữu- ROE ( Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ
sở hữu)
Lãi sau thuế
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn
ROE =
chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ
vốn đầu tư vào doanh nghiệp. Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục
tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp”.
1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xăng dầu, kinh doanh dịch vụ
hang hải:
1.2.1. Quá trình ra đời của Ngành Xăng Dầu Việt Nam:
“Năm 1858, quân đội Pháp mở đầu cuộc chiến xâm lược Việt Nam,
mức giá tương đối ổn định; biến động giá tuy chỉ theo xu hướng tăng song
mức tăng đều, không gây khó khăn nhiều cho sản xuất và tiêu dùng khi chủ
động hoạch định được ngân sách cho tiêu thụ xăng dầu hàng năm; (3)/ Ngân
sách Nhà nước tăng thu thông qua việc tận thu thuế nhập khẩu, phụ thu, phí
xăng dầu; (3)/ Doanh nghiệp có tích luỹ để đầu tư phát triển, định hình hệ
thống cơ sở vật chất, từ cầu cảng, kho đầu mối, kho trung chuyển, phương
tiện vận tải đến mạng lưới bán lẻ”.
“Mặc dù vậy, cơ chế quản lý - điều hành trong giai đoạn này cũng đã
bộc lộ khá rõ những nhược điểm mà nổi bật là tương quan giá bán giữa các
mặt hàng không hợp lý dẫn đến tiêu dùng lãng phí, nhà đầu tư không có đủ
thông tin để tính toán đúng hiệu quả đầu tư nên chỉ cần thay đổi cơ chế điều
hành giá sẽ làm ảnh hưởng rất lớn sử dụng nhiên liệu, nhiều nhà sản xuất
thậm chí đã phải thay đổi công nghệ do thay đổi nhiên liệu đốt (thay thế
madut, dầu hoả bằng than, trấu, gas); gian lận thương mại xuất hiện do định
giá thấp đối với mặt hàng chính sách (dầu hoả); Nhà nước giữ giá ổn định
trong một thời gian quá dài thoát ly giá thế giới tạo sức ỳ và tâm lý phản ứng
của người sử dụng về thay đổi giá mà không cần xét đến nguyên nhân và sự
cần thiết phải điều chỉnh tăng giá.
Ở cuối của giai đoạn này giá thế giới - nguồn - thị trường đã có dấu
hiệu biến động mạnh, ở mức cao hơn; các cân đối cung cầu và ngân sách, chỉ
tiêu tăng trưởng kinh tế và lạm phát…đều có nguy cơ bị phá vỡ khi tình trạng
đó kéo dài; trong khi chưa tìm được cơ chế điều hành thích hợp, vì mục tiêu
ổn định để phát triển kinh tế xã hội, Nhà nước đã sử dụng biện pháp bình ổn
giá, khởi đầu cho giai đoạn bù giá cho người tiêu dùng qua doanh nghiệp
nhập khẩu trong gần 10 năm tiếp theo”.
Học viên: Nguyễn Hải Hà
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
19
Lớp: QLKT 2014-1-nhóm4
20